Monday, June 14, 2021
VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
Nguyễn Trọng Phúc
Sự lãnh đạo của Ðảng trước hết ở sự bổ sung,
phát triển hoàn chỉnh hệ thống các quan điểm về cách mạng giải phóng dân tộc; ở
sự lựa chọn hình thức và phương pháp cách mạng phù hợp với điều kiện lịch sử cụ
thể; ở sự tổ chức xây dựng lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị và
lực lượng vũ trang; ở sự nhận thức tình thế và thời cơ cách mạng để đưa quần
chúng vào hành động cách mạng; ở sự chỉ đạo kiên quyết, tập trung, thống
nhất trong giờ phút có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi.
Ðể đưa cao trào giải phóng dân tộc (1939-1945)
đến thắng lợi bằng cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, có ba thời điểm lịch sử thể
hiện bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo đặc biệt của Ðảng ta: đó là
các hội nghị Trung ương từ cuối năm 1939 đến đầu năm 1941 phát triển hoàn
chỉnh, sáng tạo đường lối giải phóng dân tộc; những quyết sách quan trọng cuối
năm 1944 đầu năm 1945 thổi bùng lên cao trào kháng Nhật cứu nước; quyết định
Tổng khởi nghĩa của Hội nghị Ðảng toàn quốc tháng 8-1945.
Các Hội nghị Trung ương Ðảng (11-1939),
(11-1940) và nhất là Hội nghị Trung ương tám (5-1941) đã đề ra những quan
điểm và biện pháp cơ bản chỉ đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
GIÁ TRỊ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
GS.TS. Mạch Quang Thắng
Tư tưởng Hồ Chí Minh không những có tác động tích cực đối với
tiến trình lịch sử mà còn soi sáng con đường phát triển của dân tộc Việt Nam.
Đặc biệt, trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tư tưởng Hồ Chí Minh
đã khẳng định ý nghĩa và giá trị lý luận, thực tiễn, bởi đó là giá trị văn hóa
của dân tộc Việt Nam và cũng là một phần giá trị của văn hóa nhân loại. Việc
kiên định mục tiêu, con đường phát triển của dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh,
nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng là yêu cầu tất yếu trong quá trình
lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
“HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” - TÁC PHẨM ĐÁNH DẤU SỰ RA ĐỜI, MỘT THẾ GIỚI QUAN MỚI, MỘT QUAN NIỆM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ"
Đặng Hữu Toàn (*)
Trên cơ sở phân tích và luận giải
những luận điểm cơ bản mà lần đầu tiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra và trình
bày một cách tương đối hoàn chỉnh, có hệ thống, sâu sắc để trên cơ sở đó, xây
dựng một quan niệm mới, duy vật biện chứng về thế giới và về lịch sử nhân loại,
tác giả đã khẳng định rằng, cái làm nên giá trị trường tồn, sức sống bền vững
và ý nghĩa lịch sử lớn lao của “Hệ tư tưởng Đức” chính là thế giới quan duy vật
biện chứng và quan niệm duy vật về lịch sử. Bởi lẽ, đó là những thành tố đã làm
nên bước ngoặt cách mạng thực sự trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại,
tạo ra một phương pháp luận thực sự khoa học cho việc nghiên cứu tiến trình
phát triển của xã hội loài người và bước đầu đặt cơ sở lý luận cho chủ nghĩa xã
hội khoa học với tư cách kết quả có tính quy luật của tiến trình lịch sử khách
quan, một cuộc vận động hiện thực trên cơ sở và nền tảng kinh tế - xã hội phát
triển mà hiện đang được chúng ta lấy làm nền tảng tư tưởng, làm cơ sở lý luận
cho công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Lê Văn Quang(*)
Trong bài viết này, tác giả
khẳng định rằng, trong hàng loạt nhân tố tạo nên sự thành công của quá trình
đổi mới tư duy lý luận ở Việt Nam, triết học Mác - Lênin có vai trò đặc biệt
quan trọng. Theo tác giả, trong điều kiện hiện nay, triết học Mác - Lênin vẫn
giữ được tính khoa học và đúng đắn, vẫn giữ nguyên giá trị định hướng cho những
người cách mạng; nó giúp cho Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam nhận thức đúng
các vấn đề của thời đại có liên quan chặt chẽ đến đổi mới tư duy lý luận; đồng
thời, là cơ sở lý luận và phương pháp để tư duy đúng đắn về con đường phát
triển của cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả nhấn mạnh rằng, nắm vững
các vấn đề cơ bản của triết học mácxít và không ngừng hoàn thiện phương pháp tư
duy có ý nghĩa vô cùng to lớn trong đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy lý luận.
Saturday, June 12, 2021
Monday, June 7, 2021
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO BÁC VỀ "TRUNG THỰC" VÀ "TRÁCH NHIỆM"
Hoàng Anh
Chủ
tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về trung thực, trách nhiệm. Trung thực
và trách nhiệm với mình, với người, với việc được thể hiện trong tư tưởng và lẽ
sống của Người.
Tư tưởng Hồ chí Minh về trung thực, trách nhiệm
Trung
thực là thành thực với chính mình, với mọi người, với công việc; luôn tuân thủ
chuẩn mực đạo đức, chân thật trong từng lời nói và hành động. Đó là một trong
những phẩm chất quan trọng nhất, tạo nên định hướng giá trị nhân cách chân
chính. Tính trung thực giúp con người được tin cậy. Người trung thực không chấp
nhận gian dối trong bất kỳ việc gì. Trung thực làm nên tính tự trọng thẳng thắn
của cá nhân; tạo nên uy tín, sức mạnh cho tập thể. Sống trung thực đòi hỏi phải
dũng cảm và nghiêm khắc với chính bản thân. Do đó, trung thực luôn luôn gắn
liền với trách nhiệm.
Trung
thực là phẩm chất hàng đầu của cán bộ, đảng viên làm công tác lãnh đạo, quản
lý. Những người thiếu trung thực sớm muộn cũng bị phát hiện, làm mất lòng tin
của người khác. Người thiếu trung thực thì không thể duy trì mối quan hệ chặt
chẽ, lâu dài với những người xung quanh. “Một sự bất tín, vạn sự bất tin”. Để
củng cố, tăng cường lòng tin của nhân dân đối với lãnh đạo của Đảng, Nhà nước,
cần đề cao tính trung thực đi đôi với trách nhiệm của từng cấp ủy, tổ chức
đảng, cơ quan, đơn vị và mỗi đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ cương vị
lãnh đạo, quản lý.
Tuesday, May 4, 2021
BÁC HỒ VỚI VIỆC SỬ DỤNG NHÂN TÀI
Lần đầu tiên Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh là lúc ông cùng kiều bào ta ở Pháp ra sân bay đón Bác - năm 1946, khi ấy Người sang thăm nước Cộng hoà Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp.
Ông có vinh
dự được tham gia đoàn đại biểu thay mặt Hội Việt kiều tại Pháp đến thăm Bác,
nghe Bác kể về tình hình trong nước và đề nghị kiều bào ta báo cáo tình hình
hoạt động. Ông đã cùng với Bác đi thăm bà con Việt kiều, thăm Đảng Cộng sản
Pháp và các danh lam, thắng cảnh. Trong các cuộc đi thăm đó, Bác ăn mặc rất
giản dị. Bác đi dép cao su, nơi nào có sân sạch là bác ngồi xuống, nhân dân lao
động và trẻ em quây quần xung quanh Bác. Bà con Việt kiều ở Pháp lúc đó rất tin
tưởng ở Người.
Sau một thời
gian cùng Bác đi thăm các nơi, một hôm Bác nói với ông:
- Ngày kia
Bác về nước, chú có về cùng Bác?
Bác không
hỏi là ông có muốn về hay không. Tuy vậy, đối với ông, việc về nước đã được
chuẩn bị từ lâu, nên không có gì cập rập. Ngoài ông ra, còn có hai người cùng
về với Bác là: Võ Quy Huân và bác sĩ Trần Hữu Tước.
Bác cháu
cùng nhau về nước trên một chiếc tàu chiến của Pháp. Sau khi về nước một thời
gian ngắn, Bác giao cho ông chức Cục trưởng Cục quân giới.
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
Phạm
Huy Thông
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo
là những chỉ dẫn tuyệt vời mà ngày nay chúng ta còn phải tiếp tục đào sâu,
nghiên cứu kỹ. Bản thân Người cũng là mẫu mực của một cán bộ làm công tác tôn
giáo không những giỏi nghệ thuật quản lý mà còn giỏi về việc vận động đồng bào
có đạo với những phương thức linh hoạt.
Chúng ta đang tiến gần đến ngày kỷ niệm trọng đại: 65 năm thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2010). Sáu mươi lăm năm qua là quá trình xây dựng và trưởng thành của Nhà nước kiểu mới của dân, do dân và vì dân. Trong các thành tựu của Nhà nước Việt Nam có thành tích về công tác tôn giáo mà ưu điểm lớn nhất là vừa đảm bảo cho các sinh hoạt tôn giáo được diễn ra bình thường, tuân thủ luật pháp vừa tập hợp được đông đảo các tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân, chống lại âm mưu chia rẽ của kẻ thù. Đồng thời cũng làm cho các tôn giáo phát triển lành mạnh, gắn bó với cộng đồng dân tộc hơn. Đây là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, và phức tạp bởi nó không chỉ là quan hệ giữa Nhà nước với các tôn giáo mà còn là quan hệ giữa Đảng, chính quyền và các đoàn thể xã hội với nhân dân là các tín đồ tôn giáo. Nó cũng không chỉ bó hẹp trong nội bộ quốc gia mà còn có quan hệ quốc tế vì bản thân nhiều tôn giáo cũng mang tính quốc tế. Hơn nữa, vấn đề này luôn bị nhiều thế lực thù địch nhòm ngó, lợi dụng với những ý đồ kinh tế, chính trị khác. Tuy nhiên, công tác tôn giáo ở nước ta thời gian qua cũng bộc lộ những thiếu sót mà Nghị quyết 25- NQ/TW “về công tác tôn giáo” đã chỉ ra. Để khắc phục những thiếu sót này, chúng ta có thể tìm thấy những chỉ dẫn quý giá trong các di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Người.
QUYỀN CON NGƯỜI – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TRIẾT HỌC
Hoàng Công
Cho đến
nay, chúng ta phải thừa nhận rằng khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học
"kinh điển" nào về quyền con người. Ngay cả những nhà tư tưởng lớn
như Lôccơ, Rútxô… và sau này Mác, Engen, Lênin cũng không đưa ra một định nghĩa
nào về khái niệm này giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm
triết học khác.
Chúng ta thường chỉ thấy các định nghĩa kiểu như "quyền cái người là quyền…". Chẳng hạn, Lốccơ nói : "quyền tự nhiên của con người là quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu. Hiến pháp 1791 của Pháp viết : quyền con người – đó là " quyền tự do, sở hữu, được an toàn và chống lại áp bức". Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ 1776 viết: quyền con người – đó là "các quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
CÁC LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI
Có một sự liên kết không thể tránh khỏi giữa thế giới trừu tượng của lý thuyết và thế giới thực của chính sách. Chúng ta cần lý thuyết để hiểu được ý nghĩa của “cơn bão thông tin” đến với chúng ta mỗi ngày. Dù các nhà hoạch định chính sách là những người khinh thường “lý thuyết” nhưng họ cũng phải dựa vào những ý tưởng (thường không được nói ra) của riêng họ về việc thế giới vận hành như thế nào để đưa ra quyết định… Tất cả mọi người đều sử dụng lý thuyết dù họ có nhận ra điều đó hay không.
Stephen M. Walt – Nhà khoa học chính trị
Mặc dù nghiên cứu học thuật về quan hệ quốc tế là
tương đối mới nhưng các nỗ lực để lý thuyết hóa hành vi của các quốc gia đã có
từ thời cổ đại. Ví dụ tốt nhất có thể được tìm thấy ở Thucydides, sử gia người
Hy Lạp đã nghiên cứu về chiến tranh Peloponnese (431-404 TCN) giữa Sparta và
Athens. Thucydides tin rằng “sự hiểu biết về quá khứ” có thể là “sự giúp đỡ cho
các giải thích về tương lai”, và từ đó ông đã viết về lịch sử của cuộc chiến
“không phải là để giành được một tràng pháo tay vào lúc đó, mà coi nó như là
một tài sản cho mọi thời đại”. Nghiên cứu tình trạng chiến tranh như một
người bác sĩ đang chẩn đoán bệnh nhân, nghiên cứu lâm sàng chi tiết của ông
được ghi chép như một bài tập tình huống thể hiện các triệu chứng của giai đoạn
dễ xảy ra chiến tranh và đưa ra các dự đoán về kết quả có thể xảy ra của các
chính sách đối ngoại khác nhau.
VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Võ Thị Thúy Liễu
Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn
Tất Thành đã rời mãnh đất Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Người không chọn Nhật hay Trung Quốc như một số người yêu nước Việt Nam đã ra
đi, mà Người muốn đến phương Tây, sang chính nước Pháp - nước đang cai trị Việt
Nam. Sau đó, Người đi sang Châu Mỹ, đến nước Mỹ, Anh.
Sau 10 năm bôn ba ở nước ngoài (1911 - 1920), từ một người yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Người đã truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
GIÁ TRỊ BỀN VỮNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
PGS, TS
Đặng Quang Định
(LLCT) - Trong toàn bộ lịch sử tư tưởng nhân loại, không một tư tưởng nào, học thuyết nào về lịch sử có thể sánh kịp với chủ nghĩa Mác về phương diện khoa học và cách mạng. Bằng việc phát hiện ra những quy luật khách quan của sự vận động, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất và lịch sử loài người, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác đã chỉ ra cho giai cấp vô sản và nhân loại tiến bộ toàn thế giới con đường và biện pháp hiện thực để tự giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công và xây dựng một chế độ xã hội mới hướng đến sự giải phóng triệt để và phát triển toàn diện con người.
Wednesday, April 7, 2021
TƯ TƯỞNG CỦA V.I.LÊNIN VỀ TÔN GIÁO TRONG THỰC TIỄN VIỆT NAM HIỆN NAY
Lê Văn Lợi
Để tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc nghiên cứu, tiếp thu những giá trị tiến bộ trong các lý luận đương đại về tôn giáo, những giá trị phổ quát của nhân loại đạt được trong pháp luật quốc tế về quyền con người, điều cốt yếu nhất là phải tiếp tục nghiên cứu để quán triệt sâu sắc hơn quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, quan điểm của Lênin nói riêng về tôn giáo.
Cũng
như C.Mác và Ph.Ănghen, V.I.Lênin nghiên cứu tôn giáo không phải vì mục đích tự
thân, không nhằm xây dựng một hệ thống lý luận “thuần túy” về tôn giáo mà do
những đòi hỏi đặt ra từ thực tiễn của phong trào cách mạng. Bối cảnh nước Nga
vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX rất đặc biệt: trong khi CNTB đang
chuyển sang giai đoạn phát triển đế quốc chủ nghĩa thì nước Nga lúc đó mới chỉ
là nước tư bản có trình độ phát triển trung bình, song chế độ thống trị hết sức
thối nát; giai cấp tư sản cấu kết chặt chẽ với giai cấp địa chủ phong kiến bóc lột
nhân dân thậm tệ và sử dụng đạo Chính Thống để kìm kẹp, nô dịch tinh thần quần
chúng nhân dân. Run sợ trước phong trào cách mạng đang ngày một dâng cao, các
thế lực phản động tìm cách lôi kéo, kích động các hoạt động tôn giáo nhằm đánh
lạc hướng quần chúng, khiến họ xao nhãng với cuộc đấu tranh giành quyền tự do,
dân chủ. Lênin đã chỉ rõ âm mưu của các thế lực phản động: “Khắp nơi bọn tư bản
phản động đã chú trọng, và ở nước ta hiện nay chúng cũng bắt đầu chú trọng khêu
lên những sự hằn thù tôn giáo, để làm cho quần chúng chú ý về phía đó, khiến
cho họ không để ý đến vấn đề chính trị và kinh tế thật sự quan trọng và chủ
yếu”(1). Bên cạnh âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động,
sự hoang mang, dao động của một bộ phận người tham gia sau thất bại của cuộc
cách mạng 1905 đã làm xuất hiện trào lưu “tìm thần”, “tạo thần”, muốn kết hợp
giữa CNXH khoa học với niềm tin tôn giáo, coi CNXH là một loại tôn giáo. Các
trào lưu “tìm thần”, “tạo thần” gây tác hại lớn cho phong trào cách mạng, làm cho
quần chúng mất phương hướng. Lênin chỉ rõ các trào lưu này là một dạng biện hộ
cho thế lực phản động, là “độc tố ngọt ngào nhất và được che đậy khéo léo nhất
trong những viên kẹo bọc bằng đủ loại giấy màu sặc sỡ”(2), khiến quần chúng
nhân dân bị mê muội và cam chịu ách áp bức, bóc lột. Ngay trong Đảng Dân chủ -
Xã hội Nga cũng đã xuất hiện các quan niệm “hữu khuynh”, “tả khuynh” và cơ hội,
muốn thỏa hiệp với tôn giáo. Trong bối cảnh đó, Lênin đã tích cực truyền bá và
đấu tranh nhằm khẳng định tính khoa học của các quan điểm của C.Mác, Ph.Ănghen
về tôn giáo. Người đã viết nhiều bài về tôn giáo như: Chủ nghĩa xã hội và tôn
giáo; Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo; Thái độ của giai cấp và
của các đảng phái đối với tôn giáo, v.v.. trong đó Người đã luận giải, làm sâu
sắc thêm nhiều khía cạnh liên quan đến vấn đề tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn
giáo.
Tuesday, April 6, 2021
MỘT SỐ SO SÁNH QUYỀN CON NGƯỜI VỚI QUYỀN CÔNG DÂN
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
TCCSĐT - Quyền con người và quyền công dân là những nội dung quan trọng
của Hiến pháp. Việc chế định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân bảo đảm được tính khoa học về kỹ thuật lập hiến; tạo thuận lợi cho
việc hiểu và thực thi quyền con người và quyền công dân trên thực tế là yêu cầu
khách quan.
Điều 50 Hiến pháp năm 1992 xác định "Ở nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh
tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy
định trong Hiến pháp và luật”. Như vậy, lần đầu tiên Hiến pháp năm 1992 đã thừa
nhận cả hai khái niệm quyền con người, quyền công dân, nhưng chưa có sự phân
định rạch ròi: đâu là quyền và nghĩa vụ của con người nói chung và đâu là quyền
và nghĩa vụ của công dân. Nội hàm khái niệm quyền con người được thu nạp vào
nội hàm của phạm trù quyền công dân.
Để khắc phục nhược điểm trên, Điều 15 (sửa đổi, bổ
sung Điều 50) thuộc CHƯƠNG II: QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA
CÔNG DÂN trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xác định: 1. Ở nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được Nhà nước và xã
hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Việc xác
định: "Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ quyền con người và
quyền công dân” là để bảo đảm tính khoa học về kỹ thuật lập hiến cho việc thực
hiện cả hai quyền này. Tuy vậy, thuật ngữ "bảo đảm” được xác định trong
điều này liền sau việc đã "thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ” là chưa bảo đảm
được tính khoa học của luật pháp quốc tế, vì bản thân nội hàm của thuật ngữ
"bảo đảm” đã gồm các hàm nghĩa: thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện
(hai quyền này trên thực tế).
Việc chế định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân, do đó, chưa thực sự bảo đảm được tính khoa học về kỹ thuật
lập hiến; từ đó có thể gây rào cản cho việc hiểu và thực thi quyền con người và
quyền công dân trên thực tế. Từ thực tế trên đây cần thiết phải làm rõ và so
sánh quyền con người và quyền công dân để chế định trong Hiến pháp cho phù hợp.
CÁC LÝ THUYẾT TRUYỀN THÔNG CHÍNH TRỊ VÀ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn
Thị Thúy Hằng
(LLCT) - Những thay đổi kinh tế, xã hội dưới
thời cách mạng công nghiệp ở châu Âu đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về thông
tin cho xã hội, tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông và những lý
thuyết cơ bản. Đặc biệt, từ sau Chiến tranh thế giới thứ II đến cuối thế kỷ XX,
các lý thuyết truyền thông ngày càng được nghiên cứu sâu trong khoa học xã hội
và được ứng dụng trong nhiều mô hình quản lý truyền thông.
1. “Bốn học thuyết truyền thông”
Công
trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hệ thống phương tiện truyền thông và
đời sống chính trị quốc tế Bốn học thuyết truyền thông (Four Theories of the
Press)của Siebert, Peterson, và Schramm (1956), đã chỉ ra rằng các mô hình
truyền thông khác nhau bắt nguồn từ sự khác biệt của cấu trúc chính trị và kinh
tế; nghiên cứu phương tiện truyền thông phải bắt đầu từ nghiên cứu về bản chất
của nhà nước, hệ thống chính trị, mối quan hệ giữa lợi ích chính trị và kinh
tế, và các yếu tố của cấu trúc xã hội.
Các
ông đã phân thành bốn học thuyết: Thuyết Độc đoán; Thuyết Tự do; Thuyết Trách
nhiệm xã hội và Thuyết Toàn trị Xôviết.
SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
Trần Trang
Hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng
hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường
cứu nước theo lối cũ thì ngày 5/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức
là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước theo phương
hướng mới. Người đã đi qua nhiều nước của châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã phát
hiện ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi
đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc
địa.
































