Tuesday, August 5, 2025
Wednesday, May 7, 2025
Friday, March 7, 2025
Monday, December 2, 2024
Friday, October 4, 2024
Tuesday, July 9, 2024
Wednesday, May 1, 2024
Friday, February 2, 2024
Monday, December 4, 2023
Monday, October 2, 2023
Monday, July 3, 2023
Thursday, May 4, 2023
Wednesday, March 1, 2023
LIÊN HỢP QUỐC CẢNH BÁO VỀ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI
LIÊN HỢP QUỐC CẢNH BÁO VỀ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI
Xuân Vinh
QĐND - Theo báo cáo do
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3, thế giới
tuy đã đạt được một số tiến bộ trong việc thu hẹp tình trạng bất bình đẳng giới
trong 20 năm qua, song nữ giới vẫn có ít cơ hội tiếp cận việc làm hơn, có xu
hướng phải chấp nhận những việc làm chất lượng thấp nhiều hơn và phải đối diện
với nhiều rào cản trong bổ nhiệm vào các chức vụ quản lý.
Báo cáo "Triển vọng Xã hội và việc làm của thế giới: Những
xu hướng cho phụ nữ năm 2018-khái quát" của Liên hợp quốc (LHQ) cho thấy,
tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động toàn cầu là 48,5% trong năm 2018, thấp
hơn 26,5% so với tỷ lệ của nam giới. Báo cáo cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp
của phụ nữ trên toàn thế giới là 6% trong năm 2018, cao hơn khoảng 0,8% so với
tỷ lệ của nam giới. Tính trung bình, cứ 10
nam giới có việc làm thì chỉ có 6 phụ nữ được tuyển dụng.
Trên phạm vi toàn thế giới, thu nhập trung bình của phụ nữ thấp
hơn nam giới tới 23%. Với tốc độ hiện tại, thế giới sẽ cần tới 70 năm để chấm
dứt tình trạng này và lúc đó hai giới sẽ có mức thu thập ngang nhau. Ngày
7-3, Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) cho biết, thu nhập trung bình của phụ
nữ tại các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) thấp hơn nam giới khoảng 16%
trong năm 2016. Cụ thể, nếu nam giới kiếm được 1 euro trong một giờ làm việc,
con số này ở nữ giới chỉ được trung bình là 84 cent. Tại châu Âu, Đức và Anh
đứng đầu về mức chênh lệch trong thu nhập giữa nam và nữ-lên tới 21%. Romania,
Italy và Luxembourg ghi nhận số liệu tích cực hơn (5%) trong khi tại Pháp, một
nền kinh tế lớn khác của châu Âu, phụ nữ thu nhập kém nam giới 14%.
Friday, January 6, 2023
BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM, THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trương Thị Điệp
(LĐXH) - Bình đẳng giới
là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước dành sự ưu tiên đặc biệt. Những nỗ lực
trong việc thực hiện bình đẳng giới của Việt Nam đã mang lại nhiều thành tựu to
lớn được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả
đạt được vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần sự vào cuộc của chính quyền, sự
tham gia của toàn dân để khắc phục.
1. Bình đẳng giới, vấn đề được Đảng và Nhà nước quan
tâm đặc biệt
Bình đẳng giới là một trong những quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân Việt Nam được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm
pháp luật và trong các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Theo Khoản 3, Điều 5 Luật Bình đẳng giới thì: “
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều
kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của
gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.”
Có thể nói, mục tiêu bình đẳng giới hiện là mối
lưu tâm hàng đầu của các quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung.
Ngay từ thời điểm năm 1955, Liên hợp quốc đã thống nhất quan điểm và thông qua
Chương trình hành động giới, lồng ghép giới tại Hội nghị quốc tế về phụ nữ, lần
thứ tư tại Bắc Kinh (Trung Quốc); vào năm 1979 tiếp tục thông qua Công ước quốc
tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ và mục tiêu thiên
niên kỷ thứ ba cũng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Đại
hội đồng Liên hợp quốc cũng đã quyết định đặt ra nhiều ngày lễ quốc tế, nhiều
sự kiện trọng đại vì mục tiêu bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Điều
này cho thấy sự ưu tiên đặc biệt của cộng đồng quốc tế về vấn đề bình đẳng
giới.
Việt Nam là một trong những quốc gia sớm dành
cho công tác bình đẳng giới những ưu tiên nhất định. Cụ thể, trong Hiến pháp
đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Hiến pháp năm 1946, tại Điều 9 đã
đề cập thẳng đến quyền bình đẳng nam nữ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên
mọi phương diện”. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong di chúc, Người cũng trăn trở về
vai trò và vị trí của người phụ nữ: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch
thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng có thêm nhiều phụ nữ
phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng
vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”. Và
vấn đề này đã được thể chế hóa thành các văn bản Luật như Luật Bình đẳng giới
năm 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành các chương
trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai
đoạn 2016 – 2020, Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia
đình đến năm 2020... để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay chính trong gia đình của
họ.
2. Bình đẳng giới ở Việt
Nam, thành tựu và thách thức
2.1. Bức tranh có nhiều
“gam màu” sáng
Để hiện thực hoá chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiều dự án đã triển khai thiết lập
các mô hình góp phần thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới như: phòng chống bạo lực
gia đình tại cộng đồng rất thành công ở Huế, Hải Phòng, Ninh Bình… Điển hình
như ở Đà Nẵng, việc ra đời và duy trì các câu lạc bộ “cha mẹ học sinh phòng,
chống bạo lực gia đình” tại phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu và “nam giới
tiên phong trong phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em” tại
xã Hòa Phong, Hòa Khương thuộc huyện Hòa Vang đã thu hút được sự tham
gia của đông đảo người dân.Trên cơ sở đó, phải nói rằng không có nhiều quốc
gia mà hoạt động, biện pháp thực hiện bình đẳng giới được đưa thành chương
trình hoạt động cụ thể ở từng tỉnh, thành, địa phương và đạt được nhiều thành
tựu như ở Việt Nam.
Về chính trị, nữ giới Việt Nam có tổ chức chính trị riêng, đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Và tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam luôn thuộc nhóm có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung và tỷ lệ này ngày càng tăng. Điển hình, quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng”[1] thì tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội luôn duy trì ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng lên. Cụ thể: từ 3% ở Quốc hội khóa I tăng lên 24,4% ở khóa VIII (2011 - 2016) và tỷ lệ này là 26,72% với 133 nữ đại biểu Quốc hội trên tổng số 496 đại biểu ở khóa XIV(2016 - 2021). Hay trong bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở nhiều địa phương tỷ lệ phụ nữ trúng cử vượt dự kiến như: Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt 43%; Đại biểu Hội đồng nhân dân quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt gần 45%.[2]















