Showing posts with label Giới trong LĐQL. Show all posts
Showing posts with label Giới trong LĐQL. Show all posts

Wednesday, March 1, 2023

LIÊN HỢP QUỐC CẢNH BÁO VỀ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

LIÊN HỢP QUỐC CẢNH BÁO VỀ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

 Xuân Vinh

QĐND - Theo báo cáo do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3, thế giới tuy đã đạt được một số tiến bộ trong việc thu hẹp tình trạng bất bình đẳng giới trong 20 năm qua, song nữ giới vẫn có ít cơ hội tiếp cận việc làm hơn, có xu hướng phải chấp nhận những việc làm chất lượng thấp nhiều hơn và phải đối diện với nhiều rào cản trong bổ nhiệm vào các chức vụ quản lý.

Báo cáo "Triển vọng Xã hội và việc làm của thế giới: Những xu hướng cho phụ nữ năm 2018-khái quát" của Liên hợp quốc (LHQ) cho thấy, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động toàn cầu là 48,5% trong năm 2018, thấp hơn 26,5% so với tỷ lệ của nam giới. Báo cáo cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của phụ nữ trên toàn thế giới là 6% trong năm 2018, cao hơn khoảng 0,8% so với tỷ lệ của nam giới. Tính trung bình, cứ 10 nam giới có việc làm thì chỉ có 6 phụ nữ được tuyển dụng.

Trên phạm vi toàn thế giới, thu nhập trung bình của phụ nữ thấp hơn nam giới tới 23%. Với tốc độ hiện tại, thế giới sẽ cần tới 70 năm để chấm dứt tình trạng này và lúc đó hai giới sẽ có mức thu thập ngang nhau. Ngày 7-3, Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) cho biết, thu nhập trung bình của phụ nữ tại các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) thấp hơn nam giới khoảng 16% trong năm 2016. Cụ thể, nếu nam giới kiếm được 1 euro trong một giờ làm việc, con số này ở nữ giới chỉ được trung bình là 84 cent. Tại châu Âu, Đức và Anh đứng đầu về mức chênh lệch trong thu nhập giữa nam và nữ-lên tới 21%. Romania, Italy và Luxembourg ghi nhận số liệu tích cực hơn (5%) trong khi tại Pháp, một nền kinh tế lớn khác của châu Âu, phụ nữ thu nhập kém nam giới 14%.

Friday, January 6, 2023

BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM, THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


Trương Thị Điệp

(LĐXH) - Bình đẳng giới là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước dành sự ưu tiên đặc biệt. Những nỗ lực trong việc thực hiện bình đẳng giới của Việt Nam đã mang lại nhiều thành tựu to lớn được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần sự vào cuộc của chính quyền, sự tham gia của toàn dân để khắc phục.

1.  Bình đẳng giới, vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt

Bình đẳng giới là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và trong các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Theo Khoản 3, Điều 5 Luật Bình đẳng giới thì: “ Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.”

Có thể nói, mục tiêu bình đẳng giới hiện là mối lưu tâm hàng đầu của các quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung. Ngay từ thời điểm năm 1955, Liên hợp quốc đã thống nhất quan điểm và thông qua Chương trình hành động giới, lồng ghép giới tại Hội nghị quốc tế về phụ nữ, lần thứ tư tại Bắc Kinh (Trung Quốc); vào năm 1979 tiếp tục thông qua Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ và mục tiêu thiên niên kỷ thứ ba cũng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng đã quyết định đặt ra nhiều ngày lễ quốc tế, nhiều sự kiện trọng đại vì mục tiêu bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Điều này cho thấy sự ưu tiên đặc biệt của cộng đồng quốc tế về vấn đề bình đẳng giới.

Việt Nam là một trong những quốc gia sớm dành cho công tác bình đẳng giới những ưu tiên nhất định. Cụ thể, trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Hiến pháp năm 1946, tại Điều 9 đã đề cập thẳng đến quyền bình đẳng nam nữ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong di chúc, Người cũng trăn trở về vai trò và vị trí của người phụ nữ: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng có thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”. Và vấn đề này đã được thể chế hóa thành các văn bản Luật như Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành các chương trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020... để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay chính trong gia đình của họ.

2. Bình đẳng giới ở Việt Nam, thành tựu và thách thức

2.1. Bức tranh có nhiều “gam màu” sáng

 Để hiện thực hoá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiều dự án đã triển khai thiết lập các mô hình góp phần thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới như: phòng chống bạo lực gia đình tại cộng đồng rất thành công ở Huế, Hải Phòng, Ninh Bình… Điển hình như ở Đà Nẵng, việc ra đời và duy trì các câu lạc bộ “cha mẹ học sinh phòng, chống bạo lực gia đình” tại phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu và “nam giới tiên phong trong phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em” tại xã Hòa Phong, Hòa Khương thuộc huyện Hòa Vang đã thu hút được sự tham gia của đông đảo người dân.Trên cơ sở đó, phải nói rằng không có nhiều quốc gia mà hoạt động, biện pháp thực hiện bình đẳng giới được đưa thành chương trình hoạt động cụ thể ở từng tỉnh, thành, địa phương và đạt được nhiều thành tựu như ở Việt Nam.

Về chính trị, nữ giới Việt Nam có tổ chức chính trị riêng, đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Và tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam luôn thuộc nhóm có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung và tỷ lệ này ngày càng tăng. Điển hình, quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng”[1] thì tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội luôn duy trì ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng lên. Cụ thể: từ 3% ở Quốc hội khóa I tăng lên 24,4% ở khóa VIII (2011 - 2016) và tỷ lệ này là 26,72% với 133 nữ đại biểu Quốc hội trên tổng số 496 đại biểu ở khóa XIV(2016 - 2021). Hay trong bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở nhiều địa phương tỷ lệ phụ nữ trúng cử vượt dự kiến như: Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt 43%; Đại biểu Hội đồng nhân dân quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt gần 45%.[2]