Tóm tắt: Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”() là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư duy đổi mới, phản ánh nhận thức ngày càng đầy đủ, khoa học và thực tiễn về vai trò của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau hơn 1 năm triển khai thực hiện, các thế lực thù địch vẫn không ngừng tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ trương đúng đắn này. Nhận diện, đấu tranh, phản bác với những luận điệu đó chính là giải pháp thiết thực, góp phần tiếp tục đưa Nghị quyết vào cuộc sống.
Từ khóa: kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 68-NQ/TW, xã hội chủ nghĩa
1. Đặt vấn đề
Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế tư nhân” đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn gần 40 năm Đổi mới, đồng thời kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thời gian qua, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được đẩy mạnh, phát triển kinh tế tư nhân đã trở thành một trong những chủ trương lớn, xuyên suốt, nhất quán của Đảng. Tuy nhiên, chính vì vị trí và vai trò ngày càng được khẳng định, khu vực này trở thành “điểm ngắm”, thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo, công kích chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
2. Nội dung
2.1. Kinh tế tư nhân là “điểm ngắm” xuyên tạc của các thế lực thù địch
Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, núp bóng các luận điệu tưởng chừng “hợp lý” như “tự do hóa kinh tế”, “hội nhập theo chuẩn quốc tế”, hay “bảo vệ quyền tự do kinh doanh”, các thế lực thù địch liên tục tung ra các quan điểm sai trái, cố tình đồng nhất kinh tế tư nhân với kinh tế tư bản chủ nghĩa nhằm xuyên tạc bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ đó, chúng quy kết rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang “chệch hướng xã hội chủ nghĩa”, thúc đẩy “tư nhân hóa nền kinh tế”, “xa rời mục tiêu công bằng, tiến bộ xã hội”.
Nguy hiểm hơn, chúng còn lợi dụng những hạn chế, bất cập trong thực tiễn để quy chụp là sai lệch bản chất chính sách. Khi xuất hiện một số hiện tượng tiêu cực như trốn thuế, đầu cơ đất đai, ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo… chúng lập tức thổi phồng và quy kết đó là hệ quả tất yếu của việc phát triển kinh tế tư nhân, coi đó như “bằng chứng” chứng minh Đảng đã “đi sai đường”, “mất định hướng”. Thậm chí, chúng khẳng định một cách phiến diện rằng, phát triển kinh tế tư nhân là “tư bản thân hữu”, làm trầm trọng thêm bất bình đẳng xã hội, đi ngược lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Không dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn kích động mâu thuẫn, tạo ra sự đối lập giả tạo giữa các khu vực kinh tế, đặc biệt là giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Chúng lan truyền luận điệu sai trái rằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân sẽ làm “lu mờ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước”, “xóa nhòa tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế”, thậm chí xuyên tạc rằng “Nhà nước đang mất dần quyền kiểm soát các nguồn lực chiến lược vào tay tư nhân”. Một số phần tử cơ hội chính trị còn lợi dụng danh nghĩa “phản biện xã hội” để cổ súy cho quan điểm “tư nhân hóa toàn diện”, “giải phóng kinh tế khỏi sự quản lý của Nhà nước”, thực chất là phủ nhận vai trò điều tiết, định hướng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từng bước hướng tới phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Ngoài ra, các luận điệu xuyên tạc còn cho rằng việc phát triển kinh tế tư nhân là “sự thoái hóa tư tưởng”, “sự thỏa hiệp với chủ nghĩa tư bản”, “dấu hiệu của tự chuyển hóa”. Trên không gian mạng, nhiều bài viết, video, hay “bình luận chính trị” giả danh học giả đã lợi dụng vấn đề kinh tế tư nhân để công kích nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nhiều thành phần. Mục đích của chúng là làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, gây nghi ngờ trong xã hội, tạo tâm lý dao động, hoài nghi, từng bước thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực tư tưởng - chính trị.
Rõ ràng, những luận điệu sai trái này công kích trực diện vào chính sách phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi Đảng ta đã có những bước phát triển mới về nhận thức lý luận, được thể hiện rõ qua Nghị quyết số 68-NQ/TW. Các thế lực thù địch đã biến sự khẳng định “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” trở thành “cái cớ” để tiếp tục bóp méo, xuyên tạc, cho rằng Đảng đã thay đổi lập trường, đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Thực chất, những luận điệu này không xuất phát từ sự “phản biện khoa học” hay “góp ý chính sách”, mà là âm mưu chính trị có tính hệ thống, tấn công vào nền tảng tư tưởng, phá hoại niềm tin của nhân dân và làm suy yếu tính chính danh sự lãnh đạo của Đảng. Chúng không chỉ phủ nhận vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân, mà sâu xa hơn là phủ nhận mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và con đường phát triển mà Đảng ta đã lựa chọn.
2.2. Bước tiến của tư duy đổi mới, không “chệch hướng” xã hội chủ nghĩa
Là bộ phận của nền kinh tế quốc dân, kinh tế tư nhân được hình thành trên cơ sở tư hữu về tư liệu sản xuất, trong đó các cá nhân hoặc nhóm cá nhân giữ vai trò chủ sở hữu, trực tiếp tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh. Xét về cấu trúc, khu vực này bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận nhưng chịu sự điều tiết của pháp luật và định hướng phát triển của Nhà nước. Đây là khu vực kinh tế có tính đa dạng cao về quy mô, hình thức sở hữu và phương thức tổ chức sản xuất, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và hội nhập quốc tế. “Xét về mặt quan hệ sở hữu, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đều thuộc cùng loại hình sở hữu tư nhân”().
Khi bàn luận về bản chất và quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tuy C. Mác và Ph. Ăng-ghen chưa đề cập đến khái niệm kinh tế tư nhân như cách hiểu hiện nay, nhưng những phạm trù gắn liền như “sở hữu tư nhân”, “chế độ chiếm hữu tư bản chủ nghĩa” và “lao động tư nhân” đã được luận giải. Theo đó, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chính là nguồn gốc sinh ra quan hệ bóc lột - bản chất giai cấp của chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, C. Mác và Ph. Ăng-ghen cũng nhìn nhận biện chứng rằng, giai cấp tư sản và nền sản xuất dựa trên sở hữu tư nhân có vai trò lịch sử quan trọng trong việc phá vỡ những ràng buộc phong kiến, giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho tiến bộ xã hội. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848), hai ông viết: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”(). Việc xóa bỏ chế độ tư hữu không thể thực hiện một cách đột ngột khi lực lượng sản xuất chưa đạt đến trình độ phát triển tương ứng, Ph. Ăng-ghen đặt câu hỏi: “Liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không?” và khẳng định: “Không, không thể được, cũng y như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu... và chỉ khi nào đã tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu”(). Nghĩa là, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chế độ sở hữu tư nhân vẫn có thể tồn tại dưới sự định hướng, kiểm soát và được cải tạo bởi nhà nước của giai cấp vô sản, cho đến khi lực lượng sản xuất phát triển đủ để thay thế nó bằng những quan hệ sản xuất tiến bộ hơn.
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, V.I. Lê-nin và Đảng Bônsêvích khẳng định, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước như “mắt xích trung gian quan trọng” trong quá tiến lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1921, trong tác phẩm Bàn về thuế lương thực, ông viết “Chúng ta hãy kể ra những thành phần kinh tế ấy: 1) kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên; 2) sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì); 3) chủ nghĩa tư bản tư nhân; 4) chủ nghĩa tư bản nhà nước; 5) chủ nghĩa xã hội”(). Không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân, V.I. Lê-nin còn nhấn mạnh vai trò khôi phục nền sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất của khu vực này trong thời kỳ quá độ.
Chính sách Kinh tế mới của V.I. Lê-nin là minh chứng cho tư duy thực tiễn, linh hoạt và biện chứng về vai trò của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ông chủ trương mở rộng phạm vi hoạt động có kiểm soát của khu vực tư nhân, cho phép tự do buôn bán, khuyến khích sản xuất hàng hóa, nhằm nhanh chóng khôi phục kinh tế sau nội chiến và nạn đói. Trong điều kiện nền kinh tế còn khó khăn, cần chấp nhận và sử dụng chủ nghĩa tư bản ở mức độ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, trao đổi hàng hóa của đông đảo nông dân và các chủ thể kinh tế tư nhân. Đồng thời, chủ trương thu hút tư bản nước ngoài thông qua các hình thức như tô nhượng, cho thuê xí nghiệp, hầm mỏ, rừng, đất đai, mỏ dầu hoặc ký kết các hợp đồng thương mại với các nước tư bản phát triển nhằm khôi phục sản xuất, thúc đẩy công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tiếp nhận máy móc, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế(). V.I. Lê-nin khẳng định “Chính quyền Xô viết mời các nhà tư bản nước ngoài nào muốn có các tô nhượng ở nước Nga”() và “Tất cả các đồng chí đều phải làm kinh tế. Bên cạnh các đồng chí sẽ có những nhà tư bản, cũng sẽ có những nhà tư bản nước ngoài… Họ sẽ làm giàu bên cạnh các đồng chí. Cứ để cho họ làm giàu; còn các đồng chí thì sẽ học ở bọn họ cách quản lý kinh tế, chỉ có như thế, các đồng chí mới xây dựng được nước cộng hòa cộng sản chủ nghĩa”(). Chính sách này đã tạo nên “cú hích” mạnh mẽ đối với lực lượng sản xuất, thúc đẩy giao thương, khơi dậy tính năng động của người lao động, đồng thời tăng cường tiềm lực vật chất cho Nhà nước Xô-viết non trẻ.
Không phải “bước lùi” về tư tưởng, mà đây là phương pháp, cách thức để đi lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường thực tiễn, khả thi nhất. V.I. Lê-nin khẳng định: “Phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc đi qua chủ nghĩa tư bản nhà nước để tiến lên chủ nghĩa xã hội… bằng cách khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng sự quan tâm thiết thân của cá nhân, bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh tế”(). Tư tưởng này phản ánh tầm nhìn vượt thời đại khi khẳng định việc sử dụng có chọn lọc các yếu tố của kinh tế tư nhân và cơ chế thị trường không hề đi ngược với định hướng xã hội chủ nghĩa, mà trái lại, là bước đi tất yếu để phát triển lực lượng sản xuất, tạo tiền đề vật chất để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vững mạnh và hiện đại.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành những quan điểm sâu sắc, mang tính thực tiễn cao về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, trong bối cảnh đất nước phải đối mặt đồng thời với giặc đói, dốt và ngoại xâm, Người chủ trương huy động mọi tiềm lực của các thành phần kinh tế, coi đó là điều kiện sống còn để khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, củng cố nền độc lập non trẻ.
Bấy giờ, theo Người, kết cấu của nền kinh tế gồm: “Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc ít có gì bán và cũng ít khi mua gì... Kinh tế tư bản của tư nhân. Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế. Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội”(). Cách phân loại đó thể hiện tư duy biện chứng và linh hoạt trong việc thừa nhận sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, đồng thời xác định rõ vai trò của từng khu vực trong tiến trình phát triển.
Thực tiễn cho thấy, nhận thức và chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với kinh tế tư nhân đã có những chuyển biến căn bản, phản ánh sự đổi mới tư duy phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước. Trước Đổi mới, chính sách kinh tế thời kỳ này đặt trọng tâm vào kinh tế quốc doanh và tập thể, coi đây là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, trong khi khu vực kinh tế tư nhân chỉ được tồn tại ở phạm vi nhỏ lẻ, mang tính bổ trợ. Từ sau Đại hội VI, quan điểm của Đảng đã có bước chuyển rõ rệt khi “coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”().
Hội nghị Trung ương 5 khóa IX của Đảng thể hiện rõ bước ngoặt tư duy với Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 18-3-2002, “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” với nhiều giải pháp quan trọng khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân. Đây là sự thay đổi căn bản về nhận thức, đặt nền tảng cho việc khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển trong khuôn khổ pháp luật và cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội X của Đảng chính thức khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Cụ thể hóa chủ trương đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Quy định số 15-QĐ/TW, ngày 28-8-2006, “Về đảng viên làm kinh tế tư nhân”; Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 9-12-2011, “Về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Đặc biệt, đến Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, lần đầu tiên kinh tế tư nhân được xác định là “một động lực quan trọng để phát triển kinh tế”(), đánh dấu bước tiến quan trọng trong tư duy phát triển.
Đến Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là người lao động”(). Tiếp đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW nhấn mạnh kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững”(). Có thể thấy, Nghị quyết số 68-NQ/TW là nghị quyết triển khai toàn diện về phát triển kinh tế tư nhân, mở ra bước chuyển quan trọng trong tư duy và chính sách phát triển kinh tế tư nhân, chuyển từ việc “thừa nhận” sang “bảo vệ, khuyến khích và thúc đẩy phát triển”, từ vai trò “bổ trợ” sang “dẫn dắt phát triển”. Đây thật sự là bước tiến đột phá về tư duy phát triển, trở thành cuộc “cách mạng về tư duy và thể chế” cho kinh tế tư nhân, tạo lập và củng cố niềm tin, thúc đẩy khu vực này vươn lên, bứt phá; là sự lựa chọn chiến lược đúng đắn, cấp thiết, mang tầm nhìn dài hạn, nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường vào giữa thế kỷ XXI.
Tại Đại hội XIV, Đảng ta tiếp tục khẳng định, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, “phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”(). Thực tiễn gần 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới đã chứng minh cho khẳng định này. Điển hình, giai đoạn 2016 - 2025, số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng từ 488.395 doanh nghiệp lên 940.000 doanh nghiệp; số lượng hộ kinh doanh (cơ sở sản xuất phi nông nghiệp) tăng từ 4,909 triệu hộ lên trên 5 triệu hộ. Hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới().Trong bài viết “Phát triển kinh tế tư nhân - Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng”, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Kinh tế tư nhân phải là lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới”, “Kinh tế tư nhân cần phấn đấu trở thành lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo”().
Như vậy, cần khẳng định rằng, sự phát triển của kinh tế tư nhân là tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của lực lượng sản xuất, đồng thời là minh chứng rõ ràng cho tính đúng đắn của đường lối Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Nếu coi sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân là “từ bỏ chủ nghĩa xã hội” như một số luận điệu xuyên tạc, thì điều đó hoàn toàn sai lầm và phản khoa học. Ngược lại, chính sự lớn mạnh của khu vực này đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, khẳng định tính đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo trong tư duy phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.
2.3. Giải pháp để Nghị quyết số 68-NQ/TW tiếp tục thấm sâu, lan toả mạnh mẽ vào đời sống
Quán triệt quan điểm “kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng”(), để hiện thực hóa mục tiêu khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55-58% GDP vào năm 2030 và 60% GDP vào năm 2045, thời gian tới, bên cạnh các giải pháp, nhiệm vụ đã triển khai, chúng ta nên quan tâm một số giải pháp sau:
Một là, tăng cường truyền thông chính sách theo hướng khách quan, minh bạch; kịp thời phát hiện, biểu dương các mô hình tốt, cách làm hiệu quả; đi đôi với siết chặt kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn “chủ nghĩa thân hữu”, lợi ích nhóm và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Qua đó, tạo dựng niềm tin thị trường, hình thành môi trường kinh doanh thực sự minh bạch, bình đẳng và lành mạnh.
Hai là, hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Cần rà soát, sửa đổi các quy định chồng chéo, lỗi thời; thu hẹp tối đa cơ chế “xin - cho”; chuyển mạnh sang điều tiết bằng công cụ thị trường, tiêu chuẩn và minh bạch thông tin. Xây dựng khung pháp lý khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo hộ quyền tài sản và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Đề cao trách nhiệm dự báo và phản ứng chính sách của các bộ, ngành, địa phương, bảo đảm pháp luật “đi trước một bước” để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Ba là, cải cách thủ tục hành chính, tăng tốc số hoá. Chuẩn hóa quy trình “một cửa” điện tử từ đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan đến bảo hiểm xã hội; cắt giảm thực chất thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Tiếp tục tinh gọn bộ máy, nâng chuẩn trách nhiệm công vụ, tăng cường kỷ luật giải trình và thanh tra dựa trên rủi ro. Triển khai quyết liệt các chương trình hành động của Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân để chính quyền thực sự trở thành đối tác đồng hành cùng doanh nghiệp.
Bốn là, phát triển hệ sinh thái cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và khởi nghiệp. Thiết kế gói hỗ trợ có mục tiêu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup sáng tạo tiếp cận vốn (bảo lãnh tín dụng, quỹ đầu tư mạo hiểm), đất đai, hạ tầng số, tư vấn pháp lý - quản trị, và kết nối thị trường. Mở rộng cơ hội để khu vực kinh tế tư nhân tham gia các dự án quan trọng của quốc gia, chuỗi cung ứng hạ tầng và nhiệm vụ khoa học - công nghệ trọng điểm thông qua đặt hàng công, đấu thầu linh hoạt, ưu đãi có điều kiện gắn với hiệu quả và tính minh bạch.
Năm là, nâng cao năng suất dựa trên công nghệ và công nghiệp chế biến, chế tạo. Định hướng hỗ trợ vào các mắt xích tạo giá trị gia tăng cao như R&D, thiết kế, logistics thông minh và công nghiệp hỗ trợ. Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, làm chủ quy trình, tích lũy tri thức để tiến tới tự thiết kế - tự chế tạo. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu chuỗi giá trị toàn cầu, áp dụng quản trị hiện đại, chuẩn ESG và kinh tế tuần hoàn nhằm vừa tăng năng suất lao động, vừa bảo đảm phát triển bền vững.
Phát triển kinh tế tư nhân không phải là “nới lỏng” định hướng, mà là nâng cấp năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi nhận thức được thống nhất, pháp luật thông suốt, thủ tục tinh gọn, hệ sinh thái hỗ trợ hiệu quả và năng suất được nâng cao nhờ ứng dụng công nghệ, khu vực kinh tế tư nhân sẽ tạo ra xung lực mới cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững mà các nghị quyết của Đảng đã đề ra. Đây là thời điểm hành động để kiến tạo một Việt Nam năng động, tự cường và vươn xa.
3. Kết luận
Việc xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” trong Nghị quyết số 68-NQ/TW là kết quả của quá trình phát triển nhận thức lý luận gắn với tổng kết thực tiễn sâu sắc của Đảng ta qua gần 40 năm Đổi mới. Đây không phải là sự điều chỉnh mang tính tình thế, mà là bước tiến logic, kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phù hợp với quy luật phát triển của lực lượng sản xuất và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Thực tiễn phát triển của đất nước đã chứng minh vai trò ngày càng to lớn của khu vực kinh tế tư nhân trong huy động nguồn lực xã hội, tạo việc làm, thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Sự lớn mạnh của khu vực này không làm suy giảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, mà bổ sung, tương hỗ, cùng tạo nên cấu trúc kinh tế năng động, hiệu quả trong khuôn khổ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, để Nghị quyết số 68-NQ/TW tiếp tục đi vào cuộc sống, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của xã hội và tinh thần chủ động, sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp. Cần thống nhất nhận thức, hoàn thiện thể chế, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, an toàn để kinh tế tư nhân yên tâm đầu tư, phát triển lâu dài. Đồng thời, khơi dậy khát vọng vươn lên, tinh thần đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh, để khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành lực lượng tiên phong, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
4. Tài liệu tham khảo
C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 4.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II.
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 8.
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014), “Chính sách kinh tế mới của V.I. Lê-nin - Cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng của đường lối đổi mới”, Tạp chí Cộng sản điện tử. https://tapchicongsan.org.vn/
Tô Lâm (2025), “Phát triển kinh tế tư nhân - Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng”, Tạp chí Cộng sản, số 1.059.
V.I. Lê-nin (2005), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 43.
V.I. Lê-nin (2005), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 44.
TÁC PHẨM THAM GIA
Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2026
1. Tên bài: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” là bước tiến của tư duy đổi mới, không “chệch hướng” xã hội chủ nghĩa.
2. Loại hình: Tạp chí
3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Cao Siêng
Học hàm: Không Học vị: Thạc sĩ
Chuyên ngành: Triết học
Chức vụ: Không
Chức danh chuyên môn: Biên tập viên
Đơn vị: Tạp chí Cộng sản, Cơ quan Thường trực tại miền Nam
Địa chỉ: Số 19, Phạm Ngọc Thạch, phường Võ Thị Sáu, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0986.486.512
4. Nội dung gửi dự thi: 01 bản in dự thi và file của bài viết./.
Ghi chú: Bài viết đã gửi Tạp chí Cộng sản chờ đăng