Friday, July 10, 2026
Tuesday, July 7, 2026
TÔN TRỌNG VÀ ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM: SỰ THẬT KHÁCH QUAN KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN
Tóm tắt: Bài viết cung cấp những
luận cứ khoa học và thực tiễn sắc bén nhằm khẳng định sự thật khách quan không
thể phủ nhận về thành tựu tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
tại Việt Nam. Dựa trên nền tảng
lý luận nhất quán của Đảng, đặc biệt là những điểm đột phá trong Văn kiện Đại hội
XIV, cùng với hệ thống hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện và bức tranh thực
tiễn sinh động, bài viết trực diện bóc trần và phản bác đanh thép các luận điệu
xuyên tạc, thù địch về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Qua đó, bài viết không chỉ minh chứng cho những nỗ lực không
ngừng của Nhà nước Việt Nam trong việc thực thi quyền con người, mà còn khẳng định
việc bảo đảm tự do tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc chính là
phương thức hữu hiệu để làm thất bại mọi âm mưu "diễn biến hòa bình",
góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới
Từ khóa: Nghị quyết 35-NQ/TW; Tự do tôn giáo; Bảo vệ nền tảng tư tưởng; Phản
bác luận điệu thù địch; Đại hội XIV; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
1.
Đặt
vấn đề
Trong
suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc
luôn là nguồn lực nội sinh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong đó, đoàn kết tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời. Bước vào giai
đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng, vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung và
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng không chỉ là cam kết chính trị mà
còn là một phần tất yếu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa: “Đoàn kết tôn giáo, hoà hợp
dân tộc là yêu cầu quan trọng của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam” (Đảng Cộng
sản Việt Nam, 2026, tr.66). Tuy
nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới biến động phức tạp, các thế lực thù
địch vẫn không ngừng lợi dụng vấn đề tôn giáo như một "mũi đột phá" trong
âm mưu diễn biến hòa bình. Do
cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm nên trong các báo cáo của Ủy ban Tự do
tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) cũng như trên một số trang mạng luôn có những
luận điệu thiếu khách quan, sai
trái, thù địch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Từ đó, chúng tìm mọi cơ
hội để đưa Việt Nam vào "Danh sách các quốc gia cần quan tâm
đặc biệt" về vấn đề tôn
giáo, nhằm dễ bề can thiệp nội bộ, hạ bệ uy tín của Đảng và Nhà nước, phá hoại
đại đoàn kết dân tộc… Do
đó, việc nhận diện và đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch trên là
hết sức quan trọng, nhằm khẳng định về tự do tôn giáo ở Việt Nam dưới sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng, cũng như củng cố tinh thần đại đoàn kết của dân tộc và
uy thế của Việt Nam trên quốc tế.
2. Nhận
diện, phản bác một số luận điệu sai trái, thù địch trên lĩnh vực tôn giáo
2.1. Nhận diện một số luận điệu xuyên tạc, thù địch về
tự do tôn giáo tại Việt Nam
Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đã
và đang biến tôn giáo thành một “ngòi nổ chính trị” nhằm chống phá đất nước
Việt Nam. Sự chống phá này được vận hành tinh vi thông qua sự kết hợp chặt chẽ
giữa các luận điệu xuyên tạc và thủ đoạn nham hiểm. Chúng tập trung phủ nhận mọi nỗ lực của Đảng và
Nhà nước ta bằng cách rêu rao rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo thực sự; quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo vẫn chưa được cải thiện; Việt Nam hạn chế, cản trở,
đàn áp hoạt động tôn giáo. Các tổ chức thiếu
thiện chí như USCIRF liên tục đưa ra những báo cáo phiến diện, áp đặt để nhằm đưa
Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Chúng rêu
rao, bịa đặt về sự tồn tại của cái gọi là “tù nhân lương tâm” hay “tù nhân tôn
giáo”. Về thủ đoạn thực
hiện, chúng triệt để sử dụng phương thức “chính
trị hóa các vụ việc cá biệt”. Mọi tranh chấp đất đai hay hành vi vi phạm pháp luật của một
số cá nhân đều được chúng nhào nặn, gán ghép với vấn đề tôn giáo và vu
cáo chính quyền “đàn áp tôn giáo” để kích động đồng
bào và gây áp lực với dư luận quốc tế. Nguy hiểm hơn là thủ đoạn “kết hợp vấn
đề dân tộc với tôn giáo”, điển hình là hoạt động của tổ chức “Người Thượng Vì
Công lý” nhằm lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số đòi “quyền tự trị”, mưu đồ ly
khai, phá hoại khối đại đoàn kết. Ngoài ra, chúng còn xuyên tạc bản chất của
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khi gán ghép việc đăng ký sinh hoạt là biện pháp
“kiểm soát, bóp nghẹt” đức tin trong khi thực chất đó là biện pháp để
bảo hộ quyền lợi hợp pháp của chính các nhóm tôn giáo ấy nhằm phân định rõ với
các hoạt động bất hợp pháp của Giáo hội
Phật giáo Việt Nam thống nhất, các hệ phái Tin Lành chưa được công nhận, các hiện
tượng tôn giáo mới như Pháp Luân Công, Dương Văn Mình…
Việt
Nam luôn tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên những hành vi lợi
dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, gây mất an ninh trật tự, phá hoại đại đoàn
kết dân tộc đều bị xử lý nghiêm minh theo đúng tinh thần của Hiến pháp và Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, những
luận điệu cho rằng Việt Nam hạn chế quyền tự do tôn giáo, gây khó khăn hay đàn áp các nhóm tôn giáo thiểu số không phải là tiếng nói khách quan, càng không phản
ánh đúng thực tế.
2.2. Những
căn cứ để phản bác luận điệu xuyên tạc, thù địch về tự do tôn giáo ở Việt Nam
Thứ
nhất, sự nhất quán trong quan điểm của Đảng về tự do tôn giáo
Quan điểm của Đảng về bảo
đảm quyền tự do tôn giáo luôn xuyên suốt, nhất quán trong các kỳ Đại hội. Bước
vào thời kỳ đổi mới, nhận thức và ứng xử với tôn giáo của
Đảng đã có
những thay đổi
tích cực, mang tính đột phá, khắc phục một số hạn
chế trước đây trong công tác tôn giáo. Điều này
được khẳng định qua Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày
16-10-1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong
tình hình mới.
Trong đó, tín ngưỡng, tôn giáo được xác định là nhu cầu tinh thần của một
bộ phận nhân dân, hàm chứa sự khẳng định việc đảm bảo nhu cầu tự do tôn giáo.
Sau đó, Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Bảy khoá IX đã ban hành Nghị
quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo, ngày 12-3-2003 khẳng định: “Thực
hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo
đúng pháp luật” (Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, 2003, tr.48). Bước sang giai đoạn hiện nay, Văn kiện Đại hội XIII và đặc
biệt là Văn kiện Đại hội XIV đã tái khẳng định quan điểm này: "Bảo đảm,
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của
người dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.124). Việc "bảo đảm" và
"tôn trọng" trong Văn kiện Đại hội XIV không chỉ là câu chữ mà là một
bước khẳng định trong tư duy lý luận của Đảng về tự do tôn giáo. Điều đó cho
thấy, Đảng và Nhà nước không chỉ đứng ở vị thế "tôn trọng" một thực
tế khách quan mà còn chủ động thiết lập các cơ chế, nguồn lực để "bảo
đảm" quyền đó được thực thi trong đời sống. Đây chính là luận cứ khoa học
sắc bén nhất để phủ nhận mọi cáo buộc cho rằng Việt Nam "đàn áp" hay
"hạn chế" tôn giáo.
Thứ
hai, cơ sở pháp lý ngày càng hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền tự do tôn
giáo của người dân
Song
hành với tư duy lý luận, hệ thống pháp luật của Việt Nam về tôn giáo đã được
hoàn thiện, tạo ra "lá chắn" pháp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho
tín đồ và chức sắc tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 là văn bản pháp lý cao nhất
khẳng định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và các tôn giáo đều
bình đẳng trước pháp luật. Sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 (có
hiệu lực từ năm 2018) đã cụ thể hóa tinh thần của Hiến pháp, mở rộng đối tượng
được bảo đảm quyền từ "công dân" thành "mọi người". Điều
này cho thấy tính nhân văn và sự tương đồng sâu sắc với các văn bản nhân quyền
quốc tế như Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948) và Công ước quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị (1966). Tiếp sau đó, Nghị định số 95/2023/NĐ-CP và
Nghị định số 124/2025/NĐ-CP (quy định về phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà
nước về tôn giáo) đã tạo ra một cơ chế quản lý đồng bộ, minh bạch. Và đặc biệt,
Sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 ngày 23-04-2026, có
hiệu lực từ 01/01/2027 trong bối cảnh mới đã tiếp tục khẳng định sự tôn trọng,
đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Những văn bản này không phải để
"bóp nghẹt" nhu cầu tôn giáo như các thế lực thù địch rêu rao, mà nhằm
tạo môi trường ổn định, hòa hợp, bảo hộ các hoạt động; cơ sở thờ tự và tài sản
hợp pháp của tôn giáo; giúp các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân để tham
gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội.
Thứ
ba, thực tiễn sinh động là minh chứng phản bác lại các luận điệu thù địch bôi nhọ tự do tôn giáo ở
Việt Nam
Đời
sống tôn giáo tại Việt Nam hiện nay là một bức tranh đa sắc màu, sôi động và
đầy sức sống mà không một ai có thể phủ nhận. Tính đến nay, Nhà nước Việt Nam đã
công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức được công nhận và cấp giấy chứng nhận
đăng ký hoạt động thuộc 16 tôn giáo với gần 27,4 triệu đồng bào có đạo,
cùng với 66.365 chức sắc, 120.475 chức việc (Sỹ Hào, 2026). Cả nước có trên 3.300 điểm
nhóm Tin lành được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung (Ban Tôn giáo Chính phủ, 2022). Nhiều cơ sở thờ tự ngày càng khang trang hơn, được tạo
điều kiện để xây dựng mới. Hoạt động phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức
sắc, chức việc, nhà tu hành được thực hiện thuận lợi. Các
lễ hội, sự kiện tôn giáo lớn được diễn ra long trọng, an toàn, có tính chất quốc
tế như Đại lễ Vesak Liên hiệp quốc 2025 của Phật
giáo tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh; Lễ Tuyên phong Chân phước
cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp diễn ra vào ngày
02/07/2026 tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy, Giáo phận Cần Thơ đã thu hút hàng
triệu tín hữu trong và ngoài nước hướng về. Việt
Nam cũng đã mời nhiều đoàn quan sát quốc tế đến tìm hiểu thực tế hoạt động tôn
giáo, khẳng định tinh thần cởi mở, minh bạch trong chính sách và thực tiễn bảo
đảm tự do tôn giáo.
Bên cạnh đó, cả nước hiện có khoảng 300 trường
mầm non, 2.000 lớp học tình thương; 12 cơ sở dạy nghề thuộc các tổ chức tôn
giáo đang hoạt động; khoảng 500 cơ sở khám chữa bệnh từ thiện của các tổ chức
tôn giáo thành lập dưới nhiều hình thức; gần 800 cơ sở bảo trợ xã hội của các tổ
chức tôn giáo đang nuôi dưỡng trên 12.000 trẻ em mồ côi, trẻ tàn tật, người già
cô đơn, bệnh nhân tâm thần, HIV/AIDS (Bộ Dân tộc và Tôn giáo, 2025). Hình ảnh các vị chức sắc, tín đồ trúng cử đại biểu Quốc hội
khóa XV và hàng nghìn người tham gia Hội đồng nhân dân các cấp là minh chứng rõ
nét nhất cho việc tôn giáo không hề đứng ngoài cuộc mà luôn đồng hành cùng dân
tộc. Và bằng chứng thuyết phục nhất chính là việc Việt Nam đã ba lần trúng cử
vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Đây là sự ghi nhận khách quan, công tâm
của cộng đồng quốc tế đối với nỗ lực bảo đảm quyền con người và tự do tôn giáo
của Việt Nam.
3.
Giải pháp cơ bản nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới
Thứ
nhất, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền. Cấp
ủy, chính quyền các cấp; Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35; các cơ quan báo
chí, truyền thông chủ lực; đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và cán bộ
làm công tác tôn giáo cần đa dạng hóa loại hình, cách thức thông tin tuyên truyền
để cho cán bộ, đảng viên và nhân dân
hiểu đúng, đủ về quan điểm của Đảng, Luật Tín ngưỡng tôn giáo cũng như các thể
chế liên quan đến vấn đề tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo. Bên cạnh
đó, tiếp tục sử dụng các kênh truyền thông hiện đại, đối ngoại để lan tỏa những
"con số biết nói" về tôn giáo và các tấm gương "tốt đời, đẹp
đạo" ra toàn thế giới để cộng đồng quốc tế hiểu rõ thực chất về tự do tôn
giáo ở Việt Nam.
Thứ
hai, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý. Đây
là trọng trách của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về tôn
giáo từ trung ương đến địa phương. Trọng tâm của giai đoạn hiện nay là phải
nhanh chóng đưa Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 (có hiệu lực từ 01/01/2027)
đi vào cuộc sống thông qua các hình thức triển khai trực tiếp và gián tiếp. Luật
tín ngưỡng, tôn giáo 2026 ra đời tiếp tục có tác động tích cực đến cá nhân, tổ
chức, điểm nhóm tôn giáo thông qua việc cải cách, đơn giản hóa tối đa các thủ tục
hành chính, kiến tạo hành lang pháp lý an toàn cho các hoạt động tôn giáo. Song
song với đó, các quy định thể chế đủ mạnh để kiên quyết xử lý nghiêm minh mọi
cá nhân, tổ chức núp bóng tôn giáo để trục lợi, vi phạm pháp luật, đặc biệt
trên không gian mạng. Mục tiêu của giải pháp này là vừa tôn trọng, vừa đảm bảo quyền
tự do tín ngưỡng tôn giáo chính đáng, đồng
thời vừa bảo vệ tính thượng tôn pháp luật và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ
ba, phát huy nguồn lực tôn giáo. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và chính quyền các cấp cần chủ động phối
hợp, đồng hành cùng các cá nhân, tổ chức tôn giáo trong việc phát huy giá trị
văn hóa đạo đức của tôn giáo; tạo điều kiện các tôn giáo tham gia sâu rộng hơn
vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, an sinh xã hội và từ thiện nhân đạo. Từ đó,
chuyển hóa những giáo lý tốt đẹp, các nguồn lực nguồn lực vật chất và tinh thần
của tôn giáo để cùng xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ
tư, chủ động phản bác trực diện với các luận điệu xuyên tạc. Quán
triệt tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 35-NQ/TW, Ban Chỉ đạo 35 các cấp, lực lượng
chuyên trách và đội ngũ trí thức lý luận luôn phải chủ động phản bác trực diện
vào các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam của
các tổ chức thiếu thiện chí như HRW hay các hội nhóm phản động lưu vong. Thông
qua các luận cứ khoa học, kết hợp với các minh chứng từ thực tiễn sinh động để
làm "vũ khí" và "lá chắn thép" trong việc đấu tranh với các
luận điệu, âm mưu thủ đoạn thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, giữ
vững uy tín và vị thế chính trị - ngoại giao của quốc gia trên trường quốc tế.
Thứ
năm, cần thiết lập và vận hành hiệu quả cơ chế giám sát cũng như cơ chế cảnh
báo sớm các hoạt động lợi dụng tôn giáo ở cơ sở. Hệ thống chính trị
cấp xã, lực lượng công an cơ sở, cán bộ dân vận và những người có uy tín trong
cộng đồng đóng vai trò là tuyến phòng thủ đầu tiên. Lực lượng này phải trực tiếp
theo dõi, bám sát các hiện tượng truyền đạo trái phép, đạo lạ, tà đạo hoặc những
bức xúc nội bộ trong cộng đồng dân cư, phát huy tối đa phương châm "phòng
bệnh hơn chữa bệnh" và xây dựng vững chắc "thế trận lòng dân".
Qua đó, chính quyền cơ sở sẽ kịp thời phát hiện, hóa giải mọi mâu thuẫn ngay từ
khi mới nhen nhóm, triệt tiêu mầm mống bất ổn từ sớm, từ xa, kiên quyết không để
hình thành các "điểm nóng" về an ninh tôn giáo, không tạo bất cứ khoảng
trống nào cho các thế lực thù địch lợi dụng kích động, phá hoại.
4.
Kết luận
Tự
do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam là một sự thật khách quan, một kết quả tất
yếu của quá trình thực thi chính sách đúng đắn và nhất quán của Đảng, Nhà nước.
Những cáo buộc về việc "đàn áp" hay "vi phạm nhân quyền"
chỉ là những âm mưu chính trị lỗi thời nhằm ngăn cản sự phát triển của đất
nước. Việc quán triệt sâu sắc tinh thần Đại hội XIV về bảo đảm quyền tự do tôn
giáo chính là cách tốt nhất để củng cố niềm tin xã hội, khơi dậy khát vọng cống
hiến của mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt niềm tin tôn giáo. Trong khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, tôn giáo sẽ mãi là một nguồn lực quan trọng, đồng
hành cùng đất nước hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh.
TS. Trần Thị Thúy Vân
Học viện Chính trị khu vực II
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
1.
Ban
Chấp hành Trung ương Đảng. (2003). Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 về
công tác tôn giáo.
2.
Ban
Tôn giáo Chính phủ. (2022). Tôn giáo và Chính sách tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà
nội, tr.90
3.
Bộ
Chính trị. (1990). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày
16-10-1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
4.
Bộ
Chính trị. (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày
22-10-2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác
các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
5.
Bộ
Dân tộc và Tôn giáo. (2025). Báo cáo số
3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 về tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn
giáo.
6.
Chính
phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2023). Nghị
định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29-12-2023 quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
7.
Chính
phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2025). Nghị
định số 124/2025/NĐ-CP quy định về phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước
về tôn giáo.
8.
Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.
NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
9.
Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIV.
10.
Liên
hợp quốc. (1948). Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
(Universal Declaration of Human Rights - UDHR).
11.
Liên
hợp quốc. (1966). Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR).
12.
Sỹ Hào. (2026). Nguồn lực tôn giáo mạch
ngầm củng cố thế trận lòng dân, Thứ
Tư, 01/04/2026 https://vietnamnet.vn/nguon-luc-ton-giao-mach-ngam-cung-co-the-tran-long-dan-2496402.html
13.
Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2013). Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
14.
Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2016). Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo (Luật số 02/2016/QH14 ngày 18-11-2016).
15.
Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2026). Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo (Luật số 07/2026/QH16 ngày 23-04-2026).
ĐẬP TAN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ “CÔNG CUỘC SẮP XẾP LẠI GIANG SƠN” CỦA VIỆT NAM
Tóm tắt: Công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” thời gian qua đã tạo
niềm tin, hứng khởi mới cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; góp phần tạo thế
và lực để Việt Nam vươn mình cất cánh. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, chống
phá vẫn tung ra nhiều thông tin, luận điệu thiếu khách quan, xuyên tạc nhằm gây
tâm lý hoang mang và hoài nghi. Bài viết góp phần nhận diện và phản biện lại một
số luận điệu xuyên tạc này.
Từ khóa: công cuộc “sắp xếp lại giang sơn”; luận điệu xuyên tạc;
thế lực thù địch; Việt Nam.
1. Đặt vấn đề
Từ tháng 10/2024, một trong những đổi thay bước
ngoặt của đất nước chính là cuộc Cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống
chính trị từ Trung ương đến cơ sở (“cuộc Cách mạng”) diễn ra quyết liệt, mạnh mẽ
và khẩn trương do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo với quan điểm “tinh, gọn, mạnh,
hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”[i].
Cuộc Cách mạng này liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích khoảng 100.000
cán bộ, đảng viên, viên chức, người lao động và tác động không nhỏ đến đời sống
của nhân dân và đất nước. Đây là một công việc rất khó, nhưng khó cũng phải làm
vì nay là thời điểm phù hợp nhất, là “thời cơ, là sự cấp thiết, là đòi hỏi tất
yếu khách quan… Không thể chậm trễ hơn được nữa”[ii].
Thắng lợi của cuộc Cách mạng này là nền tảng, điều kiện quan trọng để đất
nước hoá rồng, hoá hổ, cất cánh, bứt tốc phát triển, hiện thực hoá mục tiêu là
nước “xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao”[iii]
vào năm 2045.
Một quyết sách chính trị hệ trọng như vậy thì việc
có nhiều ý kiến tranh luận và góp ý là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, đây cũng là dịp
để các phần tử không thiện chí, cơ hội chính trị trong nước, ở hải ngoại tranh thủ
cơ hội lợi dụng để công kích, xuyên tạc một cách thiếu
thiện chí trên nhiều diễn đàn. Họ nhanh chóng cường điệu hoá, khuếch đại
một cách có chủ ý về những hậu quả mà cuộc
Cách mạng tinh gọn sẽ mang lại. Đó là “kéo lùi sự phát triển kinh tế”, làm “rối
ren thêm đời sống xã hội” hay “đấu đá giữa các phe phái chính trị trong nội bộ”[iv],
v.v.
Bài viết chỉ rõ một số luận điệu xuyên tạc, thiếu khách quan như vậy; đồng
thời, lập luận nhằm đập tan những luận điệu dối trá ấy.
2. Phản bác luận điệu xuyên
tạc - tinh gọn bộ máy làm hoang mang nhà đầu tư và không kéo lùi tăng trưởng
kinh tế
Trên không gian mạng, họ cường điệu hoá rằng, việc
sắp xếp tổ chức bộ máy đang gây ra sự bất ổn, làm xấu đi môi trường đầu tư ở Việt
Nam, suy giảm niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Nhưng thực tế đang chứng
minh điều ngược lại! Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2025 của
Việt Nam đạt đến 8,02%, chỉ thấp hơn GDP năm 2022 (thời kỳ COVID-19)
trong giai đoạn 2011 - 2025[v].
GDP quý I/2026 đạt 7,83% (so với cùng kỳ năm trước là 7,07%). Các địa
phương như Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều có GRDP năm 2025 trên 7,5%.
Nhiều địa phương khác sau sáp nhập, tinh gọn bộ máy, GRDP đã bứt phá tăng trưởng
trên 10% như Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, hay Quảng Ngãi, v.v.
Năm 2025, trong khi Ngân hàng thế giới (WB) dự báo GDP Việt Nam chỉ khoảng
6,8%[vi]
thì thực tế nước ta đạt đến 8,02%. Số doanh nghiệp đăng ký mới, quay trở
lại hoạt động đến hết quý I/2026 là 96,0 nghìn doanh nghiệp (tăng 31,7%
so với cùng kỳ năm trước). Đặc biệt, từ quý I/2025 đến nay, nền kinh tế Việt
Nam và toàn cầu chứng kiến nhiều yếu tố bất định, nhất là chính sách thuế quan
cứng rắn Tổng thống Hoa Kỳ D. Trump và xung đột tại Trung Đông, bất ổn chính trị
toàn cầu, v.v. Bất chấp bối cảnh phức tạp, tổng số vốn nước ngoài đăng ký đầu
tư ở nước ta đạt vẫn 38,42 tỷ USD (tăng 0,5% so với năm trước) và số vốn
này đang thực hiện tại nước ta là 267,62 tỷ USD (tăng 9,0% so với năm
trước)[vii].
Điều này phải chăng phản ánh sự xấu đi của môi trường đầu tư và đi xuống về niềm
tin của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp FDI đối với Việt Nam?
Ngoài ra, lạ thay, họ còn khẳng định đanh thép rằng,
cuộc Cách mạng tinh gọn bộ máy tạo ra nhiều trở lực hơn, khiến doanh nghiệp
loay hoay không biết “gõ cửa” nào để giải quyết thủ tục hành chính. Rằng đây chỉ
là cách làm “hình thức, sẽ đâu vào đấy, bộ máy rồi cũng phình to”.
Tuy vậy, thực tế hoàn khác xa điều họ nói! Thực hiện theo yêu cầu của Ban Chỉ đạo Chính phủ về tổng
kết Nghị quyết số 18-NQ/TW[viii],
việc sắp xếp các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh theo nguyên tắc đa ngành, đa lĩnh
vực, một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì
thực hiện, chịu trách nhiệm, với mục tiêu giảm khoảng 15% đầu mối bên
trong. Sau sắp xếp, chỉ tính riêng ở cấp tỉnh, từ 17 sở đã được tổ chức thống
nhất toàn quốc xuống còn 12 sở (riêng Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
không quá 15 sở)[ix].
Từ ngày 01/3/2025, các sở, ngành cấp tỉnh trong phạm vi toàn quốc đi vào hoạt động
theo nguyên tắc thu gọn đầu mối đã thực sự đem lại sự hứng khởi cho người dân.
Việc hợp nhất Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài chính hay Sở Giao thông vận
tải và Sở Xây dựng, v.v. vốn liên quan nhiều đến doanh nghiệp đã giúp thu gọn đầu
mối, giảm phiền hà về thủ tục hành chính.
Theo khảo sát năm 2025, Hiệp hội Doanh nghiệp
châu Âu tại Việt Nam (EuroCharm) đều đặt niềm tin cao khi giới thiệu Việt Nam
là điểm đến đầu tư. Chính ông Bruno Jaspaert - Chủ tịch EuroCham phải thẳng thắn
thừa nhận, kết quả này của Việt Nam không còn mang tính kỳ vọng đơn thuần mà được
dựa trên thực tế vận hành, đơn hàng, quyết định đầu tư đang được triển khai và
vì vậy, ở ASEAN, Việt Nam sẽ là một động lực tăng trưởng quan trọng[x]. Đáng chú ý, chỉ số Niềm tin kinh doanh (BCI)
năm 2025 của Việt Nam là 80 điểm - cao nhất trong 7 năm trở lại
đây, bất chấp thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều bất ổn và rủi ro địa chính trị[xi].
Vậy, phải chăng tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã bị
“kéo lùi” do cuộc Cách mạng tinh gọn?
3. Phản bác luận điệu xuyên tạc - tinh gọn bộ máy
làm rối ren xã hội và tăng gánh nặng cho người dân
Ngoài gieo rắc sự lo lắng về sự suy giảm kinh
tế, họ còn cho rằng cuộc Cách mạng này còn làm xã hội thêm rối ren, nhân dân
thêm bất an và đời sống người dân “xáo
trộn, hoang mang”. Đây không phải câu chuyện đơn nhất của Việt Nam. Từ siêu cường
thế giới như Hoa Kỳ cho đến các quốc gia như Xin-ga-po, Nhật Bản, Trung Quốc,
Lào, v.v. đều đã đạt được những thành công đáng kể trong timh gọn, sắp xếp bộ
máy. Gần đây, Chính phủ của Tổng thống Trump phải thực
hiện mạnh chiến dịch tinh gọn bộ máy, sa thải gần 10.000 nhân viên liên bang,
đóng cửa một số cơ quan liên bang, xoá một số bộ nhằm giảm chi tiêu công[xii].
Ở Việt Nam, xu hướng trên cũng không ngoại lệ. Tổng
Bí thư Tô Lâm nhiều lần đã nhấn mạnh, “vấn đề [này] rất cấp bách, bắt buộc phải làm, càng làm sớm
càng có lợi cho dân, cho nước”[xiii].
Hiện 70% ngân sách dùng để nuôi bộ máy. Tinh gọn bộ máy, biên chế, giảm
chi tiêu thường xuyên để dành nguồn lực cho đầu tư phát triển, cho phát triển
văn hoá, xã hội, giáo dục và đào tạo, v.v. nên “chúng ta phải “uống thuốc đắng”,
phải chịu đau để “phẫu thuật khối u””[xiv].
Nhưng các thế lực thù địch không nghĩ vậy!
Họ cường điệu rằng, việc sắp xếp tinh gọn bộ máy
các cấp, sáp nhập tỉnh, thành phố bằng những bài viết, video clip với đủ mọi luận
điệu như người dân phải “vất vả hơn, đi xa hơn, rồi tên cũ tên mới hay nhân
dân sẽ mất quê hương”. Họ
rêu rao rằng người dân khi sáp nhập tỉnh, bỏ cấp huyện phải lên cơ quan công
quyền xa hơn. Nhưng với xu hướng chuyển đổi số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến
(một phần, toàn trình) ngày càng hoàn thiện như hiện nay: hết năm 2025, cả nước
có hơn 94.334 nghìn hồ sơ được giải quyết qua Cổng dịch vụ công quốc gia
và gần 636.949,8 nghìn hồ sơ được đồng bộ trạng thái lên Cổng[xv];
mở rộng Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã, giải quyết thủ tục hành chính
trực tuyến “phi địa giới”, mô hình “dịch vụ công lưu động”, v.v.
thì khoảng cách địa lý không phải là vấn đề lớn. Các khó khăn của người dân đều
được thấu hiểu, chính quyền đồng hành, nỗ lực tháo gỡ từng bước.
Hay họ cứ rêu rao rằng, “Cách mạng tinh gọn” thì
sẽ “mất quê hương”! Nhưng có lẽ họ không học hoặc đã quên hai câu thơ rất
nổi tiếng của nhà thơ Đỗ Trung Quân mà bao thế hệ học trò từng thuộc nằm lòng: “Quê
hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi”. Tôi rất tán đồng với phát
biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm rằng“đất nước là quê hương”[xvi].
Quê hương trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc không đơn thuần chỉ là
nơi “chôn rau cắt rốn”, gói gọn trong địa hạt hành chính mà rộng ra, còn
hoà quyện trong hình hài Tổ quốc, “đất nước - quê hương - Việt Nam”
thiêng liêng. Nếu bằng tư duy cởi mở và phát triển như vậy, chúng ta sẽ thấy, tỉnh
mới, xã mới, phường, đặc khu mới nào cũng đều là quê hương của chúng ta. Không ai
mất quê hương! Mọi thứ rồi sẽ dần đi
vào tâm tưởng, tình cảm của mỗi con người chúng ta. Thay vì phàn
nàn, cản trở thì mỗi chúng ta hãy cứ làm
tốt việc của mình, trên từng cương vị, dù ở nơi đâu rồi thì các địa danh của
quê hương của mình vẫn tiếp tục ở lại trong tâm trí của mỗi người.
Ngày 28/02/2025, Bộ Chính trị đã quyết định miễn
toàn bộ học phí cho học sinh, từ mầm non (học sinh từ 3 tháng tuổi) đến hết
trung học phổ thông công lập trong phạm vi cả nước, thực hiện từ đầu năm học mới
2025 - 2026 (tháng 9/2025) ngay khi cuộc Cách mạng tinh gọn bộ máy vẫn còn đang
khẩn trương diễn ra. Số tiền để thực hiện chủ trương này lấy từ chính ngân sách
nhà nước tiết kiệm được từ tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị[xvii].
Cuộc cách mạng này đã nhanh chóng mang lại lợi ích cho hàng triệu gia đình, cho
hơn 23 triệu học sinh, góp phần thể hiện rõ hơn tính ưu việt của chế độ
ta, bản chất xã hội chủ nghĩa trong từng chính sách an sinh. Gần 80 năm kể từ bản
Hiến pháp đầu tiên năm 1946, ước vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, của Đảng
và cả dân tộc “nền sơ học cưỡng bách và không học phí” đã thành hiện thực
từ một chủ trương - cuộc Cách mạng tinh gọn. Đặc biệt, Nghị quyết số 71-NQ/TW
ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nhấn
mạnh: “Ưu tiên dành trụ sở cơ quan nhà nước dôi dư sau sắp xếp cho các cơ sở
giáo dục…”. Tiếp đến, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị
về đột phá bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân khẳng định: “Từ
năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít
nhất mỗi năm 1 lần…”. Tất cả đều diễn ra, liên quan mật thiết với hiệu quả
của công cuộc “sắp xếp lại giang sơn”.
Đến đây, phần nào giúp chúng ta tự tìm được lời
đáp thoả đáng rằng cuộc Cách mạng tinh gọn bộ máy có phải đã làm “rối ren xã hội”
và thêm “gánh nặng” cho nhân dân hay không!?
4. Phản bác luận điệu xuyên tạc - tinh gọn bộ máy
là đấu đá phe phái chính trị
Đúng vào dịp Kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng
(03/02/2025) và cũng là ngày đi làm đầu tiên sau dịp nghỉ Tết Nguyên
đán, Bộ Chính trị đã công bố quyết định thành lập bốn đảng bộ trực thuộc Trung
ương, kết thúc hoạt động của đảng bộ khối các cơ quan Trung ương, đảng bộ khối
doanh nghiệp Trung ương. Cuộc cách mạng về sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy bắt
đầu từ Trung ương đến cơ sở đã truyền động lực và cảm hứng mạnh mẽ cho toàn xã
hội. Tuy vậy, đọc qua các luận điệu các thế lực thù địch trên Facebook,
Youtube, họ xem việc này là “đấu đá nội bộ rồi tranh giành quyền lực, thanh
trừng, hạ bệ lẫn nhau”, “gia cố quyền lực”[xviii],
v.v.
Xin hãy tự đặt câu hỏi rằng, công cuộc tinh gọn ấy
bắt đầu từ đâu? Đấy là cấp Trung ương! Khó khăn và nhạy cảm nhất là Trung
ương! Nhưng Trung ương đã quyết làm và đã làm thì địa phương cơ sở không có
lẽ gì lại trì hoãn. Kết quả là giảm 34,9% đầu mối trực thuộc Trung ương,
46% đơn vị hành chính cấp tỉnh, 66,9% đơn vị hành chính cấp xã và
kể từ năm 1945 đến nay, lần đầu không tổ chức chính quyền cấp huyện[xix].
Ngoài ra, trong quá trình sắp xếp tổ chức, vận dụng
nguyên tắc “thà ít mà tốt…”[xx]
của lãnh tụ V.I. Lênin, Đảng ta kiên quyết quán triệt “tinh gọn tổ chức
bộ máy gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, năng lực ngang
tầm nhiệm vụ”, “vì việc tìm người”, “không có vùng cấp, không có ngoại lệ”; “có
cơ chế hữu hiệu sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không
đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và sử dụng đối với người có năng lực nổi trội”[xxi],
v.v. Vậy thì không hiểu lợi ích nhóm hay đấu đá ở đây là giữa ai với
ai?
Thêm một điều nữa, ai chịu ảnh hưởng đầu tiên và
trực tiếp? Sau sáp nhập, tinh gọn, một
số lượng cán bộ “khổng lồ” phải nghỉ việc, điều chuyển, hoặc nghỉ hưu trước tuổi.
Có những người mất việc, thêm việc, xuống chức, mất chức. Thế nhưng là cán bộ,
đảng viên đều phải tiên phong gương mẫu, chuẩn bị tâm thế để sẵn sàng cho sự
thay đổi. Họ hiểu rằng họ đang sống trong một giai đoạn của những thay đổi mang
tính lịch sử nên những hi sinh về mặt cá nhân nhưng mà có ích cho dân, cho nước
thì dù có chút tâm tư cũng không hề gì. Kết quả này càng đặc biệt hơn khi tư
duy về khu vực nhà nước là “vùng trú ẩn an toàn” đã tồn tại day dẳng.
Đến đây, tôi vẫn chưa tìm thấy sự đấu đá chính trị,
tranh giành quyền lực hay phe cánh ở đâu trong cuộc Cách mạng này! Nếu có, tôi
chỉ thấy đó là sự dũng cảm dấn thân, hi sinh lợi ích riêng của đông đảo cán bộ,
đảng viên từ Trung ương đến cơ sở cho sự nghiệp chung.
5. Kết luận
Bài viết đã phân tích phần nào quá trình hiện thực
hoá chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về cuộc Cách mạng tinh gọn tổ
chức bộ máy ở Việt Nam với quyết tâm cao, khẩn trương, bài bản, khoa học, có lý
có tình và những lợi ích mang lại cho đất nước, người dân và doanh nghiệp. Đây
chính là những bằng chứng rõ ràng, có sức lay động để tranh luận, phản biện lại
các luận điệu xuyên tạc thiếu khách quan, thiện chí của các thế lực thù địch thời
gian qua. Cuối cùng, tôi vững tin rằng, với ý chí quyết tâm của hơn 100 triệu
dân Việt Nam cùng sự kiên trì, kiên quyết lãnh đạo của Đảng, quản trị kiến tạo
của Nhà nước, thành quả công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” sẽ là
động lực quan trọng đưa nước ta trở thành nước phát triển hiện đại, thu nhập
cao vào năm 2045.
Về giá trị lý luận, cuộc Cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy không chỉ là bước
đột phá về thể chế hành chính mà còn là sự hiện thực hoá sinh động nguyên tắc
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Văn kiện Đại hội
XIV của Đảng: bộ máy nhà nước phải “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu
quả”, phục vụ nhân dân và vì sự phát triển bền vững của đất nước. Về giá trị thực
tiễn, những kết quả về tăng trưởng kinh tế, cải cách hành chính, miễn học phí,
chăm sóc sức khoẻ toàn dân mà bài viết đề cập chính là minh chứng thuyết phục
nhất bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch. Điều đó
khẳng định rằng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ cần lập
luận sắc bén mà còn phải được củng cố bằng những thành tựu thực tiễn không thể
phủ nhận.
TS. Nguyễn
Hữu Hoàng - Học viện Chính trị khu vực II
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2025), “Bộ Chính trị quyết định miễn học
phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập”, Báo
Điện tử Chính phủ, truy cập tại: https://baochinhphu.vn/bo-chinh-tri-quyet-dinh-mien-hoc-phi-cho-hoc-sinh-pho-thong-cong-lap-102250228180111544.htm
Chính phủ (2025), Nghị định số 45/2025/NĐ-CP ngày
28/02/2025 của Chính phủ về tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương và UBND cấp huyện, Hà Nội.
Chính phủ (2026), “Chỉ số Niềm tin kinh
doanh đạt đỉnh 7 năm, Việt Nam củng cố vị thế điểm đến đầu tư”, Báo điện tử
Chính phủ, truy cập tại: https://baochinhphu.vn/chi-so-niem-tin-kinh-doanh-dat-dinh-7-nam-viet-nam-cung-co-vi-the-diem-den-dau-tu-102260113132913923.htm
Cục thống kê (2025), “Báo cáo tình hình
kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025”, Website Cục Thống kê, truy cập tại:
https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/
Tô Lâm (2024a), “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu
lực - hiệu quả”. Tạp chí Cộng sản điện tử, truy cập tại:
https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tinh-gon-manh-hieu-nang-hieu-luc-hieu-qua
Tô Lâm (2024b), “Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc
quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 18”, Báo Nhân
dân điện tử, truy cập tại:
https://special.nhandan.vn/phat-bieu-cua-TBT-tai-hoi-nghi-trien-khai-Nghi-quyet-18/index.html
Tô Lâm (2024c), “Cơ sở định vị mục tiêu phát triển và
định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”, Báo Nhân
dân, số 25193, ngày 01/11/2024, tr. 2, truy cập tại:
https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf
Đỗ Phú Thọ (2025a), “Tỉnh táo trước
luận điệu xuyên tạc việc tinh gọn bộ máy”, Báo Nhân dân điện tử, truy
cập tại:
https://nhandan.vn/tinh-tao-truoc-luan-dieu-xuyen-tac-viec-tinh-gon-bo-may-post865870.html
Đỗ Phú Thọ (2025b), “Tinh giản bộ
máy không phải là “đấu đá nội bộ””, Sự kiện và Nhân chứng - Báo Quân đội
Nhân dân, truy cập tại:
https://sknc.qdnd.vn/tren-mat-tran-tham-lang/tinh-gian-bo-may-khong-phai-la-dau-da-noi-bo-503721
V.I. Lênin (1979), Toàn tập, Nxb. Tiến bộ,
Mátxcơva, t.45.
VTV Digital (2025), “Mỹ tinh giản bộ
máy, gần 10.000 nhân viên mất việc”, Đài Truyền hình Việt Nam, truy
cập tại:
https://vtv.vn/the-gioi/my-tinh-gian-bo-may-gan-10000-nhan-vien-chinh-phu-mat-viec-20250216151053791.htm
VTVgo (2025), “Tổng Bí thư Tô Lâm:
Đâu cũng là quê hương”, Kênh truyền hình Việt Nam VTVgo, ruy cập tại:
https://vtvgo.vn/video/play/tong-bi-thu-to-lam-dau-cung-la-que-huong--tin-nong-4,936479.html
WB (2025), Điểm lại: Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam, tháng 3/2025, Washington DC, USA.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. CTQGST, HN, t.1.
[i] Tô Lâm (2024a), “Tinh - gọn
- mạnh -
hiệu năng -
hiệu lực – hiệu quả”, Tạp chí Cộng sản điện tử, truy cập tại: https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tinh-gon-manh-hieu-nang-hieu-luc-hieu-qua
[ii] Tô Lâm (2024b), “Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển
khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 18”,
Báo Nhân dân điện tử, truy cập tại: https://special.nhandan.vn/phat-bieu-cua-TBT-tai-hoi-nghi-trien-khai-Nghi-quyet-18/index.html
[iii] Tô Lâm (2024c), “Cơ
sở định vị mục tiêu phát triển và định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ
nguyên mới”, Báo Nhân dân,
số 25193, ngày 01/11/2024, tr. 2, truy cập tại: https://image.nhandan.vn/Uploaded/2024/tmuivppi/2024_11_01/docbao-ndhangngay-01112024-8657.pdf
[iv] Đỗ Phú Thọ (2025a), “Tỉnh táo trước luận điệu xuyên tạc việc tinh gọn bộ máy”, Báo Nhân dân điện tử, truy cập tại:
https://nhandan.vn/tinh-tao-truoc-luan-dieu-xuyen-tac-viec-tinh-gon-bo-may-post865870.html
[v] Cục thống kê (2025), “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội
quý IV và năm 2025”, Website Cục Thống kê, truy cập tại: https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/
[vi] WB (2025), Điểm lại: Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam, tháng
3/2025, Washington DC, USA.
[vii]
Cục thống kê (2025), “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội
quý IV và năm 2025”, Website Cục Thống kê, truy cập tại: https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/
[viii]
Xem thêm: Công
văn số 24/CV-BCĐTKNQ18 ngày 18/12/2024 và Công văn số 05/CV-BCĐTKNQ18 ngày
12/01/2025 của Ban Chỉ đạo Chính phủ về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW.
[ix] Chính phủ (2025), Nghị định số 45/2025/NĐ-CP ngày 28/02/2025 của Chính
phủ về tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương và UBND cấp huyện, Hà Nội.
[x] Chính phủ (2026), “Chỉ số Niềm tin kinh doanh đạt đỉnh 7 năm, Việt Nam củng
cố vị thế điểm đến đầu tư”, Báo điện tử Chính phủ, truy cập tại: https://baochinhphu.vn/chi-so-niem-tin-kinh-doanh-dat-dinh-7-nam-viet-nam-cung-co-vi-the-diem-den-dau-tu-102260113132913923.htm
[xi]
Chính phủ (2026), “Chỉ số Niềm tin kinh doanh đạt đỉnh 7
năm, Việt Nam củng cố vị thế điểm đến đầu tư”, Báo điện tử Chính phủ, truy
cập tại: https://baochinhphu.vn/chi-so-niem-tin-kinh-doanh-dat-dinh-7-nam-viet-nam-cung-co-vi-the-diem-den-dau-tu-102260113132913923.htm
[xii] VTV Digital (2025), “Mỹ tinh giản bộ máy, gần 10.000 nhân viên mất việc”, Đài
Truyền hình Việt Nam, truy cập tại: https://vtv.vn/the-gioi/my-tinh-gian-bo-may-gan-10000-nhan-vien-chinh-phu-mat-viec-20250216151053791.htm
[xiii] Tô Lâm (2024b), “Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển
khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 18”, Báo
Nhân dân điện tử, truy cập tại: https://special.nhandan.vn/phat-bieu-cua-TBT-tai-hoi-nghi-trien-khai-Nghi-quyet-18/index.html
[xiv] Tô Lâm (2024b), “Phát biểu tại
Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 18”, Báo Nhân dân điện tử, truy cập tại:
https://special.nhandan.vn/phat-bieu-cua-TBT-tai-hoi-nghi-trien-khai-Nghi-quyet-18/index.html
[xv] Cục thống kê (2025), “Báo cáo
tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025”, Website Cục Thống kê, truy
cập tại: https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/
[xvi] VTVgo (2025), “Tổng Bí thư
Tô Lâm: Đâu cũng là quê hương”, Kênh truyền
hình Việt Nam VTVgo, ruy cập tại:
https://vtvgo.vn/video/play/tong-bi-thu-to-lam-dau-cung-la-que-huong--tin-nong-4,936479.html
[xvii] Bộ Chính
trị (2025), “Bộ Chính trị
quyết định miễn học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông
công lập”, Báo Điện tử Chính phủ, truy cập tại: https://baochinhphu.vn/bo-chinh-tri-quyet-dinh-mien-hoc-phi-cho-hoc-sinh-pho-thong-cong-lap-102250228180111544.htm
[xviii] Đỗ Phú Thọ (2025b), “Tinh giản bộ máy không phải là “đấu đá nội bộ””, Sự kiện và Nhân chứng - Báo Quân đội Nhân dân, truy cập tại:
https://sknc.qdnd.vn/tren-mat-tran-tham-lang/tinh-gian-bo-may-khong-phai-la-dau-da-noi-bo-503721
[xix] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. CTQGST, HN, t.1, tr.61-62.
[xx] V.I. Lênin (1979), Toàn
tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, t.45, tr. 445.
[xxi] Tô Lâm
(2024a), “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”. Tạp chí Cộng sản điện tử, truy cập tại:
https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tinh-gon-manh-hieu-nang-hieu-luc-hieu-qua