Monday, June 1, 2026

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM THÙ ĐỊCH, XUYÊN TẠC SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

 

Tóm tắt

Sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả của quá trình khảo nghiệm thực tiễn lịch sử dân tộc và tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, các thế lực thù địch gia tăng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng bằng nhiều phương thức tinh vi, tập trung phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn. Bài viết làm rõ cơ sở khách quan và tính tất yếu của sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhận diện các luận điệu sai trái, thù địch hiện nay; đồng thời luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đấu tranh, phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Từ khóa: Chủ nghĩa xã hội; Hồ Chí Minh; bảo vệ nền tảng tư tưởng; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái.

1.  Cơ sở khách quan và tính tất yếu trong sự lựa chọn con đường đi lên của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả của quá trình thực tiễn cách mạng thế giới, thực tiễn lịch sử dân tộc và sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Thứ nhất, xuất phát từ sự khủng hoảng đường lối cứu nước trong nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam chìm trong đêm tối của ách đô hộ thực dân Pháp. Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp thời kỳ này đã chứng minh sự bế tắc của các hệ tư tưởng cũ như khuynh hướng phong kiến (Phong trào Cần Vương) đã lỗi thời và không còn khả năng tập hợp sức mạnh toàn dân tộc. Khuynh hướng dân chủ tư sản (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh), đều không thể giải quyết triệt để mâu thuẫn dân tộc và yêu cầu giải phóng đất nước.

Thứ hai, xuất phát từ xu thế khách quan của thời đại, Hồ Chí Minh trong quá trình đi tìm đường cứu dân, cứu nước, qua thực tiễn lao động và quan sát tại Pháp, Anh, Mỹ, Người nhận ra bản chất của các cuộc cách mạng tư sản (Cách mạng Mỹ 1776, Cách mạng Pháp 1789) là những cuộc cách mạng "chưa đến nơi". "Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa."[1]. Điều đó đặt ra yêu cầu lịch sử phải tìm kiếm một con đường cứu nước mới. Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng vô sản là con đường duy nhất đúng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc xâm lược, bọn địa chủ phong kiến phản động để giành độc lập, tự do. Nhờ đó những mâu thuẫn cơ bản ở các nước thuộc địa nói chung, Việt Nam nói riêng mới thực sự được giải quyết triệt để. Bởi, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn độc quyền (chủ nghĩa đế quốc), biến hệ thống thuộc địa thành một mắt xích không thể tách rời. Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc, cuộc cách mạng thuộc địa phải là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới.

Thứ ba, sự gặp gỡ mang tính tất yếu của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga. Tháng 7/1920, Hồ Chí Minh đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin. Đây chính là bước ngoặt quyết định lý giải tính tất yếu trong sự lựa chọn của Người. Luận cương của Lênin đã chỉ rõ con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức gắn liền với cách mạng vô sản. Trong bài viết Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, Người xúc động chia sẻ: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!'"[2]. Hồ Chí Minh đã tìm thấy được con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, đó là con đường cách mạng vô sản, để rồi Người từng bước hiểu ra và đi đến kết luận: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[3].

Thứ tư, sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh xuất phát từ đặc điểm lịch sử - xã hội của Việt Nam. Bước vào thời kỳ hiện đại, dân tộc Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, nền kinh tế lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp, Người chỉ đã chỉ ra rằng, chỉ có giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản mới đủ khả năng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc gắn với mục tiêu xây dựng xã hội mới. Đó là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng, của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người viết: “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[4]. Đó là sự lựa chọn phù hợp với quy luật phát triển của thời đại, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội của xã hội Việt Nam đương thời. Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 95 năm qua đã chứng minh tính đúng đắn của sự lựa chọn này. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua, Đảng ta khẳng định bài học số một là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”[5].

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thống nhất quan điểm chỉ đạo: “Kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác- LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới. Kiên định các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của đảng. Để thúc đẩy bền vững phát triển đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của nhân dân, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[6]. Nhờ sự kiên định với mục tiêu, lý tưởng đó, mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như đạt được nhiều thành tựu trong sự nghiệp 40 năm đổi mới.

Như vậy, sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả tất yếu của lịch sử dân tộc và thời đại. Đó là sự lựa chọn dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn và nhân văn sâu sắc; đồng thời được kiểm nghiệm bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong gần một thế kỷ qua. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để phản bác các luận điệu xuyên tạc cho rằng Hồ Chí Minh lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là “sai lầm lịch sử”, “đi ngược quy luật phát triển” hoặc “không phù hợp với thời đại”.

2.     Nhận diện các luận điệu thù địch, xuyên tạc về sự lựa chọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

             Nội dung các quan điểm phủ nhận sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là các quan niệm, lập luận, ý kiến nhằm bác bỏ những vấn đề cốt lõi của lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Một là, các thế lực thù địch đã bác bỏ luận điệu cho rằng chủ nghĩa xã hội đã kết thúc sau biến cố Đông Âu và Liên Xô. Các luận điệu phản động đã lợi dụng sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu để rêu rao rằng lý tưởng này đã “hết thời” hoặc “bị khai tử”. Từ đó, chúng quy chụp việc Việt Nam kiên trì mục tiêu này là “lội ngược dòng lịch sử”. Tuy nhiên, đây là sự đánh tráo khái niệm đầy ác ý khi đồng nhất sự sụp đổ của một mô hình tổ chức cụ thể với sự thất bại của cả một hệ tư tưởng khoa học (chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh). Thực tế lịch sử chứng minh, chủ nghĩa xã hội không hề biến mất như lời cáo buộc; nhiều quốc gia vẫn đang định hình lối đi riêng đầy sức sống. Đặc biệt, những thành tựu đổi mới của Việt Nam là minh chứng sống động cho một mô hình phát triển sáng tạo, bám sát thực tiễn đất nước chứ không phải là sự rập khuôn mù quáng.

Hai là, các thế lực thù địch phản bác quan điểm đối lập giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa. Một chiêu trò ngụy biện nhằm khẳng định kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội là hai thái cực loại trừ nhau, từ đó ép buộc Việt Nam phải ngả hẳn sang con đường tư bản chủ nghĩa để phù hợp với "xu thế khách quan". Thực chất, đây là âm mưu phủ nhận thành quả đổi mới của Đảng ta trong suốt quá trình đổi mới. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang vận hành là sự vận dụng đột phá: vừa giải phóng sức sản xuất và huy động tối đa các nguồn lực kinh tế, vừa duy trì vai trò điều tiết của Nhà nước nhằm đảm bảo tính bền vững, lấy con người làm trung tâm và phục vụ lợi ích tối cao của nhân dân lao động thay vì lợi nhuận cho một nhóm thiểu số như các thế lực thù địch từng đề cập.

Ba là, các thế lực thù địch lợi dụng các mặt trái xã hội để bôi nhọ bản chất chế độ xã hôi chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Chúng thường chớp lấy các vấn đề nhức nhối mang tính hiện tượng như tham nhũng, lãng phí, phân hóa giàu nghèo hay tệ nạn xã hội để quy kết thành “bản chất hệ thống” của chế độ ta, hòng gieo rắc sự hoài nghi và bi quan trong dư luận. Đây là thủ đoạn "vơ đũa cả nắm", cố tình phớt lờ thực tế rằng bất kỳ thể chế nào trong quá trình phát triển cũng phải đối mặt với những tiêu cực phát sinh. Điểm mấu chốt tạo nên sự khác biệt là Đảng và Nhà nước Việt Nam chưa bao giờ né tránh mà luôn quyết liệt chỉnh đốn đội ngũ, hệ thống chính trị và hoàn thiện luật pháp. Những quyết sách mang tính chiến lược gần đây như tinh gọn bộ máy hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp chính là hành động thực tế để tối ưu hóa quản trị và làm trong sạch bộ máy nhà nước hiện nay.

Bốn là, các đối tượng chống phá tìm mọi cách phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ta, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, “kiến tạo xã hội dân sự”, coi đó là điều kiện để phát triển đất nước. Luận điệu này nhằm từng bước xóa bỏ nền tảng chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Từ đó chúng tác động nhằm gây mất ổn định chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; hủy hoại sự thống nhất giữa “ý Đảng - lòng dân”. Mưu đồ thâm độc và nguy hiểm này đã phá vỡ sự đồng thuận xã hội và chia rẽ mối quan hệ khăng khít giữa Đảng với Nhân dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng và hạnh phúc của Nhân dân ta; mọi âm mưu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đều đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc và sự bình yên của đất nước.

Tất cả các luận điệu xuyên tạc trên thực chất là một chiến dịch "diễn biến hòa bình" tinh vi trên mặt trận tư tưởng. Mục tiêu cuối cùng của chúng là làm lung lay niềm tin của người dân vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ đã lựa chọn. Vì vậy, việc lật tẩy các thủ đoạn này không chỉ giúp bảo vệ nền tảng tư tưởng độc lập, mà còn củng cố sức mạnh đoàn kết toàn dân trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay.

Có thể nói, các thủ đoạn chống phá của các thế lực địch về sự lựa chọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch hồ Chí Minh có đặc điểm: Một là, trộn lẫn thật - giả nhằm tạo cảm giác khách quan. Chúng thường lợi dụng những hạn chế có thật trong quản lý xã hội để suy diễn thành bản chất của chế độ. Hai là, khai thác tâm lý bất mãn và khoảng trống thông tin. Khi xảy ra các sự kiện nhạy cảm, các đối tượng lập tức tung tin thất thiệt nhằm định hướng dư luận. Ba là, sử dụng “người trong cuộc”, “chuyên gia tự xưng” hoặc các tài khoản ẩn danh để tạo tính thuyết phục giả tạo. Bốn là, cá nhân hóa nội dung chống phá. Các thuật toán mạng xã hội giúp thông tin sai lệch tiếp cận đúng nhóm đối tượng có tâm lý dao động hoặc thiếu bản lĩnh chính trị. Năm là, quốc tế hóa vấn đề nội bộ của Việt Nam thông qua các tổ chức phi chính phủ, báo chí nước ngoài hoặc diễn đàn quốc tế. Những thủ đoạn trên cho thấy cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay diễn ra quyết liệt, phức tạp và mang tính lâu dài. Do đó, việc nhận diện đúng bản chất các luận điệu sai trái, thù địch là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

3.     Luận cứ khoa học đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, thực tiễn lịch sử và thành tựu đổi mới là minh chứng đập tan các luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiến trình cách mạng Việt Nam chính là thước đo khách quan nhất khẳng định tính đúng đắn trong quyết sách của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện vọng của toàn dân tộc. Nhìn lại bối cảnh đất nước nghèo đói sau chiến tranh trước cột mốc năm 1986, chúng ta mới thấy hết giá trị của chặng đường đã qua. Trải qua bốn thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích mang tính bước ngoặt: từ một quốc gia lạc hậu vươn lên thành một nền kinh tế năng động, đời sống người dân được nâng cao rõ rệt, cùng uy tín quốc tế ngày càng vững chắc. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Nhìn lại 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, kinh tế duy trì tốc độ phát triển tương đối nhanh, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, các lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản, toàn diện. Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện. Vai trò lãnh đạo, uy tín của đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.”[7]. Những quả ngọt thực tế này là luận cứ đanh thép nhất để bác bỏ hoàn toàn các quan điểm sai trái, xuyên tạc cho rằng lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam là "sai lầm lịch sử" hay "đi ngược lại xu thế".

Thứ hai, bản chất khoa học, sáng tạo trong lý luận về chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho dân giàu, nước mạnh, nhân dân được tự do, hạnh phúc Người nhấn mạnh: "mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân"[8]. “Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động"[9][1]. Đây là luận điểm có giá trị phản bác trực diện những luận điệu xuyên tạc bản chất của chủ nghĩa xã hội. Theo Người, xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội. Điều này chứng minh chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam là một thực thể phát triển linh hoạt và giàu tính thực tiễn. Vì thế, luận điệu quy chụp rằng phát triển kinh tế thị trường buộc phải từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa là cái nhìn phiến diện, hoàn toàn thiếu căn cứ khoa học.

Thứ ba, phân định rõ ràng giữa hiện tượng tiêu cực phát sinh với bản chất tốt đẹp của chế độ. Những góc khuất xã hội như nạn tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái đạo đức hay hố sâu phân hóa giàu nghèo tuyệt đối không phải là thuộc tính bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây thực chất là những hệ lụy tất yếu nảy sinh trong giai đoạn quá độ và phát triển kinh tế, vốn là bài toán chung của mọi quốc gia trên thế giới. Điểm mấu chốt là Đảng và Nhà nước ta không hề che giấu mà luôn chủ động, kiên quyết dứt điểm các căn bệnh này. Trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” ( 2023) của cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, tại Phần thứ nhất( Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt nam), cố Tổng Bí thư đã hệ thống hóa và đưa ra các số liệu tổng kết thực tiễn rất cụ thể, chính xác về kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta trong giai đoạn 10 năm (2012 - 2022) kể từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị. Số liệu về xử lý kỷ luật Đảng và cán bộ diện Trung ương quản lý: cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý. Trong đó có: 33 Ủy viên và nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang[10]. Công tác chỉnh đốn Đảng, cuộc chiến chống tham nhũng được thực hiện không ngừng nghỉ với quyết tâm chính trị cao nhất nhằm thanh lọc bộ máy và củng cố lòng tin trong nhân dân. Hành động quyết liệt đó đã lật tẩy mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch khi cố tình lấy hiện tượng đánh tráo bản chất hòng hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ tư, vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố tiên quyết bảo đảm sự ổn định và phát triển đất nước. Lịch sử đã và đang chứng minh một chân lý không thể lay chuyển về vai trò chèo lái con thuyền cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là gốc rễ của mọi thắng lợi. Bài học từ thực tiễn cho thấy, Việt Nam giữ vững được môi trường hòa bình, kinh tế tăng trưởng đều đặn và xã hội an định chính là nhờ năng lực quản lý của Nhà nước và sự dẫn đường đúng đắn của Đảng. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Qua 40 năm đổi mới, quan điểm về chính sách xã hội dần được hoàn thiện: Tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội để mọi người dân đều được hưởng thụ thành quả của phát triển và thực hiện công bằng xã hội. Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc của con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, của từng gia đình,  là sự nghiệp của Đảng, nhà nước và của nhân dân trong việc thực hiện chính sách xã hội”[11]. Không có sự bảo đảm ấy, sẽ không có thành quả và cuộc sống hạnh phúc của nhân dân ngày hôm nay. Do đó, luận điệu cổ súy cho "đa nguyên, đa đảng" thực chất chỉ là chiếc mặt nạ bọc đường nhằm làm suy yếu đất nước từ bên trong, kích động tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" để mở đường cho các thế lực ngoại bang can thiệp.

4. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh, phê phán các luận điệu xuyên tạc, thù địch về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và đảng viên về cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận. Kiên định niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn từ đầu thế kỷ XXMỗi người cần thường xuyên học tập lý luận chính trị, nâng cao trình độ nhận thức, bản lĩnh chính trị, chủ động nhận diện, thấy rõ “tim đen và tội ác của các thế lực thù địch”; từ đó, ra sức đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên không gian mạng và trong đời sống xã hội.

Thứ hai, tiếp tục tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là Luật An ninh mạng; các quy tắc ứng xử trên môi trường mạng xã hội đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân để nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước về quyền thông tin, phạm vi thông tin khi tham gia các mạng xã hội.

Thứ ba, cấp ủy, người đứng đầu tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị tích cực nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của đảng viên để có biện pháp giải quyết kịp thời. Trong đó, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu về phẩm chất đạo đức, nhân cách, lối sống, trách nhiệm công vụ, nói đi đôi với làm, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đối với cán bộ, đảng viên cần tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, sẵn sàng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia - dân tộc. Nhân dân cả nước cần phát huy tinh thần đoàn kết, lao động sáng tạo, chung sức đồng lòng xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ tư, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân luôn sẵn sàng đối diện với kẻ thù tư tưởng, thường xuyên, liên tục trang bị vũ khí lý luận, khoa học công nghệ và phương tiện hiện đại trước những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng của cả hệ thống chính trị trong thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW  ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt, chuyên trách tinh gọn, đủ mạnh, có trình độ hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật, am hiểu tình hình thực tiễn của đất nước, của thế giới, có tâm huyết, bản lĩnh, dũng khí và nghệ thuật đấu tranh, vượt qua mọi cám dỗ để hoàn thành nhiệm vụ.

Kết luận

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, của Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta; đồng thời là sự bảo đảm chắc chắn để đất nước ta phát triển bền vững, giữ được môi trường hòa bình, hạnh phúc của Nhân dân. Mọi mưu đồ phủ nhận con đường lên chủ nghĩa xã hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi sướng đều nhằm mục đích làm suy yếu niềm tin, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch, xuyên tạc là nhiệm vụ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và người dân cần giữ vững lập trường, quan điểm giai cấp, tôi rèn bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin, lan tỏa thông tin đúng đắn, tích cực, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc./.

                                                                    TS. Nguyễn Thị  Thanh Hà

                                        Khoa Triết học - Học viện Chính trị khu vực II



TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 296

[2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 562.

[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.2,  Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011 tr.563.

[4]. Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, tập 2, tr. 289

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tr. 65

[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I tr. 81.

[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II tr. 19

[8]. Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 159

[9]. Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 271

[10]. Nguyễn Phú Trọng ( 2023), Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, NXB CT QG ST, trang 26-27.

[11]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II tr.65

Monday, May 25, 2026

NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Tóm tắt:

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ thông tin hiện nay, vấn đề về quyền con người ngày càng trở thành lĩnh vực bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Dưới chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, các đối tượng phản động, cơ hội chính trị thường xuyên xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong bảo đảm quyền con người, kích động tâm lý hoài nghi xã hội, hướng lái dư luận phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài viết tập trung nhận diện các luận điệu sai trái, thù địch về quyền con người; đồng thời đưa ra các luận cứ chính trị, pháp lý và thực tiễn nhằm đấu tranh phản bác những quan điểm xuyên tạc đó. Qua đó khẳng định rằng những thành tựu về dân chủ, quyền con người ở Việt Nam là khách quan, toàn diện và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

 

Từ khóa: nhận diện; quyền con người; luận điệu sai trái; thế lực thù địch; Việt Nam; đấu tranh phản bác.

Đặt vấn đề:

Quyền con người là thành quả phát triển của văn minh nhân loại, đồng thời là giá trị phổ quát được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, vấn đề dân chủ và quyền con người không chỉ mang ý nghĩa nội bộ của mỗi quốc gia mà còn có tác động lớn đến quan hệ quốc tế, phát triển bền vững và ổn định chính trị - xã hội. Đối với Việt Nam, bảo đảm quyền con người luôn là mục tiêu xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý của Nhà nước. Ngay từ khi khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 rằng: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tư tưởng đó tiếp tục được kế thừa và phát triển trong toàn bộ tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị vẫn thường xuyên lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để xuyên tạc tình hình Việt Nam. Chúng cố tình phủ nhận những thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, mở rộng dân chủ và nâng cao đời sống nhân dân. Đặc biệt, trong không gian mạng, các luận điệu sai trái được lan truyền với tốc độ nhanh chóng, tác động trực tiếp đến nhận thức chính trị và niềm tin xã hội.

Trước yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, việc nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về dân chủ và quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, bảo vệ ổn định chính trị và giữ vững định hướng phát triển của đất nước.

1.     Nhận diện các luận điệu sai trái, thù địch chủ yếu về quyền con người

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp. Một trong những luận điệu phổ biến là xuyên tạc bản chất chế độ chính trị ở Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó cổ súy cho quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng cho rằng chỉ có mô hình chính trị phương Tây mới bảo đảm dân chủ và quyền con người, qua đó từng bước thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gây mất ổn định chính trị - xã hội ở nước ta.

Bên cạnh đó, các đối tượng chống phá còn tuyệt đối hóa quyền cá nhân, cổ súy cho các giá trị nhân quyền phương Tây một cách cực đoan, tách rời quyền con người khỏi điều kiện lịch sử, văn hóa, chính trị và lợi ích quốc gia - dân tộc. Chúng cố tình phủ nhận nguyên tắc mọi quyền và tự do đều phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, từ đó xuyên tạc rằng Việt Nam “hạn chế nhân quyền”, “đàn áp dân chủ” khi xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Ngoài ra, các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng những vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tôn giáo, dân chủ để kích động tư tưởng chống đối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người. Đặc biệt, dưới danh nghĩa “xã hội dân sự”, một số tổ chức, hội nhóm không tuân thủ quy định pháp luật được hình thành nhằm tập hợp lực lượng chống đối, tạo ra các “tổ chức đối trọng” với Nhà nước. Thông qua mạng xã hội và các nền tảng truyền thông xuyên biên giới, các đối tượng này thường xuyên phát tán thông tin sai sự thật, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động tư tưởng bất mãn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Những luận điệu sai trái, thù địch nêu trên đều hướng tới mục tiêu làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Vì vậy, việc nhận diện đúng bản chất và âm mưu của các luận điệu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay. 

2.     Luận cứ đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về quyền con người ở Việt Nam

Để bác bỏ các quan điểm xuyên tạc về quyền con người ở Việt Nam, các luận cứ đấu tranh cần được xây dựng trên cơ sở khoa học, pháp lý và thực tiễn khách quan, phù hợp với luật pháp quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Thứ nhất, về tính đồng bộ và phổ biến của quyền con người, quyền con người là giá trị mang tính phổ biến của nhân loại, được cộng đồng quốc tế thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền con người không thể tách rời điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa và truyền thống pháp lý của từng quốc gia. Không có một mô hình dân chủ hay nhân quyền duy nhất áp dụng chung cho mọi quốc gia, dân tộc. Việc áp đặt các tiêu chuẩn mang tính chủ quan, phiến diện sẽ dẫn đến cách nhìn thiếu khách quan về tình hình quyền con người ở mỗi nước.

Việt Nam luôn thừa nhận và tôn trọng các quyền con người phổ quát được ghi nhận trong Liên Hợp Quốc như Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, Việt Nam nhất quán quan điểm gắn quyền con người với quyền dân tộc, độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Trong lời mở đầu của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 chỉ rõ: “... Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền[i]. Khoản 1, Ðiều 1 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 nêu rõ: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết”. Cả hai văn kiện đều đồng thời khẳng định nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết rằng tất cả các dân tộc đều có quyền tự do xác định chế độ chính trị, con đường phát triển kinh tế - xã hội, không bị ép buộc hay can thiệp từ bên ngoài. Đây là nguyên tắc phù hợp với luật pháp quốc tế và thực tiễn lịch sử của Việt Nam - một quốc gia từng trải qua chiến tranh, đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ chủ quyền đất nước.

Thứ hai, về khuôn khổ pháp lý và thực thi nhân quyền, Việt Nam đã xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng bảo đảm ngày càng đầy đủ, toàn diện hơn các quyền con người và quyền công dân, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước và các chuẩn mực pháp lý quốc tế mà Việt Nam cam kết thực hiện. Nhiều đạo luật quan trọng như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Trẻ em… đã được ban hành và sửa đổi nhằm cụ thể hóa các quyền hiến định trong thực tiễn đời sống xã hội.

Bên cạnh đó, quyền con người không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Mọi quyền và tự do đều phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Vì vậy, việc xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật không xuất phát từ quan điểm chính trị hay tư tưởng, mà là xử lý hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng. Đây cũng là nguyên tắc phổ biến được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng.

Thứ ba, về thành tựu bảo đảm quyền con người, trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và đời sống dân sinh. Qua đó, chất lượng cuộc sống của Nhân dân không ngừng được nâng cao, các quyền cơ bản của con người ngày càng được bảo đảm tốt hơn, khẳng định tính đúng đắn trong chính sách phát triển lấy con người làm trung tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Về kinh tế - xã hội, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, công tác xóa đói giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội đạt nhiều kết quả tích cực, được Liên Hợp Quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, Việt Nam vươn lên trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hàng đầu khu vực trong nhiều năm liền. Các quyền cơ bản như quyền học tập, chăm sóc sức khỏe, tiếp cận các dịch vụ xã hội ngày càng được bảo đảm tốt hơn. Đời sống của người dân không ngừng được cải thiện: thu nhập bình quân đầu người năm 2022 đạt khoảng 4.100 USD (so với chỉ 200 USD đầu thập kỷ 1990); tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh (từ 58% năm 1993 xuống dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều mới)[ii] - đồng nghĩa với hàng chục triệu người đã thoát cảnh đói nghèo cũng như quyền có mức sống tối thiểu của người dân ngày càng được đáp ứng tốt hơn. Việt Nam đã hoàn thành sớm Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc trên nhiều phương diện như xóa đói giảm nghèo, phổ cập giáo dục tiểu học, thúc đẩy bình đẳng giới, cải thiện sức khỏe người dân...

Các quyền về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, môi trường, thông tin - truyền thông… được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Chỉ số Phát triển Con người (HDI) của Việt Nam liên tục cải thiện, năm 2021 đạt 0,703[iii] - thuộc nhóm trung bình cao trên thế giới​. Quyền được học hành cũng được đảm bảo với 100% tỉnh/thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tỷ lệ biết chữ của người lớn trên 95%. Bên cạnh đó, quyền tham gia quản lý xã hội của người dân không ngừng được mở rộng. Theo công bố của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Quốc hội khóa XVI (nhiệm kỳ 2026 – 2031) có 500 đại biểu trúng cử, trong đó có 76 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 15,2%; đặc biệt lần đầu tiên có đại biểu dân tộc Ơ Đu tham gia Quốc hội. Đồng thời, tỷ lệ nữ tham gia ứng cử và trúng cử tiếp tục được chú trọng, góp phần bảo đảm quyền bình đẳng giới và quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ[iv]​. Những kết quả này cho thấy quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử và quyền tham gia quản lý đất nước của mọi công dân, trong đó có phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số, ngày càng được bảo đảm và phát huy trên thực tế.

Đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm nhu cầu tín ngưỡng chính đáng của Nhân dân. Hiện nay, Việt Nam có hàng chục triệu tín đồ tôn giáo, hàng nghìn cơ sở thờ tự và nhiều tổ chức tôn giáo được công nhận, hoạt động bình đẳng trước pháp luật. Các hoạt động tôn giáo diễn ra đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của người dân, qua đó bác bỏ những luận điệu vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo” hay “không có tự do tín ngưỡng”.

Bên cạnh đó, quyền tiếp cận thông tin và quyền tự do biểu đạt của người dân ngày càng được mở rộng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Internet và mạng xã hội tại Việt Nam. Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia có số lượng người sử dụng Internet và mạng xã hội cao trên thế giới. Người dân có thể dễ dàng tiếp cận thông tin, trao đổi quan điểm và tham gia đóng góp ý kiến về các vấn đề xã hội thông qua nhiều nền tảng khác nhau. Điều này cho thấy môi trường thông tin ngày càng cởi mở và quyền tự do của công dân ngày càng được bảo đảm trên thực tế.

Chính những kết quả toàn diện về phát triển đất nước đã tạo nền tảng vững chắc để quyền dân sự - chính trị của người dân được mở rộng và thực thi hiệu quả hơn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Quả thật, chưa bao giờ hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế lại rạng rỡ như hiện nay - một đất nước hòa bình, ổn định, đang trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế, gắn kết tích cực trong cộng đồng quốc tế và có tiếng nói ngày càng quan trọng. Chính nhờ những thành quả vẻ vang đó, các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như quyền dân sự và chính trị của người dân ngày càng được đảm bảo với chất lượng cao hơn. Không ai có thể phủ nhận rằng người dân Việt Nam hôm nay đang được thụ hưởng các quyền con người ở mức độ cao hơn nhiều so với các giai đoạn trước trong lịch sử dân tộc.

Thứ , những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế quan trọng về quyền con người của Liên Hợp Quốc như Công ước về quyền dân sự, chính trị (ICCPR), Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR), Công ước xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước quyền trẻ em (CRC), Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD). Tính đến năm 2022, Việt Nam đã gia nhập 7/9 công ước nhân quyền cốt lõi của Liên Hợp Quốc và 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)[v]. Việc chủ động ký kết, phê chuẩn các công ước này thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc đáp ứng các chuẩn mực nhân quyền quốc tế, đồng thời tạo động lực để hệ thống pháp luật quốc gia tiếp tục hoàn thiện phù hợp với thông lệ tốt của thế giới.

Thêm vào đó, Việt Nam còn tích cực thực hiện cam kết theo Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) và tăng cường hợp tác đối thoại về nhân quyền với các quốc gia. Đặc biệt, Việt Nam hai lần trúng cử liên tiếp làm Thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (nhiệm kỳ 2014–2016 và 2023–2025) với số phiếu rất cao. Việc Việt Nam được bầu vào cơ quan quan trọng hàng đầu của LHQ về quyền con người là bằng chứng rõ rệt cho thấy uy tín và niềm tin của thế giới đối với Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người ​.

Bên cạnh đó, qua cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) của Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã tự nguyện chấp thuận phần lớn các khuyến nghị về quyền con người, tích cực đối thoại, hợp tác và được nhiều quốc gia khen ngợi về thiện chí, nỗ lực cải thiện không ngừng. Rõ ràng, Việt Nam không né tránh bất cứ vấn đề nhân quyền nào, sẵn sàng trao đổi cởi mở trên tinh thần xây dựng. Điều này góp phần khẳng định sự tự tinminh bạch của chúng ta trong lĩnh vực quyền con người.​ Nói cách khác, thế giới thừa nhậntôn trọng con đường mà Việt Nam đi trong việc thúc đẩy quyền con người. Do đó, những lời cáo buộc phiến diện, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền ở Việt Nam rốt cuộc chỉ nhằm phục vụ ý đồ chính trị đen tối, chứ không phản ánh đúng thực tế.

3.  Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái về quyền con người ở Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về quyền con người ở Việt Nam hiện nay, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trên cả phương diện chính trị, pháp lý, truyền thông và thực tiễn bảo đảm quyền con người.

Thứ nhất, cần xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân”, tăng cường sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm an sinh xã hội và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân chính là cơ sở thực tiễn quan trọng nhất để phản bác các luận điệu xuyên tạc về quyền con người. Khi người dân có cuộc sống ổn định, hạnh phúc và nhận thức pháp luật tốt thì đó sẽ là sức mạnh phản bác hiệu quả nhất đối với mọi âm mưu vu cáo, chống phá.

Thứ hai, cần thực hiện hiệu quả phương châm “lấy xây để chống”, chủ động cung cấp thông tin chính xác, minh bạch về chủ trương, chính sách và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người. Các cơ quan báo chí, truyền thông và lực lượng đấu tranh trên không gian mạng cần đẩy mạnh lan tỏa thông tin tích cực, những mô hình hay, câu chuyện đẹp và các giá trị nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Việc chủ động xây dựng nền tảng nhận thức đúng đắn trong xã hội sẽ góp phần nâng cao “sức đề kháng” trước các thông tin sai trái, xuyên tạc.

Thứ ba, cần phát huy sức mạnh của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bảo vệ quyền con người và giữ vững kỷ cương pháp luật. Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng đặc biệt nhấn mạnh “Cần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”[vi]. Qua đó tạo nền tảng vững chắc để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và lợi ích quốc gia - dân tộc trong tình hình mới. Các cơ quan chức năng phải kiên quyết xử lý nghiêm minh những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc xử lý đúng pháp luật, công khai, minh bạch sẽ góp phần bảo vệ ổn định chính trị - xã hội và bác bỏ các luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Thứ tư, cần đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao đa phương, chủ động tham gia và đối thoại thẳng thắn tại các cơ chế nhân quyền của Liên Hợp Quốc như Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Thông qua các diễn đàn quốc tế, Việt Nam cần chủ động cung cấp số liệu, tài liệu xác thực và đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền trong nước. Đây là cơ sở quan trọng để khẳng định thiện chí, trách nhiệm của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người, đồng thời làm thất bại các âm mưu lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

 

Kết luận:

Quyền con người ở Việt Nam là thành quả của quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn phát triển đất nước trong nhiều năm qua đã chứng minh rằng quyền con người ở Việt Nam không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật mà còn ngày càng được bảo đảm trên thực tế thông qua những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và mở rộng quyền làm chủ của nhân dân.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị vẫn không ngừng lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, chống phá Việt Nam với nhiều thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm. Việc nhận diện đúng bản chất và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự chủ động của các cơ quan truyền thông, giáo dục, lực lượng đấu tranh trên không gian mạng và mỗi công dân trong việc nâng cao nhận thức chính trị, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước.

Nguồn: Khoa Nhà nước  và Pháp luật - Học viện Chính trị khu vực II

(1Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2023), Các văn kiện quốc tế, khu vực về quyền con người – tuyển chọn, sách tham khảo, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, trang 42.

(4)https://www.sggp.org.vn/lan-dau-tien-quoc-hoi-co-dai-dien-cua-nguoi-dan-toc-o-du-post844045.html, truy cập ngày 02/5/2026.

(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập II, tr. 285.