Tóm tắt: Luật Tín ngưỡng,
Tôn giáo (sửa đổi) với nhiều điểm mới, tạo thêm những điều kiện thuận lợi để
các tôn giáo hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
Tuy nhiên, trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã tung ra những
bài viết xuyên tạc khi cho rằng Việt Nam “không có tự do tôn giáo”; cho rằng việc
ban hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi) chỉ là “chiêu trò” còn thực chất
các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam luôn bị kiềm chế, hạn chế v.v…
Bài viết này góp phần nghiên cứu nhận diện, đưa ra luận cứ khoa học và thực tiễn
phản bác các luận điệu xuyên tạc nêu trên.
Từ
khóa: Nhận diện, phản bác, tôn giáo, luận điệu xuyên tạc, Luật
Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi).
1. Nhận diện các luận điệu xuyên tạc
Đảng Cộng sản
Việt Nam được Hiến pháp hiến định là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội và
là chính đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo bằng chủ trương, đường
lối, trong đó có các chủ trương, đường lối về tôn giáo. Là đảng duy nhất cầm
quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối
của Đảng về tôn giáo thành chính sách, pháp luật, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo là
một trong số đó.
Pháp luật
Việt Nam quy định, tất cả các tôn giáo đăng ký hoạt động đúng pháp luật, được
các cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam cấp phép đều được tôn trọng, tạo điều
kiện thuận lợi trong hoạt động, hành đạo, tu học v.v… Đó chính là sự cụ thể hóa
quan điểm của Đảng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng,
tôn giáo của người dân. Không chỉ tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng của công
dân, Đảng và Nhà nước Việt Nam còn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để các hoạt
động tôn giáo diễn ra đúng pháp luật, trong đó có các quyền của công dân từ việc
quản đạo, hành đạo, đến truyền đạo. Ở Việt Nam, các tôn giáo không chỉ thực hiện
việc “đạo” mà còn nhập thế, tham gia việc “đời” với nhiều đóng góp trên các
lĩnh vực xã hội, nhất là các hoạt động từ thiện, nhân đạo, giáo dục v.v… Cũng vậy,
các tôn giáo, tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ đã tích cực tham gia góp ý xây
dựng Đảng, xây dựng Nhà nước. Nhiều cá nhân trong các tổ chức tôn giáo tham gia
Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp, tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và có
nhiều đóng góp thiết thực cho xã hội, đất nước.
Để quản lý
đất nước, pháp luật Việt Nam cũng đề ra các quy định cụ thể để ngăn chặn các
hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng chống đối Nhà nước, chế độ, phá hoại khối
đại đoàn kết dân tộc, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì vậy, trong
thực tế đã có những người bị xử lý vì vi phạm pháp luật chứ không phải vì lý do
tôn giáo. Thế nhưng, các thế lực thù địch đã vin vào việc này để đưa ra những
luận điệu xuyên tạc, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xuyên tạc chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Các luận điệu
xuyên tạc này chủ yếu tập trung ở các nội dung:
Một là, họ cho rằng ở Việt Nam không có tự do tôn
giáo, việc ban hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo thực chất là để quản lý, hạn chế
quyền tự do tôn giáo.
Hai là, cho rằng Việt Nam không thừa nhận một số tổ chức
tôn giáo, thường xuyên đàn áp một số tín đồ theo các nhóm tôn giáo, chủ yếu là
người dân tộc thiểu số. Họ cũng vu cáo Việt Nam đã đàn áp và bắt bớ một số người
tu hành, những người đấu tranh cho tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Ba là, cho rằng Nhà nước Việt Nam có chính sách hạn chế
tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hạn chế thực hành tôn giáo.
2. Luận cứ đấu tranh, phản bác
2.1. Có phải
Việt Nam không có tự do tôn giáo?
Tôn trọng
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo là chủ
trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Ngay từ khi ra đời,
trong Chính cương vắn tắt, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, về phương diện
xã hội, “dân chúng được tự do tổ chức” (Hồ Chí Minh, 2011, t.3, tr. 1). Những
quan điểm này sau đó đã được thể hiện nhất quán trong tất cả các văn bản của Đảng,
của Nhà nước từ Cương lĩnh Chính trị đến Hiến pháp và các luật, bộ luật, nhất
là Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo.
Các tôn
giáo, tổ chức tôn giáo; số tín đồ, chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự của các
tôn giáo không ngừng phát triển sinh động trong thực tiễn:
Về tôn
giáo, tổ chức tôn giáo: Vào năm 2003,
khi Đảng ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo, ở Việt Nam mới
chỉ có 6 tôn giáo, 15 tổ chức tôn giáo thì hiện nay đã có 16 tôn giáo với 36 tổ
chức tôn giáo được công nhận. Ngoài ra còn có 4 tổ chức và 01 pháp môn được cấp
chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.
Về tín đồ: Năm 2003, Việt Nam mới chỉ có 17 triệu tín đồ thì đến
nay đã có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm khoảng 27% dân số cả nước).
Về chức
sắc, chức việc: Năm 2003, tổng số chức
sắc của các tôn giáo ở Việt Nam là 34.000, số chức việc là 78.000. Đến nay,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam có trên 54.169 tăng ni; Giáo hội Công giáo có 06
giám mục được phong hồng y, 3 tổng giám mục đương nhiệm, 46 giám mục, hơn 5.000
linh mục triều và linh mục dòng, cùng khoảng 32.000 nam nữ tu sĩ.
Về cơ sở
thờ tự: Cơ sở thờ tự của Phật giáo đã
tăng lên trên 18.544 cơ sở; đạo Công giáo có 7.771 cơ sở với 7 đại chủng viện;
đạo Tin Lành tăng từ 300 lên gần 900 cơ sở thờ tự.
Đặc biệt, về
mặt hành lang pháp lý, việc Quốc hội thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi)
năm 2026 (Luật số 07/2026/QH16, thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/01/2027) thay thế cho Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 chính
là minh chứng pháp lý đanh thép củng cố luận cứ phản bác các luận điệu cho rằng
Nhà nước “quản lý, hạn chế tôn giáo”. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi năm
2026) mang nhiều điểm mới đột phá, hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo:
Thứ nhất,
Luật sửa đổi đã cụ thể hóa đầy đủ tinh thần Hiến pháp năm 2013 và các Văn kiện
Đại hội XIII, XIV của Đảng về việc mở rộng, nâng cao hiệu lực bảo hộ quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, không phân biệt công dân hay người nước
ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
Thứ hai, Luật
bổ sung các quy định cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian
xem xét công nhận tổ chức tôn giáo, đơn giản hóa điều kiện đăng ký địa điểm
sinh hoạt tôn giáo tập trung, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các tổ chức
tôn giáo hoạt động theo đúng tôn chỉ, mục đích.
Thứ ba, Luật
đã bổ sung khung pháp lý rõ ràng, nhân văn đối với các hoạt động tôn giáo tham
gia xã hội hóa trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân
đạo và thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản trị tôn
giáo và sinh hoạt tôn giáo trực tuyến phù hợp với xu thế phát triển hiện đại.
Thứ tư, Luật
tiếp tục khẳng định nguyên tắc bình đẳng giữa các tôn giáo trước pháp luật, đồng
thời quy định công khai, minh bạch các ranh giới pháp lý nhằm nghiêm cấm mọi
hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an
toàn xã hội hoặc chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do đó, việc ban hành
Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi) không phải là "kiềm chế, hạn chế"
mà chính là tạo hành lang pháp lý an toàn, thông thoáng để các hoạt động tôn
giáo diễn ra đúng pháp luật, đồng hành cùng dân tộc.
Thực tiễn
sinh động đó là câu trả lời khách quan nhất. Trong chuyến về thăm quê hương,
ông Nguyễn Cao Kỳ - cựu Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ đã phát biểu thực
tế: chính những quan chức Mỹ đến Việt Nam đều thấy các chùa chiền được xây dựng
nhiều hơn trước, người dân tự do tín ngưỡng và đi lễ đông hơn trước, nên nói
không có tự do tôn giáo là hoàn toàn không đúng (Báo Nhân Dân online).
2.2. Về luận điệu cho rằng Việt Nam
không thừa nhận một số tổ chức tôn giáo, thường xuyên đàn áp một số tín đồ theo
các nhóm tôn giáo, chủ yếu là người dân tộc thiểu số, đàn áp và bắt bớ một số
người tu hành, những người đấu tranh cho tự do tôn giáo ở Việt Nam
Ở Việt Nam,
mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, dù là người dân tộc nào cũng có đầy
đủ quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp. Chính sách đối với đồng bào các
dân tộc thiểu số là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước,
trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Trong 16 tôn giáo hợp pháp ở Việt
Nam hiện nay, có nhiều tôn giáo có đông tín đồ là đồng bào dân tộc thiểu số như
Khmer, Chăm, H'Mông... Sách trắng "Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt
Nam" khẳng định: ở Việt Nam không có sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo,
không có mâu thuẫn, xung đột giữa các tôn giáo; người theo các tín ngưỡng, tôn
giáo khác nhau cùng chung sống hài hòa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Nghị quyết
số 25-NQ/TW khẳng định các giáo hội, tổ chức tôn giáo có đường hướng hành đạo gắn
bó với dân tộc, tôn chỉ mục đích phù hợp với pháp luật sẽ được Nhà nước xem xét
cho phép hoạt động. Trong thực tế, một số cá nhân (kể cả chức sắc, tín đồ) bị
các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý, khởi tố hoàn toàn không phải vì lý do tôn
giáo hay đấu tranh cho tự do tôn giáo, mà vì họ đã có hành vi vi phạm pháp luật,
lợi dụng tôn giáo để gây rối an ninh trật tự, chống phá Nhà nước. Các cơ quan
chức năng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định trên các diễn đàn trong nước và quốc
tế: ở Việt Nam chỉ có người vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng quy định của
pháp luật, hoàn toàn không có cái gọi là "tù nhân tôn giáo".
2.3. Về luận điệu cho rằng Nhà nước Việt
Nam có chính sách hạn chế tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hạn chế thực hành tôn
giáo
Từ khi ra đời
đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững chính sách đại đoàn kết toàn dân
tộc, tôn trọng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7
khóa IX (Nghị quyết số 25-NQ/TW) khẳng định: "Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại
lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo
đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới".
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhấn mạnh: "Tôn trọng và bảo đảm quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy
định của pháp luật".
Thể chế hóa
quan điểm của Đảng, Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: "1. Mọi người
có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các
tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc
lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật". Quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo còn được cụ thể hóa đồng bộ trong Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, Bộ luật
Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Giáo dục, Luật Tổ chức Chính phủ...
Những chủ
trương, chính sách đúng đắn và thực tiễn sinh động đó là minh chứng khoa học,
thực tiễn đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, đánh giá thiếu khách quan về tình
hình tự do tôn giáo ở Việt Nam.
3. Một số giải pháp đề xuất
Do xuất
phát từ âm mưu, chiến lược "diễn biến hòa bình", can thiệp vào công
việc nội bộ và phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch,
phản động, các luận điệu xuyên tạc về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt
Nam vẫn sẽ tiếp tục diễn ra với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp. Vấn
đề đặt ra là cần phải triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm chủ động đấu tranh,
phản bác có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc này, đồng thời đẩy mạnh thông
tin tuyên truyền giúp công luận trong và ngoài nước hiểu rõ, hiểu đúng về đường
lối, chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Một là, hiểu
đúng và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về tôn giáo. Cần tăng cường giáo dục lý luận chính trị để cán bộ, đảng
viên và nhân dân nắm vững bản chất tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó nâng cao bản lĩnh chính trị và
sức đề kháng trước các thông tin sai trái.
Hai là,
quán triệt và thực hiện nghiêm túc quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về
tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tránh thái độ ngạo mạn hoặc tranh cãi về niềm tin
tôn giáo của tín đồ. Tôn trọng đức tin chính đáng của nhân dân chính là thực hiện
lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: yêu dân, kính dân.
Ba là, nâng
cao trình độ hiểu biết toàn diện về tôn giáo cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Đúng như V.I.Lênin đã chỉ ra, đối với nhà nước thì tôn giáo là việc tư, nhưng đối
với Đảng cầm quyền thì công tác tôn giáo là nhiệm vụ chiến lược để vận động, tập
hợp quần chúng nhân dân trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bốn là, chủ
động đổi mới phương thức truyền thông, đấu tranh phản bác trên không gian mạng
trong kỷ nguyên số. Bên cạnh việc duy trì các chuyên trang, chuyên mục báo chí
truyền thống, cần chủ động phát triển các hình thức truyền thông đa nền tảng,
hiện đại (như TikTok, YouTube Shorts, Facebook Reels, Podcast, Infographics,
video ngắn) để gia tăng khả năng tiếp cận công chúng trẻ và đồng bào tín đồ tôn
giáo ở vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, chủ động, kịp thời đấu tranh, phản bác trực
tiếp các báo cáo quốc tế thiếu khách quan, xuyên tạc (như Báo cáo hàng năm của Ủy
ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ - USCIRF) bằng các luận cứ khoa học, hành
lang pháp lý vững chắc và số liệu thực tiễn sinh động; sử dụng văn phong văn
hóa, sắc bén, tính chiến đấu cao trên mặt trận tư tưởng.
Năm là, thực
hiện đối xử bình đẳng giữa các tôn giáo; phát huy vai trò tích cực của các tổ
chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tạo
điều kiện để các tôn giáo hướng thiện, đồng hành cùng dân tộc, đóng góp nguồn lực
vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, từ thiện nhân đạo.
Kết luận: Quan
điểm, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận
diện, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc
chính sách tôn giáo là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng. Việc hoàn thiện Luật
Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi năm 2026) cùng với sự chủ động đổi mới phương thức
truyền thông sẽ góp phần củng cố luận cứ vững chắc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng và giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.
Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị khu vực II
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Tôn giáo Chính phủ (2022), Tôn
giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
2. Báo Nhân Dân online (2004),
"Rồi chim lại bay về tổ".
3. C. Mác - Ph. Ăngghen (1980), Tuyển
tập, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị
quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) "Về
công tác tôn giáo" (Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003).
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn
kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự
thật, Hà Nội.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tập I, II, Nxb Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội.
8. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập
3, 4, 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
(2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội.
10. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
(2016), Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (Luật số 02/2016/QH14 ngày 18/11/2016).
11. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
(2026), Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi) (Luật số 07/2026/QH16 ngày
23/04/2026).
12. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, Tập
12, 44, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.