Tuesday, June 23, 2026

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ PHAN CHÂU TRINH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

 

Tóm tắt: Trong bối cảnh xuất hiện nhiều cách diễn giải phiến diện, thậm chí xuyên tạc về Phan Châu Trinh và lịch sử dân tộc, việc nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW. Trên cơ sở phương pháp tiếp cận lịch sử cụ thể, bài viết phân tích những đóng góp của Phan Châu Trinh đối với phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX qua tư tưởng “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, đồng thời làm rõ những giới hạn lịch sử của khuynh hướng cải cách trong bối cảnh Việt Nam thuộc địa. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số biểu hiện xuyên tạc hiện nay như tuyệt đối hóa khuynh hướng cải cách, đối lập hóa các con đường cứu nước và xuyên tạc cách nhìn nhận, đánh giá đối với Phan Châu Trinh. Từ việc phân tích bối cảnh lịch sử cụ thể, bài viết khẳng định rằng các khuynh hướng yêu nước đương thời, tuy khác nhau về phương thức nhưng đều hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc. Đồng thời, việc đánh giá Phan Châu Trinh cần được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa những đóng góp lịch sử và những giới hạn khách quan của thời đại. Qua đó, bài viết góp phần khẳng định cách nhìn khách quan, toàn diện đối với Phan Châu Trinh và phong trào yêu nước Việt Nam giai đoạn này, đồng thời nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; Phan Châu Trinh; phong trào yêu nước Việt Nam.

1. Mở đầu

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam cận đại, con đường cách mạng giải phóng dân tộc là kết quả tất yếu của thực tiễn đất nước, trong bối cảnh các khuynh hướng cứu nước đương thời chưa thể đáp ứng yêu cầu giành độc lập. Trên cơ sở đó, việc nhận thức đúng về các tư tưởng và con đường cứu nước đầu thế kỷ XX. Trong đó tư tưởng Phan Châu Trinh, có ý nghĩa quan trọng đối với việc đánh giá khách quan tiến trình phát triển của dân tộc.

Phan Châu Trinh là một nhà tư tưởng canh tân tiêu biểu đầu thế kỷ XX, đại diện cho khuynh hướng cải cách. Tư tưởng của ông tập trung vào việc nâng cao dân trí, phát huy dân quyền và đề cao vai trò của nhân dân trong công cuộc đổi mới đất nước. Những tư tưởng này đã góp phần thúc đẩy sự chuyển biến trong nhận thức chính trị - xã hội Việt Nam thời cận đại, từ chỗ đề cao quân quyền sang chú trọng dân quyền và ý thức công dân. Tuy nhiên, hiện nay một số luận điệu đã lợi dụng việc tôn vinh và kỷ niệm ngày sinh của Phan Châu Trinh để đưa ra những cách diễn giải phiến diện về quá khứ. Các quan điểm này thường tách tư tưởng Phan Châu Trinh khỏi điều kiện lịch sử đương thời, từ đó tuyệt đối hóa khuynh hướng cải cách và phủ nhận tính tất yếu của con đường cách mạng giải phóng dân tộc.Đồng thời, chúng xuyên tạc việc đánh giá Phan Châu Trinh bằng cách đồng nhất những hạn chế mang tính lịch sử của khuynh hướng cải cách với sự phủ nhận tinh thần yêu nước và những đóng góp của ông đối với phong trào yêu nước Việt Nam. Qua đó, các luận điệu này tạo dựng sự đối lập giữa Phan Châu Trinh với cách mạng Việt Nam cũng như giữa các khuynh hướng yêu nước cùng thời.

Những cách diễn giải đó không chỉ làm sai lệch nhận thức về các nhân vật lịch sử mà còn dẫn tới cách nhìn thiếu khách quan về tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, việc làm rõ giá trị, đóng góp và giới hạn lịch sử của tư tưởng Phan Châu Trinh có ý nghĩa cả về phương pháp luận và thực tiễn đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Qua đó góp phần khẳng định cách nhìn nhận khách quan, toàn diện đối với Phan Châu Trinh trong tiến trình cách mạng, củng cố nhận thức đúng đắn về con đường cách mạng Việt Nam và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị.

2. Nhận diện và đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về Phan Châu Trinh

2.1. Nhận diện và phản bác các luận điệu tuyệt đối hóa tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh

Một số luận điệu trên mạng xã hội và các bài viết mang tính suy diễn đã đưa ra những giả định lịch sử rằng: “nếu còn sống đến sau năm 1945 thì Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học thành phản động và thậm chí có thể bị Việt Minh tiêu diệt”. Đồng thời, cũng xuất hiện cách lập luận tuyệt đối hóa con đường “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, cho rằng nếu Việt Nam lựa chọn cải cách ôn hòa thay vì đấu tranh cách mạng thì có thể tránh được chiến tranh, hy sinh và mất mát trong thế kỷ XX. Các quan điểm này hàm ý phủ nhận tính tất yếu của con đường cách mạng giải phóng dân tộc.

Về bản chất, đây là những cách tiếp cận mang tính suy diễn, không đặt các nhân vật và khuynh hướng cứu nước trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Từ đó, chúng đưa ra những kết luận thiếu cơ sở khoa học, biến sự khác biệt về phương pháp cứu nước thành sự đối lập về lập trường, nhằm tạo ra nhận thức sai lệch về các lực lượng yêu nước phong trào giải phóng dân tộc. Đồng thời, cách tiếp cận này làm giản lược tiến trình lịch sử, khi quy các khuynh hướng chính trị đa dạng thành những xung đột về mục tiêu. Thứ nhất, đồng nhất sự khác biệt về phương thức hành động với sự khác biệt về lập trường dân tộc; Thứ hai, quy các khuynh hướng yêu nước khác nhau thành những lực lượng đối lập, qua đó làm suy giảm nhận thức về tính kế thừa, bổ sung và phát triển trong truyền thống yêu nước Việt Nam.

Trong thực tế lịch sử, “Phan Châu Trinh là ngọn cờ dân chủ mạnh mẽ nhất, tiêu biểu cho trào lưu canh tân đất nước vào đầu thế kỷ XX”[i]. Trong tư tưởng của ông, trọng tâm là nâng cao dân trí và phát huy dân quyền như nền tảng của công cuộc canh tân đất nước. Quan điểm này được thể hiện rõ trong sự coi trọng giáo dục và học vấn của ông. Phan Châu Trinh từng khẳng định: “Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào, là Chi bằng học”[ii]. Lời kêu gọi ấy phản ánh niềm tin của ông vào vai trò của tri thức và sự thức tỉnh của nhân dân như tiền đề cho quá trình duy tân đất nước.

Trên cơ sở đó, Phan Châu Trinh đề cao dân quyền như một điều kiện quan trọng để chuyển biến xã hội từ chế độ quân chủ sang một thiết chế đề cao vai trò chủ thể của nhân dân. Đây chính là cốt lõi tư tưởng quan trọng gắn với chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, qua đó tạo tiền đề cho sự hình thành ý thức công dân trong xã hội Việt Nam thời cận đại. Tuy nhiên, trong bối cảnh đương thời, đây không phải là con đường cứu nước duy nhất. Cùng thời kỳ đó, bên cạnh khuynh hướng cải cách còn xuất hiện các khuynh hướng cứu nước khác. Tiêu biểu là khuynh hướng bạo động do Nguyễn Thái Học đại diện, chủ trương sử dụng đấu tranh vũ trang chống lại ách thống trị thực dân. Mặc dù có sự khác biệt về cách thức hành động, các lựa chọn này đều xuất phát từ lòng yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc. Do đó, việc cố tình xem các khuynh hướng đó như những lực lượng loại trừ lẫn nhau là cách nhìn mang tính một chiều, không phản ánh đúng bản chất của phong trào yêu nước Việt Nam giai đoạn cận đại.

Để nhìn nhận đúng giá trị và giới hạn của tư tưởng cải cách Phan Châu Trinh, cần đặt khuynh hướng này trong bối cảnh lịch sử cụ thể của xã hội Việt Nam thuộc địa. Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, quyền tự quyết dân tộc bị tước bỏ, mọi hoạt động chính trị - xã hội đều chịu sự khống chế của bộ máy cai trị thuộc địa. Trong hoàn cảnh đó, yêu cầu khách quan của lịch sử không chỉ dừng lại ở cải cách xã hội mà trước hết là giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc và khôi phục chủ quyền quốc gia. Từ cách tiếp cận lịch sử cụ thể, có thể thấy rằng việc tuyệt đối hóa vai trò của khai dân trí và từ đó phủ nhận tính tất yếu của đấu tranh cách mạng là một cách nhìn phi lịch sử, do đã tách rời tư tưởng cải cách khỏi những điều kiện cấu trúc của chế độ thuộc địa. Nhiều nghiên cứu cho thấy đây là giai đoạn “cường quyền thịnh hành, hơn được yếu thua”[iii]. Khi quyền lực chính trị - quân sự hoàn toàn thuộc về chính quyền thực dân, các hoạt động vận động ôn hòa khó có điều kiện phát huy hiệu quả. Do đó, những giải pháp mang tính cải lương và khai hóa không đủ khả năng giải quyết triệt để nhiệm vụ giành độc lập dân tộc. Thực tiễn đã chứng minh rõ điều này: mặc dù Phan Châu Trinh kiên trì chủ trương cải cách ôn hòa và bất bạo động, nhưng sau phong trào chống thuế Trung Kỳ năm 1908, chính quyền thực dân Pháp vẫn kết án ông tử hình (sau giảm xuống khổ sai chung thân) và đày ra Côn Đảo[iv]. Điều đó cho thấy chính quyền thực dân không khoan nhượng với bất kỳ khuynh hướng yêu nước nào, dù ôn hòa hay bạo động. Từ thực tiễn đó có thể lý giải vì sao các cuộc vận động cải cách đầu thế kỷ XX, trong đó có phong trào Duy Tân, có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao dân trí và khơi dậy tinh thần dân tộc, nhưng chưa thể giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc trong điều kiện thuộc địa.

Không chỉ thực tiễn lịch sử, mà chính những quan điểm được Phan Châu Trinh thể hiện trong giai đoạn cuối đời cũng cho thấy ông không xem cải cách ôn hòa là lựa chọn duy nhất cho sự nghiệp cứu nước. Trong thư gửi Nguyễn Ái Quốc từ Marseille ngày 18/02/1922, ông cho rằng cần “phải trở về ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công”[v]. Đồng thời, ông cũng khuyến khích Nguyễn Ái Quốc đem chủ nghĩa của “ông Mã Khắc Tư, ông Lý Ninh” (Mác - Lênin) về “quảng cáo cho quốc dân đồng bào”[vi]. Nội dung này cho thấy nhận thức của Phan Châu Trinh về con đường cứu nước đã có những thay đổi nhất định. Ông không phải là người tuyệt đối hóa một cách cứng nhắc con đường cải cách ôn hòa như một số luận điệu xuyên tạc hiện nay cố tình gán ghép.

Do đó, việc lịch sử lựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc không phải là sự phủ định giá trị của trào lưu canh tân, mà là kết quả của những điều kiện lịch sử khách quan. Việc tuyệt đối hóa con đường cải cách ôn hòa để phủ nhận tính tất yếu của đấu tranh cách mạng là cách diễn giải thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Từ đó, các luận điệu quy sự khác biệt về phương thức cứu nước thành sự đối lập tuyệt đối giữa cải cách và cách mạng là cách nhìn phiến diện, không phản ánh đúng các khuynh hướng yêu nước trong lịch sử dân tộc. Việc đánh giá Phan Châu Trinh cần được đặt trên quan điểm biện chứng và toàn diện: vừa ghi nhận những đóng góp quan trọng của ông đối với quá trình thức tỉnh dân quyền và dân chủ, vừa nhận thức rõ giới hạn lịch sử của khuynh hướng cải cách trong bối cảnh thuộc địa.

2.2. Nhận diện và phản bác các luận điệu xuyên tạc về đánh giá đối với Phan Châu Trinh

Một số luận điệu hiện nay cố tình xuyên tạc cách nhìn nhận và đánh giá đối với Phan Châu Trinh trong đời sống chính trị - xã hội Việt Nam, cho rằng ông chỉ được nhìn nhận như một người “cải lương”, “ỷ Pháp”, “mong giặc rủ lòng thương”, qua đó hạ thấp hoặc phủ nhận những đóng góp của ông đối với phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX. Từ đó hình thành ba luận điệu xuyên tạc chủ yếu: Một là, chúng cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam có thái độ phủ nhận hoặc hạ thấp vai trò lịch sử của Phan Châu Trinh; Hai là, chúng đồng nhất việc chỉ ra những hạn chế lịch sử của đường lối cải cách với việc phủ nhận tinh thần yêu nước và những đóng góp của ông; Ba là, chúng tạo dựng sự mâu thuẫn giữa Phan Châu Trinh với con đường cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Trên thực tế, những luận điệu này bắt nguồn từ thủ đoạn cắt ghép, nhào nặn lịch sử theo kiểu “gọt chân cho vừa giày”. Sự ngụy biện này xuất phát từ sự đánh tráo khái niệm: cố tình không phân biệt giữa tôn vinh giá trị nhân vật với việc nhận diện giới hạn của một con đường cứu nước. Trong nhận thức khoa học, việc chỉ ra những hạn chế khách quan của một khuynh hướng cứu nước không đồng nghĩa với việc phủ nhận tinh thần yêu nước hay những giá trị của các nhân vật đại diện cho xu hướng đó.

Trên phương diện nghiên cứu lịch sử, việc đánh giá các nhân vật cần quán triệt nguyên tắc lịch sử cụ thể, đặt họ trong bối cảnh thời đại để xem xét đầy đủ cả những đóng góp và giới hạn của từng khuynh hướng cứu nước, tránh tuyệt đối hóa hoặc phủ định một chiều. Quan điểm này được thể hiện nhất quán trong nhiều tư liệu và công trình nghiên cứu về Phan Châu Trinh. Theo đó, ông được ghi nhận là một chí sĩ yêu nước tiêu biểu trong phong trào yêu nước thời cận đại, có vai trò to lớn đối với phong trào dân chủ và canh tân đất nước. Trong thời gian hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện sự trân trọng đối với Phan Châu Trinh khi gọi ông là “Hy Mã nghi bá đại nhơn” (bác Hy Mã đáng kính) và “nhà ái quốc”[vii]. Cách xưng hô này cho thấy sự đánh giá tích cực của Nguyễn Ái Quốc đối với lòng yêu nước, nhân cách và những cống hiến của Phan Châu Trinh đối với dân tộc. Đồng thời, Phan Bội Châu từng thừa nhận sức lan tỏa của tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh: “Ông Phan đem hai chữ dân quyền hò hét trong nước như một tiếng sấm vang…”[viii]. Ngoài ra, Nguyễn Sinh Sắc - thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ghi nhận Phan Châu Trinh là “Nam Quốc Dân quyền tiên tổ chức” (người tổ chức dân quyền đầu tiên ở nước Nam này)[ix].

Bên cạnh đó, khuynh hướng cải cách của Phan Châu Trinh phải được đặt trong giới hạn lịch sử của bối cảnh thuộc địa nhằm xác định đúng vị trí và ý nghĩa của nó trong tiến trình phát triển tư tưởng dân tộc. Quan điểm này cũng được phản ánh qua một số nhận định học thuật, tiêu biểu như Hoàng Xuân Hãn khi cho rằng “những tư tưởng của Phan Châu Trinh về cơ bản vẫn còn giá trị lớn đối với xã hội ta ngày nay”[x]. Nhận định này cho thấy một số giá trị tư tưởng của Phan Châu Trinh vẫn có ý nghĩa tham khảo vượt ra ngoài bối cảnh lịch sử cụ thể. Sự ghi nhận đó không chỉ được thể hiện qua việc đặt tên đường, trường học và các công trình công cộng mang tên Phan Châu Trinh tại nhiều địa phương trên cả nước, mà còn được phản ánh qua các hoạt động khoa học và văn hóa như tổ chức hội thảo về tư tưởng Phan Châu Trinh, xuất bản, tái bản các tuyển tập tác phẩm của ông, cũng như bảo tồn và phát huy giá trị các di tích gắn với cuộc đời, sự nghiệp của ông. Những hoạt động này cho thấy Phan Châu Trinh luôn được nhìn nhận là một nhà yêu nước và nhà canh tân có vị trí quan trọng trong lịch sử dân tộc. Từ những dữ kiện trên có thể khái quát rằng, trong các công trình nghiên cứu chính thống, Phan Châu Trinh được đánh giá trên cơ sở khách quan và toàn diện: vừa ghi nhận những đóng góp về tư tưởng và tinh thần yêu nước, vừa xem xét chúng trong những điều kiện, giới hạn cụ thể của xã hội thuộc địa.

Tính nhất quán trong cách nhìn nhận đó còn thể hiện ở quan niệm về mối quan hệ kế thừa giữa các khuynh hướng yêu nước đầu thế kỷ XX. Sự khác biệt về phương thức cứu nước không đồng nghĩa với sự đối lập về mục tiêu dân tộc. Các khuynh hướng yêu nước được nhìn nhận trong mối quan hệ kế thừa và phát triển, cùng góp phần vào tiến trình vận động của lịch sử dân tộc hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, chứ không phải trong quan hệ phủ định lẫn nhau. Vì vậy, những cách diễn giải cho rằng Phan Châu Trinh bị hạ thấp hoặc tồn tại sự đối lập tất yếu giữa ông với cách mạng Việt Nam đều mang tính phiến diện, không phù hợp với thực tiễn lịch sử.

3. Kết luận

Thực tiễn đấu tranh và những phân tích khoa học khẳng định Phan Châu Trinh là một trí thức yêu nước tiêu biểu, một nhà canh tân có ảnh hưởng lớn đầu thế kỷ XX. Di sản tư tưởng của ông về “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” đã góp phần quan trọng vào việc thức tỉnh ý thức công dân và định hình tư duy dân chủ thời cận đại; giá trị tiến bộ từ đó tiếp tục được kế thừa, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc lợi dụng danh xưng và tư tưởng của ông để tuyệt đối hóa con đường cải lương, từ đó phủ nhận tính tất yếu của đấu tranh cách mạng, là những cách diễn giải xuyên tạc cần được nhận diện và phê phán trên cơ sở khoa học. Cách tiếp cận này đã tách nhân vật khỏi điều kiện tồn tại của xã hội thuộc địa, qua đó biến sự khác biệt về phương thức cứu nước thành sự đối lập cực đoan về quan điểm chính trị.

Đánh giá các nhân vật lịch sử cần dựa trên quan điểm biện chứng và lịch sử cụ thể. Điều đó đòi hỏi phải vừa ghi nhận những đóng góp của họ đối với dân tộc, vừa phân tích khách quan các điều kiện lịch sử quy định sự hình thành, phát triển và giới hạn của từng khuynh hướng cứu nước. Việc phản bác các luận điệu xuyên tạc về Phan Châu Trinh không chỉ góp phần bảo vệ sự thật lịch sử khách quan, củng cố nhận thức đúng đắn về phong trào yêu nước Việt Nam, mà còn trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay. Qua đó cho thấy việc nghiên cứu và đánh giá Phan Châu Trinh cần được đặt trong chỉnh thể lịch sử dân tộc, tránh cả khuynh hướng tuyệt đối hóa lẫn phủ định sạch trơn những giá trị mà ông để lại./.

                             NCS.ThS.Nguyễn Hạnh Quyển - Học viện Chính trị khu vực II

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chương Thâu, 2007, Phan Châu Trinh: Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

2. Đỗ Bang, 2023, Học thuyết canh tân của Phan Châu Trinh một bước ngoặt dân chủ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX, in trong kỷ yếu hội thảo khoa học Tư tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng.

3. Lê Thị Kinh (Phan Thị Minh), 2003, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới (Tập 2), Nxb Đà Nẵng.

4. Nguyễn Hồng Sơn, 2023, Triết luận Phan Châu Trinh và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp phát triển văn hóa - giáo dục hiện nay, in trong kỷ yếu hội thảo khoa học Tư tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng.

5. Nguyễn Quang Thắng, 2007, Phan Châu Trinh - Cuộc đời và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.

6. Nguyễn Văn Dương, 2006, Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

7. Nhiều tác giả, 2026, Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia Chí sĩ Phan Châu Trinh tư tưởng, cuộc đời và sự nghiệp (Tập 1), Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM.

8. Tỉnh ủy Quảng Nam, 2000, Bác Hồ với đất Quảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Trần Dân Tiên, 2004, Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.


[i] Đỗ Bang, (2023), Học thuyết canh tân của Phan Châu Trinh một bước ngoặt dân chủ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX, in trong kỷ yếu hội thảo khoa học Tư tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, tr.16.

[ii] Nguyễn Văn Dương, (2006), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.685.

[iii] Dẫn theo Nguyễn Văn Dương, (2006), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.388.

[iv] Nguyễn Quang Thắng, (2007), Phan Châu Trinh - Cuộc đời và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.

[v] Bức thư của Phan Châu Trinh gửi Nguyễn Ái Quốc, (1922), https://vienphanchautrinh.org/buc-thu-cua-phan-chau-trinh-gui-nguyen-ai-quoc/. truy cập ngày 18/6/2026.

[vi] Bức thư của Phan Châu Trinh gửi Nguyễn Ái Quốc, (1922), https://vienphanchautrinh.org/buc-thu-cua-phan-chau-trinh-gui-nguyen-ai-quoc/. truy cập ngày 18/6/2026.

[vii] Tỉnh ủy Quảng Nam, (2000), Bác Hồ với đất Quảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[viii] Dẫn theo Nguyễn Hồng Sơn, (2023), Triết luận Phan Châu Trinh và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp phát triển văn hóa - giáo dục hiện nay, in trong kỷ yếu hội thảo khoa học Tư tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, tr.70.

[ix] Dẫn theo Nguyễn Hồng Sơn, (2023), “Triết luận Phan Châu Trinh và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp phát triển văn hóa - giáo dục hiện nay”, in trong kỷ yếu hội thảo khoa học Tư tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, tr.70.

[x] Chương Thâu, (2007), Phan Châu Trinh: Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.131.

Monday, June 8, 2026

Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam

 


Một số điểm mới, bổ sung, phát triển về lý luận chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

 


Nhất thể hóa chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước hướng tới một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân

 


Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - Nội dung cốt lõi trong lý luận về đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 2026)

 


Giáo dục lý luận chính trị với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới

 


Nhận diện và đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân

 


Phường, xã xã hội chủ nghĩa: Thước đo chân thực của mô hình phát triển Việt Nam

 


"Lý luận về đường lối đổi mới - thành tố mới trong nền tảng tư tưởng của Đảng đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Kỳ 2: Hiện thực hóa lý luận về đường lối đổi mới - Đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc"

 


Nói ít, làm nhiều, làm đến cùng - cam kết chính trị của Đảng trong kỷ nguyên mới

 


Phản bác luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay

 


Monday, June 1, 2026

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM THÙ ĐỊCH, XUYÊN TẠC SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

 

Tóm tắt

Sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả của quá trình khảo nghiệm thực tiễn lịch sử dân tộc và tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, các thế lực thù địch gia tăng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng bằng nhiều phương thức tinh vi, tập trung phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn. Bài viết làm rõ cơ sở khách quan và tính tất yếu của sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhận diện các luận điệu sai trái, thù địch hiện nay; đồng thời luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đấu tranh, phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Từ khóa: Chủ nghĩa xã hội; Hồ Chí Minh; bảo vệ nền tảng tư tưởng; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái.

1.  Cơ sở khách quan và tính tất yếu trong sự lựa chọn con đường đi lên của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả của quá trình thực tiễn cách mạng thế giới, thực tiễn lịch sử dân tộc và sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Thứ nhất, xuất phát từ sự khủng hoảng đường lối cứu nước trong nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam chìm trong đêm tối của ách đô hộ thực dân Pháp. Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp thời kỳ này đã chứng minh sự bế tắc của các hệ tư tưởng cũ như khuynh hướng phong kiến (Phong trào Cần Vương) đã lỗi thời và không còn khả năng tập hợp sức mạnh toàn dân tộc. Khuynh hướng dân chủ tư sản (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh), đều không thể giải quyết triệt để mâu thuẫn dân tộc và yêu cầu giải phóng đất nước.

Thứ hai, xuất phát từ xu thế khách quan của thời đại, Hồ Chí Minh trong quá trình đi tìm đường cứu dân, cứu nước, qua thực tiễn lao động và quan sát tại Pháp, Anh, Mỹ, Người nhận ra bản chất của các cuộc cách mạng tư sản (Cách mạng Mỹ 1776, Cách mạng Pháp 1789) là những cuộc cách mạng "chưa đến nơi". "Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa."[1]. Điều đó đặt ra yêu cầu lịch sử phải tìm kiếm một con đường cứu nước mới. Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng vô sản là con đường duy nhất đúng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc xâm lược, bọn địa chủ phong kiến phản động để giành độc lập, tự do. Nhờ đó những mâu thuẫn cơ bản ở các nước thuộc địa nói chung, Việt Nam nói riêng mới thực sự được giải quyết triệt để. Bởi, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn độc quyền (chủ nghĩa đế quốc), biến hệ thống thuộc địa thành một mắt xích không thể tách rời. Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc, cuộc cách mạng thuộc địa phải là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới.

Thứ ba, sự gặp gỡ mang tính tất yếu của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga. Tháng 7/1920, Hồ Chí Minh đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin. Đây chính là bước ngoặt quyết định lý giải tính tất yếu trong sự lựa chọn của Người. Luận cương của Lênin đã chỉ rõ con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức gắn liền với cách mạng vô sản. Trong bài viết Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, Người xúc động chia sẻ: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!'"[2]. Hồ Chí Minh đã tìm thấy được con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, đó là con đường cách mạng vô sản, để rồi Người từng bước hiểu ra và đi đến kết luận: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[3].

Thứ tư, sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh xuất phát từ đặc điểm lịch sử - xã hội của Việt Nam. Bước vào thời kỳ hiện đại, dân tộc Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, nền kinh tế lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp, Người chỉ đã chỉ ra rằng, chỉ có giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản mới đủ khả năng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc gắn với mục tiêu xây dựng xã hội mới. Đó là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng, của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người viết: “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[4]. Đó là sự lựa chọn phù hợp với quy luật phát triển của thời đại, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội của xã hội Việt Nam đương thời. Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 95 năm qua đã chứng minh tính đúng đắn của sự lựa chọn này. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua, Đảng ta khẳng định bài học số một là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”[5].

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thống nhất quan điểm chỉ đạo: “Kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác- LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới. Kiên định các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của đảng. Để thúc đẩy bền vững phát triển đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của nhân dân, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[6]. Nhờ sự kiên định với mục tiêu, lý tưởng đó, mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như đạt được nhiều thành tựu trong sự nghiệp 40 năm đổi mới.

Như vậy, sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả tất yếu của lịch sử dân tộc và thời đại. Đó là sự lựa chọn dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn và nhân văn sâu sắc; đồng thời được kiểm nghiệm bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong gần một thế kỷ qua. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để phản bác các luận điệu xuyên tạc cho rằng Hồ Chí Minh lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là “sai lầm lịch sử”, “đi ngược quy luật phát triển” hoặc “không phù hợp với thời đại”.

2.     Nhận diện các luận điệu thù địch, xuyên tạc về sự lựa chọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

             Nội dung các quan điểm phủ nhận sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là các quan niệm, lập luận, ý kiến nhằm bác bỏ những vấn đề cốt lõi của lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Một là, các thế lực thù địch đã bác bỏ luận điệu cho rằng chủ nghĩa xã hội đã kết thúc sau biến cố Đông Âu và Liên Xô. Các luận điệu phản động đã lợi dụng sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu để rêu rao rằng lý tưởng này đã “hết thời” hoặc “bị khai tử”. Từ đó, chúng quy chụp việc Việt Nam kiên trì mục tiêu này là “lội ngược dòng lịch sử”. Tuy nhiên, đây là sự đánh tráo khái niệm đầy ác ý khi đồng nhất sự sụp đổ của một mô hình tổ chức cụ thể với sự thất bại của cả một hệ tư tưởng khoa học (chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh). Thực tế lịch sử chứng minh, chủ nghĩa xã hội không hề biến mất như lời cáo buộc; nhiều quốc gia vẫn đang định hình lối đi riêng đầy sức sống. Đặc biệt, những thành tựu đổi mới của Việt Nam là minh chứng sống động cho một mô hình phát triển sáng tạo, bám sát thực tiễn đất nước chứ không phải là sự rập khuôn mù quáng.

Hai là, các thế lực thù địch phản bác quan điểm đối lập giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa. Một chiêu trò ngụy biện nhằm khẳng định kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội là hai thái cực loại trừ nhau, từ đó ép buộc Việt Nam phải ngả hẳn sang con đường tư bản chủ nghĩa để phù hợp với "xu thế khách quan". Thực chất, đây là âm mưu phủ nhận thành quả đổi mới của Đảng ta trong suốt quá trình đổi mới. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang vận hành là sự vận dụng đột phá: vừa giải phóng sức sản xuất và huy động tối đa các nguồn lực kinh tế, vừa duy trì vai trò điều tiết của Nhà nước nhằm đảm bảo tính bền vững, lấy con người làm trung tâm và phục vụ lợi ích tối cao của nhân dân lao động thay vì lợi nhuận cho một nhóm thiểu số như các thế lực thù địch từng đề cập.

Ba là, các thế lực thù địch lợi dụng các mặt trái xã hội để bôi nhọ bản chất chế độ xã hôi chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Chúng thường chớp lấy các vấn đề nhức nhối mang tính hiện tượng như tham nhũng, lãng phí, phân hóa giàu nghèo hay tệ nạn xã hội để quy kết thành “bản chất hệ thống” của chế độ ta, hòng gieo rắc sự hoài nghi và bi quan trong dư luận. Đây là thủ đoạn "vơ đũa cả nắm", cố tình phớt lờ thực tế rằng bất kỳ thể chế nào trong quá trình phát triển cũng phải đối mặt với những tiêu cực phát sinh. Điểm mấu chốt tạo nên sự khác biệt là Đảng và Nhà nước Việt Nam chưa bao giờ né tránh mà luôn quyết liệt chỉnh đốn đội ngũ, hệ thống chính trị và hoàn thiện luật pháp. Những quyết sách mang tính chiến lược gần đây như tinh gọn bộ máy hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp chính là hành động thực tế để tối ưu hóa quản trị và làm trong sạch bộ máy nhà nước hiện nay.

Bốn là, các đối tượng chống phá tìm mọi cách phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ta, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, “kiến tạo xã hội dân sự”, coi đó là điều kiện để phát triển đất nước. Luận điệu này nhằm từng bước xóa bỏ nền tảng chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Từ đó chúng tác động nhằm gây mất ổn định chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; hủy hoại sự thống nhất giữa “ý Đảng - lòng dân”. Mưu đồ thâm độc và nguy hiểm này đã phá vỡ sự đồng thuận xã hội và chia rẽ mối quan hệ khăng khít giữa Đảng với Nhân dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng và hạnh phúc của Nhân dân ta; mọi âm mưu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đều đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc và sự bình yên của đất nước.

Tất cả các luận điệu xuyên tạc trên thực chất là một chiến dịch "diễn biến hòa bình" tinh vi trên mặt trận tư tưởng. Mục tiêu cuối cùng của chúng là làm lung lay niềm tin của người dân vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ đã lựa chọn. Vì vậy, việc lật tẩy các thủ đoạn này không chỉ giúp bảo vệ nền tảng tư tưởng độc lập, mà còn củng cố sức mạnh đoàn kết toàn dân trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay.

Có thể nói, các thủ đoạn chống phá của các thế lực địch về sự lựa chọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch hồ Chí Minh có đặc điểm: Một là, trộn lẫn thật - giả nhằm tạo cảm giác khách quan. Chúng thường lợi dụng những hạn chế có thật trong quản lý xã hội để suy diễn thành bản chất của chế độ. Hai là, khai thác tâm lý bất mãn và khoảng trống thông tin. Khi xảy ra các sự kiện nhạy cảm, các đối tượng lập tức tung tin thất thiệt nhằm định hướng dư luận. Ba là, sử dụng “người trong cuộc”, “chuyên gia tự xưng” hoặc các tài khoản ẩn danh để tạo tính thuyết phục giả tạo. Bốn là, cá nhân hóa nội dung chống phá. Các thuật toán mạng xã hội giúp thông tin sai lệch tiếp cận đúng nhóm đối tượng có tâm lý dao động hoặc thiếu bản lĩnh chính trị. Năm là, quốc tế hóa vấn đề nội bộ của Việt Nam thông qua các tổ chức phi chính phủ, báo chí nước ngoài hoặc diễn đàn quốc tế. Những thủ đoạn trên cho thấy cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay diễn ra quyết liệt, phức tạp và mang tính lâu dài. Do đó, việc nhận diện đúng bản chất các luận điệu sai trái, thù địch là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

3.     Luận cứ khoa học đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, thực tiễn lịch sử và thành tựu đổi mới là minh chứng đập tan các luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiến trình cách mạng Việt Nam chính là thước đo khách quan nhất khẳng định tính đúng đắn trong quyết sách của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện vọng của toàn dân tộc. Nhìn lại bối cảnh đất nước nghèo đói sau chiến tranh trước cột mốc năm 1986, chúng ta mới thấy hết giá trị của chặng đường đã qua. Trải qua bốn thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích mang tính bước ngoặt: từ một quốc gia lạc hậu vươn lên thành một nền kinh tế năng động, đời sống người dân được nâng cao rõ rệt, cùng uy tín quốc tế ngày càng vững chắc. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Nhìn lại 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, kinh tế duy trì tốc độ phát triển tương đối nhanh, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, các lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản, toàn diện. Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện. Vai trò lãnh đạo, uy tín của đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.”[7]. Những quả ngọt thực tế này là luận cứ đanh thép nhất để bác bỏ hoàn toàn các quan điểm sai trái, xuyên tạc cho rằng lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam là "sai lầm lịch sử" hay "đi ngược lại xu thế".

Thứ hai, bản chất khoa học, sáng tạo trong lý luận về chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho dân giàu, nước mạnh, nhân dân được tự do, hạnh phúc Người nhấn mạnh: "mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân"[8]. “Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động"[9][1]. Đây là luận điểm có giá trị phản bác trực diện những luận điệu xuyên tạc bản chất của chủ nghĩa xã hội. Theo Người, xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội. Điều này chứng minh chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam là một thực thể phát triển linh hoạt và giàu tính thực tiễn. Vì thế, luận điệu quy chụp rằng phát triển kinh tế thị trường buộc phải từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa là cái nhìn phiến diện, hoàn toàn thiếu căn cứ khoa học.

Thứ ba, phân định rõ ràng giữa hiện tượng tiêu cực phát sinh với bản chất tốt đẹp của chế độ. Những góc khuất xã hội như nạn tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái đạo đức hay hố sâu phân hóa giàu nghèo tuyệt đối không phải là thuộc tính bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây thực chất là những hệ lụy tất yếu nảy sinh trong giai đoạn quá độ và phát triển kinh tế, vốn là bài toán chung của mọi quốc gia trên thế giới. Điểm mấu chốt là Đảng và Nhà nước ta không hề che giấu mà luôn chủ động, kiên quyết dứt điểm các căn bệnh này. Trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” ( 2023) của cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, tại Phần thứ nhất( Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt nam), cố Tổng Bí thư đã hệ thống hóa và đưa ra các số liệu tổng kết thực tiễn rất cụ thể, chính xác về kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta trong giai đoạn 10 năm (2012 - 2022) kể từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị. Số liệu về xử lý kỷ luật Đảng và cán bộ diện Trung ương quản lý: cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý. Trong đó có: 33 Ủy viên và nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang[10]. Công tác chỉnh đốn Đảng, cuộc chiến chống tham nhũng được thực hiện không ngừng nghỉ với quyết tâm chính trị cao nhất nhằm thanh lọc bộ máy và củng cố lòng tin trong nhân dân. Hành động quyết liệt đó đã lật tẩy mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch khi cố tình lấy hiện tượng đánh tráo bản chất hòng hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ tư, vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố tiên quyết bảo đảm sự ổn định và phát triển đất nước. Lịch sử đã và đang chứng minh một chân lý không thể lay chuyển về vai trò chèo lái con thuyền cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là gốc rễ của mọi thắng lợi. Bài học từ thực tiễn cho thấy, Việt Nam giữ vững được môi trường hòa bình, kinh tế tăng trưởng đều đặn và xã hội an định chính là nhờ năng lực quản lý của Nhà nước và sự dẫn đường đúng đắn của Đảng. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Qua 40 năm đổi mới, quan điểm về chính sách xã hội dần được hoàn thiện: Tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội để mọi người dân đều được hưởng thụ thành quả của phát triển và thực hiện công bằng xã hội. Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc của con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, của từng gia đình,  là sự nghiệp của Đảng, nhà nước và của nhân dân trong việc thực hiện chính sách xã hội”[11]. Không có sự bảo đảm ấy, sẽ không có thành quả và cuộc sống hạnh phúc của nhân dân ngày hôm nay. Do đó, luận điệu cổ súy cho "đa nguyên, đa đảng" thực chất chỉ là chiếc mặt nạ bọc đường nhằm làm suy yếu đất nước từ bên trong, kích động tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" để mở đường cho các thế lực ngoại bang can thiệp.

4. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh, phê phán các luận điệu xuyên tạc, thù địch về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và đảng viên về cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận. Kiên định niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn từ đầu thế kỷ XXMỗi người cần thường xuyên học tập lý luận chính trị, nâng cao trình độ nhận thức, bản lĩnh chính trị, chủ động nhận diện, thấy rõ “tim đen và tội ác của các thế lực thù địch”; từ đó, ra sức đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên không gian mạng và trong đời sống xã hội.

Thứ hai, tiếp tục tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là Luật An ninh mạng; các quy tắc ứng xử trên môi trường mạng xã hội đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân để nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước về quyền thông tin, phạm vi thông tin khi tham gia các mạng xã hội.

Thứ ba, cấp ủy, người đứng đầu tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị tích cực nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của đảng viên để có biện pháp giải quyết kịp thời. Trong đó, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu về phẩm chất đạo đức, nhân cách, lối sống, trách nhiệm công vụ, nói đi đôi với làm, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đối với cán bộ, đảng viên cần tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, sẵn sàng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia - dân tộc. Nhân dân cả nước cần phát huy tinh thần đoàn kết, lao động sáng tạo, chung sức đồng lòng xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ tư, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân luôn sẵn sàng đối diện với kẻ thù tư tưởng, thường xuyên, liên tục trang bị vũ khí lý luận, khoa học công nghệ và phương tiện hiện đại trước những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng của cả hệ thống chính trị trong thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW  ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt, chuyên trách tinh gọn, đủ mạnh, có trình độ hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật, am hiểu tình hình thực tiễn của đất nước, của thế giới, có tâm huyết, bản lĩnh, dũng khí và nghệ thuật đấu tranh, vượt qua mọi cám dỗ để hoàn thành nhiệm vụ.

Kết luận

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, của Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta; đồng thời là sự bảo đảm chắc chắn để đất nước ta phát triển bền vững, giữ được môi trường hòa bình, hạnh phúc của Nhân dân. Mọi mưu đồ phủ nhận con đường lên chủ nghĩa xã hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi sướng đều nhằm mục đích làm suy yếu niềm tin, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch, xuyên tạc là nhiệm vụ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và người dân cần giữ vững lập trường, quan điểm giai cấp, tôi rèn bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin, lan tỏa thông tin đúng đắn, tích cực, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc./.

                                                                    TS. Nguyễn Thị  Thanh Hà

                                        Khoa Triết học - Học viện Chính trị khu vực II



TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 296

[2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 562.

[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.2,  Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011 tr.563.

[4]. Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, tập 2, tr. 289

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tr. 65

[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I tr. 81.

[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II tr. 19

[8]. Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 159

[9]. Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 271

[10]. Nguyễn Phú Trọng ( 2023), Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, NXB CT QG ST, trang 26-27.

[11]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II tr.65