Tuesday, May 5, 2026

NHẬN DIỆN CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH NHẰM CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia đặc trưng bởi sự đa dạng về dân tộc và tôn giáo. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, đây luôn là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng. Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm công cụ chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Do đó, việc nhận diện một cách hệ thống, chính xác các thủ đoạn này đóng vai trò trọng yếu, mang tính quyết định trong việc hoạch định các chủ trương, giải pháp phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn hiệu quả.

Từ khóa: dân tộc; tôn giáo; thủ đoạn chống phá; an ninh quốc gia.

1. Khái quát đặc điểm tình hình dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 dân tộc anh em, trong đó người Kinh chiếm đa số, cùng 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2019, quy mô 53 DTTS đạt hơn 14,1 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước[i]. Sự phân bố dân cư mang tính đan xen, không đồng đều: có 6 dân tộc quy mô trên 1 triệu người, trong khi 16 dân tộc có quy mô dưới 10.000 người (đặc biệt 5 dân tộc rất ít người, dưới 1.000 người). Đồng bào DTTS cư trú chủ yếu ở vùng miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa thuộc 51 tỉnh, thành phố và 382 xã biên giới trọng yếu. Tuy nhiên, cũng có một số dân tộc (Khmer, Chăm, Hoa) sinh sống tập trung tại các vùng đồng bằng và đô thị[ii].

Về phương diện tôn giáo, Việt Nam sở hữu đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú với khoảng hơn 90% dân số có thực hành tín ngưỡng, tôn giáo. Tính đến hết năm 2023, Nhà nước đã công nhận và cấp phép hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, quản lý 29.890 cơ sở thờ tự với lực lượng hùng hậu gồm 54.500 chức sắc và 145.000 chức việc. Tỷ lệ tín đồ các tôn giáo đạt hơn 27% dân số cả nước (khoảng 27,7 triệu người)[iii]. Nổi bật là Phật giáo (hơn 14,3 triệu tín đồ), Công giáo (hơn 7 triệu tín đồ), Tin lành (hơn 1,1 triệu tín đồ, tập trung mạnh ở Tây Nguyên, Tây Bắc), cùng các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo phát triển mạnh ở phía Nam, và Hồi giáo với tín đồ chủ yếu là đồng bào Chăm[iv].

2. Nhận diện các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước của các thế lực thù địch

Thực tiễn cho thấy, các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước đang diễn ra trên nhiều lĩnh vực, với phương thức ngày càng tinh vi, đa tầng và khó nhận diện hơn. Các thủ đoạn này được bộc lộ qua những diện mạo chủ yếu sau:

Thứ nhất, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thế lực thù địch khoét sâu vào những khác biệt về tâm lý, văn hóa tộc người và chênh lệch trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng miền, giữa dân tộc đa số và thiểu số. Thông qua việc khai thác các vấn đề nhạy cảm như lịch sử tộc người, tranh chấp đất đai, hay bảo tồn văn hóa, các đối tượng này kích động mâu thuẫn, lôi kéo đồng bào tụ tập đông người, gây rối trật tự công cộng nhằm phá vỡ từ bên trong khối đại đoàn kết dân tộc. Điển hình cho thủ đoạn này là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân tại Cư Kuin, Đắk Lắk (6/2023), cho thấy tính chất nguy hiểm của âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để gây bất ổn từ bên trong. Các tổ chức phản động FULRO lưu vong đã núp dưới vỏ bọc “đòi quyền lợi”, lợi dụng vấn đề dân tộc để lừa phỉnh, kích động một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bạo loạn vũ trang có tổ chức, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về người và an ninh, trật tự xã hội. Vụ việc không chỉ phơi bày rõ âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn chính trị – xã hội, mà còn là lời cảnh báo về yêu cầu phải chủ động nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn và vô hiệu hóa từ sớm, từ xa mọi âm mưu, thủ đoạn kích động, chia rẽ của các thế lực thù địch[v].

Thứ hai, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa đồng bào các dân tộc, tín đồ tôn giáo với hệ thống chính trị. Phương thức chủ đạo là xuyên tạc nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời bóp méo chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Chúng lợi dụng, thổi phồng những hạn chế cục bộ trong thực thi chính sách ở cơ sở để bôi nhọ cán bộ, làm suy giảm niềm tin của quần chúng, qua đó âm mưu vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng và chính quyền địa phương. Song song với đó là việc kích động đồng bào đòi các "yêu sách" đặc thù, kết hợp các hình thức tuyên truyền ngầm qua thăm thân, hoạt động từ thiện hoặc qua các phương tiện truyền thông bằng ngôn ngữ bản địa.

Thứ ba, kích động tư tưởng ly khai, đòi thành lập nhà nước và tôn giáo tự trị. Bằng việc đánh tráo khái niệm "quyền dân tộc tự quyết" trong luật pháp quốc tế với "quyền của người bản địa", các phần tử cực đoan và tổ chức lưu vong ráo riết kích động đồng bào đòi tự trị. Các tổ chức phản động như "Hội người Mông thế giới", "Quỹ người Thượng", "Liên đoàn Khmer Campuchia Krôm" liên tục tổ chức hội thảo, lợi dụng các diễn đàn quốc tế để vu cáo Việt Nam đàn áp nhân quyền, từ đó kêu gọi thành lập các quốc gia độc lập như "Vương quốc Mông", "Cộng hòa Đề ga"[vi].

Thứ tư, thiết lập lực lượng ngầm và hợp pháp hóa các tổ chức phản động tại địa bàn trọng điểm. Các thế lực thù địch đẩy mạnh mua chuộc, lôi kéo một bộ phận quần chúng vượt biên nhằm đào tạo lực lượng nòng cốt. Từ bên ngoài, chúng rót tài chính để nuôi dưỡng, chỉ đạo các hội nhóm phản động hoạt động ẩn danh dưới vỏ bọc bảo tồn văn hóa hoặc phát triển cộng đồng. Các đài phát thanh (VOKK, RFA) và mạng lưới internet được sử dụng tối đa để phát tán tài liệu xuyên tạc, âm mưu "quốc tế hóa" vấn đề nội bộ của Việt Nam[vii]. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, không gian mạng trở thành địa bàn trọng điểm để các thế lực thù địch thúc đẩy chiến lược ‘diễn biến hòa bình’ với phương thức mềm, phân tán và khó truy vết hơn. Chúng triệt để lợi dụng không gian mạng (các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube, TikTok...) như một công cụ đắc lực để tiến hành "diễn biến hòa bình". Thông qua việc lập các hội nhóm kín, phát tán tin giả, bịa đặt để thao túng tâm lý, chúng âm mưu móc nối, xây dựng và điều hành lực lượng ngầm ngay trong lòng quần chúng mà không cần phải tiếp xúc trực tiếp.

Thứ năm, lợi dụng hoạt động tôn giáo và tín ngưỡng lệch chuẩn tại vùng sâu, vùng xa. Thông qua việc truyền đạo trái phép, các đối tượng xấu truyền bá tư tưởng cực đoan, khuyến khích đồng bào từ bỏ phong tục truyền thống để theo tà đạo, đẩy quần chúng vào sự mê muội và phụ thuộc tâm linh. Tại các địa bàn chiến lược như Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, núp bóng các tổ chức phi chính phủ quốc tế hoặc hoạt động thiện nguyện, các thế lực thù địch tìm cách thâm nhập, nắm bắt địa bàn, kích động biểu tình, bạo loạn nhằm gây bất ổn an ninh khu vực biên giới[viii].

Thứ sáu, tiến hành thủ đoạn an ninh phi truyền thống gắn với thao túng kinh tế. Lợi dụng những khó khăn nội tại của đồng bào miền núi, các đối tượng thù địch núp bóng dự án đầu tư, hợp tác kinh doanh để phá hoại sinh kế, đẩy đồng bào vào tình cảnh khó khăn, nợ nần. Từ sự phụ thuộc về tài chính, chúng ép buộc quần chúng tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật, di cư trái phép. Đặc biệt, chúng nhắm vào các khu vực địa hình phức tạp, giao thoa về giao thông nhằm phá vỡ các khu vực phòng thủ trọng điểm và thế trận an ninh nhân dân[ix].

3. Giải pháp phòng, chống các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam thời gian tới

 Nhằm chủ động ứng phó và đập tan mọi âm mưu chống phá, hệ thống chính trị cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp chiến lược sau:

Một là, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục. Tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo đến toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Nội dung và phương pháp truyền thông cần linh hoạt, bám sát trình độ nhận thức, văn hóa và tâm lý đồng bào từng vùng miền. Trọng tâm là phổ biến pháp luật, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, và vạch trần bản chất các thủ đoạn lừa gạt, chia rẽ của thế lực thù địch để nhân dân tự nâng cao "sức đề kháng", cảnh giác trước các thủ đoạn lôi kéo.

Hai là, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Thường xuyên giáo dục nhận thức về sức mạnh của khối đại đoàn kết trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Triển khai thực chất, hiệu quả các chính sách dân tộc, tôn giáo dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng và tương trợ. Kiên quyết bài trừ mọi biểu hiện kỳ thị, tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi. Cấp ủy, chính quyền địa phương phải chủ động dự báo tình hình, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia từ cơ sở.

Ba là, tập trung nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào. Ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, triển khai lồng ghép và đồng bộ 3 Chương trình mục tiêu quốc gia cốt lõi: (1) Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; (2) Giảm nghèo bền vững; và (3) Xây dựng nông thôn mới. Yêu cầu cấp bách là giải quyết căn cơ bài toán sinh kế, cấp đất sản xuất, xử lý dứt điểm các tranh chấp đất đai, không để tồn đọng tạo thành "điểm nóng". Kiên quyết xử lý nghiêm minh các cán bộ, công chức có hành vi nhũng nhiễu, vi phạm chính sách của Đảng và Nhà nước.

Bốn là, phát huy vai trò tổng hợp của hệ thống chính trị và uy tín của lực lượng cốt cán cơ sở. Tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của hệ thống chính trị cơ sở tại các vùng trọng yếu. Đẩy mạnh chính sách quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức là người DTTS, chức sắc tôn giáo tiến bộ, bởi đây là lực lượng nòng cốt mang lợi thế đặc thù trong công tác thực tiễn. Đổi mới phương thức dân vận theo nguyên tắc "chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, vững chắc".

        Năm là, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc gắn với phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc". Tích cực tranh thủ sự ủng hộ của các chức sắc, người có uy tín để lan tỏa thông tin tích cực, phản bác các luận điệu xuyên tạc. Đồng thời, cần chú trọng mở rộng không gian bảo vệ an ninh Tổ quốc lên môi trường mạng; hướng dẫn và phát huy vai trò của các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, người có uy tín tham gia quản lý, nhận diện và trực tiếp đấu tranh, phản bác các thông tin xấu độc, vạch trần âm mưu "diễn biến hòa bình" trên internet ngay từ cơ sở. Lực lượng chức năng cần chủ động nắm chắc tình hình, phát hiện và vô hiệu hóa từ sớm, từ xa mọi mưu đồ kích động bạo loạn, ly khai. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa tính nghiêm minh của pháp luật với chính sách khoan hồng, nhân đạo, tạo cơ hội phục thiện cho những người nhẹ dạ, cả tin tái hòa nhập cộng đồng./.

                                                                                                     TS. Hoàng Mạnh Tưởng

                                            Khoa Lãnh đạo học và Hành chính công - Học viện Chính trị khu vực II


[i] Tổng cục Thống kê (2020), Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Hà Nội.

[ii] Học viện Dân tộc (2019), Tài liệu bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, tr.5

[iii] Ban Tôn giáo Chính phủ (2023), Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội.

[iv] Hà Ngọc Anh (2020), Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr.62-65.

[v] Bộ Công an (2023), Thông tin chính thức về vụ án khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân xảy ra tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023.

[vi] Lê Xuân Trình (2017), “Vạch trần âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số”, Báo Biên phòng điện tử, , ngày 28/03/2017

[vii] Báo Nhân Dân điện tử (2026), “VOA, RFA vẫn tiếp tục chống phá Việt Nam”

[viii] https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/nhan-dien-va-phong-ngua-cac-thu-doan-loi-dung-ton-giao-chong-pha-viet-nam-hien-nay-712975

[ix] Học viện Dân tộc, Tài liệu bồi dưỡng kiến thức đối với cán bộ công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, Hà Nội, 2019, tr.149

                                                                                                 


 


Tuesday, April 28, 2026

NHẤT NGUYÊN CHÍNH TRỊ VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Tóm tắt: Thế giới tồn tại nhiều thể chế chính trị khác nhau do tính đặc thù của mỗi dân tộc trong điều kiện cụ thể; không có một con đường duy nhất cho mọi quốc gia, mỗi nước tự lựa chọn con đường phù hợp nhất với mình. Ở Việt Nam hiện nay, sự kiên định về một Đảng cầm quyền và nhất nguyên chính trị là vấn đề có tính nguyên tắc, là con đường dẫn đến sự phát triển ổn định, bền vững. Bài viết sẽ phân tích lý do chủ yếu của vấn đề này, đồng thời giúp cán bộ, đảng viên chống lại những luận điệu sai trái, thù địch; kiên định về lập trường chính trị, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ.

Từ khóa: nhất nguyên chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam, chống lại các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng.

                                                          MỞ ĐẦU

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, năng lực cầm quyền, uy tín, trí tuệ ngày càng được khẳng định. Đảng đã lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc thành công. Việt Nam đã chiến thắng nhiều cường quốc trên thế giới, tạo ra nhiều mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Từ đó đến nay, thế và lực của Việt Nam không ngừng lớn mạnh, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả cực kỳ to lớn và vĩ đại trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống Nhân dân ngày càng cao, quan hệ quốc tế hết sức rộng rãi, vị thế quốc gia được nâng cao. Hệ thống chính trị không ngừng được đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động, đổi mới chính trị phù hợp với đổi mới kinh tế. Đặc biệt, Đảng không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của mình. Bên cạnh đó, Đảng không hề né tránh những sai lầm, khuyết điểm, kể cả về chủ trương, đường lối để khắc phục và vươn lên. Một đảng đã dám nhận sai lầm, khuyết điểm và sửa chữa là một đảng mạnh như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra.

Mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng vượt bậc như vậy, nhưng một số thế lực thù địch, bất mãn, không thân thiện với Việt Nam đã liên tục tấn công, chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích chính đáng của Nhân dân ta. Họ thổi phồng một số hiện tượng tiêu cực, suy thoái của một số cán bộ, đảng viên để quy chụp đó là bản chất của chế độ nhất nguyên, một đảng cầm quyền, họ đã đánh tráo giữa bản chất và hiện tượng của các sự kiện. Từ đó, họ cho rằng Việt Nam muốn phát triển được, chống tham nhũng, tiêu cực thành công, bảo đảm quyền dân chủ, quyền tự do, nhân quyền thì phải thực hiện chế độ nhiều đảng phái, kể cả đảng phái đối lập. Họ lừa bịp những người nhẹ dạ, cả tin về chế độ đa đảng, đa nguyên, cho rằng nó là xu hướng của thời đại, là cứu cánh của nhân loại, là mẫu hình lý tưởng mà loài người phải phấn đấu đạt tới. Trước thực trạng đó, một số người do trình độ nhận thức hạn chế, hoặc bất mãn, chống đối đã dao động và tin theo luận điệu đó.

NỘI DUNG

          Trong bối cảnh hiện nay, sự lãnh đạo, cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính tất yếu, bắt nguồn từ những lý do sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ bản chất giai cấp và mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng như Cương lĩnh, Điều lệ, Văn kiện Đại hội, Đảng luôn khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”[1]. Ngoài lợi ích đó, Đảng không còn lợi ích nào khác như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định. Bản chất của Đảng có sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân làm cho Đảng được Nhân dân tin tưởng và kính trọng, đảng viên tuyệt đối phục tùng. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đây cũng là lực lượng nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu của đất nước, nhưng không phải nắm giữ để phục vụ cho riêng mình mà luôn phục vụ cho tuyệt đại đa số quần chúng và lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Mục tiêu của Đảng là xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Đó cũng là mục tiêu, lý tưởng mà toàn Đảng, toàn dân ta đang phấn đấu đạt được. Đảng luôn chăm lo cho cuộc sống no ấm, đầy đủ của người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: chủ nghĩa xã hội mà không mang lại no ấm, hạnh phúc cho người dân thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Suy cho cùng, hình thái kinh tế xã hội này thay thế cho hình thái kinh tế xã khác chính là ở chỗ năng suất lao động cao hơn, của cải nhiều hơn, con người sống sung sướng và bình đẳng hơn. Tổng kết 40 năm đổi mới đất nước, Đảng rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học “Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2]. Bắt nguồn từ bản chất và mục tiêu đó, chỉ cần duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đại diện cho quyền lợi của Nhân dân mà không cần một đảng phái chính trị nào khác.

Thứ hai, chế độ một đảng cầm quyền và nhất nguyên chính trị ở Việt Nam là do sự giao phó của lịch sử dân tộc

Trên thế giới, ở nhiều nước có lúc thực hiện chế độ một đảng, có lúc thực hiện chế độ đa đảng, đa nguyên, điều đó là do hoàn cảnh cụ thể quy định. Do đó, không thể nói cái nào tốt hơn cái nào, mà nó cần phải có sự phù hợp, thích nghi trong bối cảnh cụ thể.

Ở Việt Nam đã từng tồn tại nhiều đảng phái chính trị khác nhau, kể cả là đảng đối lập, phản động như Việt Quốc, Việt Cách hay đảng ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam như đảng Dân chủ Việt Nam, đảng Xã hội Việt Nam và nhiều đảng phái chính trị thân Pháp, thân Mỹ khác. Nhưng khi các thế lực ngoại bang thua cuộc rút quân thì các đảng phái phản động cũng tan rã hoặc đi theo chúng.

Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử dân tộc, là sự lựa chọn đúng đắn của Nhân dân trải qua cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hiểm nguy và hy sinh chứ không phải ý muốn chủ quan hay sự áp đặt của một lực lượng chính trị nào. Trước khi Đảng ra đời, rất nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra với nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, thủ lĩnh, lãnh đạo những cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước đó có đầy đủ phẩm chất như dũng cảm, thông minh, uy tín, gan dạ, lực lượng đông đảo, thống nhất, nhưng cuối cùng đều thất bại thảm hại, bị dìm trong biển máu. Sự thất bại của các phong trào trên chủ yếu là do thiếu một hệ tư tưởng, một đường lối chính trị đúng đắn. Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, xác định con đường cách mạng giải phóng dân tộc là cách mạng vô sản. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, tạo ra bước ngoặt của lịch sử dân tộc như chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đại thắng mùa xuân năm 1975, non song, đất nước thu về một mối. Chúng ta từ thân phận của người nô lệ đã trở thành chủ nhân của đất nước sau hàng ngàn năm chìm trong đêm tối.

Thứ ba, thành quả to lớn của công cuộc đổi mới đất nước trong 40 năm qua

Sau khi đất nước thống nhất, Đảng tiếp tục lãnh đạo toàn hệ thống chính trị và Nhân dân tiến hành thành công quá trình đổi mới đất nước trong bối cảnh cực kỳ khó khăn, khủng hoảng. Thành quả của công cuộc đổi mới đất nước là những minh chứng hùng hồn và xác đáng nhất về vai trò lãnh đạo của Đảng. Đời sống mọi mặt của các tầng lớp Nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, quyền làm chủ của người dân, nhất là quyền dân chủ trực tiếp ngày càng được mở rộng. Việt Nam đã tham gia vào nhiều tổ chức quan trọng của thế giới và khu vực, vị thế của đất nước ngày càng được nâng cao, được thế giới nể trọng, kể cả lực lượng thuộc “phía bên kia”. Những thành quả đó chứng minh cho bản lĩnh, trí tuệ, ý chí của Đảng “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” [3]. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD [4], thuộc nhóm các nước thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021 [5].

Chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao, kết cấu hạ tầng có bước phát triển đột phá, đầu tư xây dựng nhiều công trình cực lớn góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước và mở ra không gian phát triển mới. An sinh và phúc lợi xã hội ngày càng được đảm bảo, công tác xoá đói, giảm nghèo bền vững được triển khai có hiệu quả với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đến tháng 9/2025 đã hoàn thành xoá nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Khoảng 3,5 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025, bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,2% năm 2025 [6]  .

Tổng kết 40 năm đổi mới đất nước, Đảng đã khẳng định những kết quả nổi bật của công tác đối ngoại, nâng cao vị thế đất nước trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, chiến lược toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có cả 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, cả 7 nước trong nhóm G7 và 17/20 nước trong nhóm G20. Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 nước trên thế giới; quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức nhân dân đã triển khai đối ngoại thiết thực với 1.200 [7]   tổ chức nhân dân và đối tác nước ngoài. Việt Nam đã và đang đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò và có uy tín ở nhiều diễn đàn đa phương quan trọng. Việt Nam là Uỷ viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 nhiệm kỳ (2008-2009 và 2020-2021), Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025… Đến nay, nước ta đã cử hơn 1000 lượt sĩ quan tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc.

Quyền làm chủ của Nhân dân ngày càng được mở rộng, Đảng luôn khẳng định dân là gốc, là thước đo cao nhất của mọi quyết sách, là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, gắn với hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt được kết quả to lớn. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục đi vào chiều sâu, nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến nhiều cán bộ các cấp được chỉ đạo điều tra, xét xử nghiêm minh.

Thứ tư, xuất phát từ những bài học kinh nghiệm của Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây

Sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu từng là niềm tự hào, mẫu hình của các nước theo hệ tư tưởng vô sản. Chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực, trở thành hệ thống trên toàn thế giới, thành trì của hòa bình và phong trào cách mạng thế giới, là lực lượng đối trọng với chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, qua hơn 70 năm tồn tại và phát triển chế độ đó đã bị sụp đổ. Sự sụp đổ đó đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu, phân tích. Trong đó, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sụp đổ là do âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và sự thoái hóa, biến chất, phản bội của các đảng viên cao cấp nhất trong Đảng. Họ đã xa rời các nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, xa rời các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành những “kẻ bán đứng Đảng” khi quyết định xóa bỏ điều 6 của Hiến pháp Liên Xô hiến định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ quyết định đó, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội dân sự, các đảng phái chính trị ra đời rất nhiều, “mọc như nấm sau mưa”, chế độ đa đảng ở Liên Xô đã hình thành. Các đảng phái chính trị dần dần đòi chia sẻ quyền lãnh đạo với Đảng Cộng sản, thậm chí đòi phế truất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Cuối cùng, Đảng Cộng sản Liên Xô do sự suy yếu và khủng hoảng nghiêm trọng đã mất vai trò lãnh đạo đất nước và hoàn toàn sụp đổ vào tháng 8 - 1991. Nối gót Liên Xô, hàng loạt các quốc gia Đông Âu cũng diễn ra tình trạng tương tự.

          Đây là tổn thất cực kỳ to lớn và nghiêm trọng cho phong trào cách mạng thế giới; là bài học đau xót cho các đảng viên và các Đảng Cộng sản trên toàn thế giới. Nhưng đây chỉ là “thoái trào” tạm thời của phong trào xã hội chủ nghĩa chứ không phải là dấu chấm hết cho chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới như các thế lực thù địch, chống Cộng vẫn rêu rao. Đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình không phù hợp, trong quá trình xây dựng và cải tổ lại tiếp tục phạm phải nhiều sai lầm tả khuynh dẫn đến sự khủng hoảng không thể cứu vãn được. Từ thực tiễn đó, chúng ta có thể thấy rằng, nếu Việt Nam thực hiện đa đảng, đa nguyên thì sẽ xảy ra một Liên Xô, Đông Âu thứ hai, tức là sự khủng hoảng và sụp đổ là khó tránh khỏi.

Thứ năm, nếu thực hiện đa đảng, đa nguyên sẽ tạo điều kiện hợp pháp cho các lực lượng chống đối, thù địch trong và ngoài nước chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước, lợi ích của dân tộc và Nhân dân

Do nhiều nguyên nhân khác nhau trong lịch sử, kể cả khách quan và chủ quan mà hiện nay, đất nước ta bị rất nhiều cá nhân, tổ chức bất mãn, cơ hội, chống đối, thù địch ở trong và ngoài nước thường xuyên tìm mọi cách chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, đi ngược lại lợi ích của dân tộc và Nhân dân ta. Mặt khác, chúng cấu kết với nhau, móc nối với những cá nhân, tổ chức nhằm phô trương thanh thế và tăng cường lực lượng. Chúng thường nhận được sự ủng hộ, dung túng của chủ nghĩa đế quốc và những nước không thân thiện với Việt Nam. Chúng thường xuyên tuyên truyền sai sự thật về đất nước, lợi dụng những kẽ hở, sai lầm, hạn chế của chúng ta trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị, văn hóa, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… nhằm công kích chúng ta từ nhiều phía. Chúng lén lút tiến hành các hoạt động phá loại, lật đổ, thành lập nhiều tổ chức, đảng phái chính trị phản động. Chúng đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp hiến định về vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội, đòi Đảng chỉ lãnh đạo về chính trị chứ không lãnh đạo toàn diện…

Nếu chúng ta chấp nhận thực hiện đa đảng, đa nguyên thì sẽ tạo điều kiện hợp pháp để các tổ chức, đảng phái chính trị phản động đẩy mạnh hoạt động phá hoại, lật đổ, chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước và Nhân dân. Lúc đó tình hình chính trị rất dễ bị khủng hoảng, hỗn loạn, thách thức vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, thậm chí dẫn đến sự sụp đổ, diệt vong.

KẾT LUẬN

Qua sự phân tích trên đây, tác giả đã làm rõ một số lý do chủ yếu về chế độ một đảng cầm quyền và nhất nguyên chính trị ở Việt Nam trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề mang tính quy luật, tất yếu khách quan. Mỗi người dân Việt Nam nói chung, nhất là cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn về vấn đề, không nên có sự ngộ nhận, lệch lạc về nhận thức và hành động; nhận diện chính xác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch để xác định mục tiêu, lý tưởng cho mình một cách đúng đắn nhất. Mặt khác, mỗi người góp phần nhỏ bé của mình làm lan tỏa vấn đề này sâu rộng trong đời sống xã hội, làm tốt công tác tuyên truyền, thuyết phục đối với những người có nhận thức chưa đúng; góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh chống lại những luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch.

                                                                                                   ThS. Lê Công Minh

                    Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị khu vực II


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính      trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.4

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I,  tr. 73-74.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr. 25.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 47.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 51.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 52.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập II, tr. 143-145.

[8] Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương (2020): Một số luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1.

[9] Hội đồng Lý luận Trung ương (2026): Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

Thursday, April 9, 2026

Phát huy vai trò của mô hình dân chủ số dưới sự lãnh đạo của Đảng

 


Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện chuyển đổi số

 


Hoàn thiện thể chế chính trị - vấn đề then chốt đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

 


Cơ sở lý luận và thực tiễn ứng dụng dữ liệu lớn trong quản trị phát triển văn hóa

 


Quản trị quốc gia hiện đại góp phần phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới

 


Ngoại giao văn hóa và việc lan tỏa hơn nữa bản sắc, giá trị tốt đẹp của dân tộc, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên trường quốc tế trong kỷ nguyên mới

 


Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế đất nước

 

Nhận thức, tư duy mới về an ninh trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

 


Tư duy, nhận thức mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

 


Xây dựng đội ngũ bí thư chi bộ bảo đảm vai trò hạt nhân và lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở; bảo đảm công tác thông tin, tuyên truyền thực sự là “pháo lệnh”, “trống trận”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

 


Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường và ý nghĩa đối với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới

 


Sunday, March 15, 2026

CHUNG TAY XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VỮNG MẠNH THÔNG QUA BẦU CỬ

 

Bầu cử đại biểu Quốc hội Việt Nam và Hội đồng nhân dân các cấp là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước. Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp lựa chọn những người tiêu biểu, có phẩm chất đạo đức, năng lực và uy tín để đại diện cho ý chí, nguyện vọng của người dân trong các cơ quan quyền lực nhà nước.

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nguyên tắc này được khẳng định trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua các cơ quan đại diện do mình bầu ra, trong đó có Quốc hội Việt Nam và Hội đồng nhân dân các cấp. Các cơ quan này có vai trò quan trọng trong việc ban hành pháp luật, quyết định các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Chính vì vậy, mỗi lá phiếu của cử tri đều mang ý nghĩa rất lớn. Khi tham gia bầu cử, cử tri không chỉ thực hiện quyền lợi của mình mà còn thể hiện trách nhiệm đối với đất nước. Việc lựa chọn đúng đại biểu sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, từ đó thúc đẩy sự phát triển của địa phương và của cả quốc gia. Để cuộc bầu cử đạt hiệu quả, mỗi cử tri cần tìm hiểu kỹ thông tin về các ứng cử viên trước khi bỏ phiếu. Việc lựa chọn đại biểu cần dựa trên các tiêu chí như phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và khả năng đại diện cho lợi ích của nhân dân. Những đại biểu được bầu phải là những người thực sự tiêu biểu, có khả năng lắng nghe ý kiến của cử tri và tích cực đóng góp vào quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách và pháp luật. Bên cạnh đó, sau khi các đại biểu được bầu, nhân dân cũng cần tiếp tục phát huy vai trò giám sát thông qua các hoạt động tiếp xúc cử tri và phản ánh ý kiến của mình đối với các vấn đề của đời sống xã hội. Sự tham gia tích cực của nhân dân sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Có thể khẳng định rằng bầu cử là một trong những hình thức quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Khi mỗi công dân tích cực tham gia bầu cử và sáng suốt lựa chọn những đại biểu xứng đáng, bộ máy nhà nước sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh và hoạt động hiệu quả hơn. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để xây dựng một Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

PGS, TS. Nguyễn Hoàng Phương - Học Viện Chính trị Khu vực II


Saturday, March 14, 2026

BẦU CỬ QUỐC HỘI – LÁ PHIẾU CỦA NIỀM TIN VÀ HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG DÂN TỘC


Lịch sử của Quốc hội Việt Nam là một bản anh hùng ca về ý chí độc lập, tự chủ và khát vọng tự do mãnh liệt của dân tộc. Mỗi lá phiếu mà người dân Việt Nam cầm trên tay qua các thời kỳ không đơn thuần chỉ là một tờ giấy, mà là sự kết tinh của máu xương, của lòng yêu nước và niềm tin sắt son vào con đường dân chủ của nước nhà. Nhìn lại hành trình 80 năm kể từ ngày Tổng tuyển cử đầu tiên, chúng ta không khỏi tự hào về một thiết chế đại diện cao nhất của nhân dân luôn đồng hành cùng vận mệnh đất nước, từ những ngày ngàn cân treo sợi tóc đến kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ hôm nay.

Sự khởi đầu của nền dân chủ Việt Nam được đánh dấu bằng mốc son chói lọi vào ngày 6 tháng 1 năm 1946. Trong bối cảnh chính quyền cách mạng non trẻ vừa ra đời đã phải đối mặt với muôn vàn thử thách từ nạn đói, nạn dốt đến thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có quyết sách thiên tài là tổ chức Tổng tuyển cử để khẳng định tính chính danh của Nhà nước Việt Nam mới. Lời kêu gọi của Người: Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn đã khơi dậy ý thức trách nhiệm công dân một cách sâu sắc. Tại miền Nam, dưới bom đạn ác liệt của thực dân Pháp, cử tri vẫn bất chấp nguy hiểm để đi bỏ phiếu, thậm chí có những nơi phải đổi bằng máu để bảo vệ hòm phiếu. Kết quả 89% cử tri đi bầu và sự ra đời của 333 đại biểu Quốc hội Khóa I là lời khẳng định đanh thép với thế giới về quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.

Tiếp sau những ngày đầu lập nước, Quốc hội Việt Nam đã trải qua những năm tháng kháng chiến trường kỳ và gian khổ. Các kỳ bầu cử Khóa II, III, IV và V được tổ chức trong điều kiện miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Dù trong khói lửa chiến tranh, quyền làm chủ của nhân dân vẫn luôn được tôn trọng với tỷ lệ cử tri đi bầu luôn duy trì ở mức cao kỷ lục, thường trên 97%. Đặc biệt, hình ảnh các đại biểu miền Nam lưu nhiệm trong Quốc hội miền Bắc là biểu tượng không thể lay chuyển của khát vọng thống nhất non sông, khẳng định một chân lý: Nhân dân hai miền Nam - Bắc là con một nhà”.

Mốc son chói lọi tiếp theo chính là cuộc Tổng tuyển cử ngày 25 tháng 4 năm 1976 – kỳ bầu cử đầu tiên của nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất. Sau đại thắng mùa Xuân 1975, hơn 23 triệu cử tri từ địa đầu Móng Cái đến chót mũi Cà Mau đã nô nức làm nghĩa vụ công dân với tư thế của người làm chủ hoàn toàn đất nước. Tại Sài Gòn và các tỉnh phía Nam, không khí ngày hội non sông diễn ra vô cùng náo nức, đánh dấu bước thắng lợi quyết định trên con đường thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Quốc hội Khóa VI ra đời đã đưa ra những quyết định lịch sử: đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đặt tên Thành phố Hồ Chí Minh, chính thức mở ra một chương mới cho dân tộc.

Bước vào thời kỳ Đổi mới từ năm 1986, Quốc hội Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Các bản Hiến pháp năm 1992 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 đã hiến định những giá trị dân chủ mới, đề cao quyền con người và quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân. Hoạt động của Quốc hội ngày càng trở nên minh bạch và thực chất hơn với những phiên chất vấn sôi nổi, truyền hình trực tiếp để cử tri cả nước cùng giám sát. Niềm tin của nhân dân vào lá phiếu ngày càng được củng cố khi họ thấy được những người đại diện do mình bầu ra đang thực sự trăn trở và quyết sách những vấn đề đại sự của quốc gia.

Gần đây nhất, cuộc bầu cử Quốc hội Khóa XV vào năm 2021 diễn ra trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bùng phát đã trở thành một minh chứng hào hùng cho sức mạnh của lòng dân. Dù đối mặt với hiểm họa dịch bệnh, tỷ lệ cử tri đi bầu vẫn đạt con số kỷ lục 99,60%, gửi đi thông điệp mạnh mẽ về sự ổn định chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân. Quốc hội Khóa XV đã chứng tỏ bản lĩnh khi tổ chức nhiều kỳ họp bất thường nhất trong lịch sử để kịp thời ban hành những chính sách đặc thù, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nhân dân. Những lá phiếu trong đại dịch không chỉ là sự lựa chọn người đại diện, mà còn là cam kết của mỗi công dân đồng hành cùng Đảng và Nhà nước vượt qua nghịch cảnh.

Hướng tới ngày 15 tháng 3 năm 2026, cuộc bầu cử Quốc hội Khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đang đến gần, mang theo kỳ vọng về một bước đột phá trong kỷ nguyên số. Đây là sự kiện kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên, một cột mốc nhắc nhở chúng ta về truyền thống dân chủ quý báu của dân tộc. Với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại, việc ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và VNeID sẽ giúp quy trình bầu cử trở nên thuận tiện, minh bạch và chính xác hơn bao giờ hết, đảm bảo quyền lợi cho hơn 78 triệu cử tri trên khắp mọi miền Tổ quốc. Tổng Bí thư Tô Lâm đã xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là dịp để toàn dân thể hiện khát vọng vươn mình của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Mỗi công dân Việt Nam hôm nay cần nhận thức sâu sắc rằng, đi bầu cử không chỉ là thực hiện một quyền lợi pháp lý mà là thực thi một trách nhiệm thiêng liêng với Tổ quốc. Lá phiếu của chúng ta chính là viên gạch xây dựng nên bộ máy nhà nước pháp quyền vững mạnh, là công cụ để cử tri gửi gắm niềm tin và kỳ vọng vào những đại biểu đủ đức, đủ tài. Là thế hệ tiếp nối cha ông, chúng ta không được phép để những câu chuyện cảm động của các bậc tiền bối, những người đã đi bầu giữa bom đạn hay những cụ già gần 100 tuổi vẫn hăng hái tự tay bỏ phiếu, trở nên xa vời, lạc điệu trong đời sống mới, mà chúng ta hãy để mỗi lá phiếu là một lời cam kết về sự dấn thân và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tương lai của chính mình và của cả dân tộc.

Sức mạnh của Việt Nam nằm ở sự đồng thuận và đoàn kết. Khi mỗi người dân đều ý thức được giá trị của lá phiếu, chúng ta đang trực tiếp tham gia vào việc hoạch định những chính sách lớn về kinh tế, giáo dục, y tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước. Sự thành công của mỗi kỳ bầu cử chính là thắng lợi của nhân dân, khẳng định bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế. Hãy cùng nhau biến ngày bầu cử sắp tới thành một ngày hội non sông thực sự, nơi mỗi cử tri đều tự hào thốt lên rằng mình là người làm chủ đất nước, là người kiến tạo nên kỷ nguyên hùng cường và thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam.

Hành trình 80 năm lịch sử đã chứng minh một chân lý giản dị nhưng sâu sắc: khi lòng dân đã thuận, khi mỗi lá phiếu đều mang theo hơi thở của thực tiễn và khát vọng của nhân dân, thì không khó khăn nào có thể cản bước dân tộc Việt Nam đi đến vinh quang. Hãy trân trọng quyền thiêng liêng ấy, hãy để mỗi lá phiếu trở thành ngọn lửa sưởi ấm niềm tin và khát vọng vươn tầm thế giới của một Việt Nam độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó chính là cách chúng ta tri ân quá khứ, trân trọng hiện tại và mở lối cho tương lai rạng rỡ của muôn đời con cháu mai sau.

                                  
                            PGS. TS. Võ Hữu Phước - Học viện Chính trị khu vực II