Wednesday, August 5, 2026

BIÊN CƯƠNG VỮNG TỪ Ý ĐẢNG LÒNG DÂN

 Xuân Thao – Trung Thành – Mai Đỉnh

Nơi biên cương phía Tây Nghệ An, giữa vòi vọi núi cao và thăm thẳm sông dài, quân và dân ta không chỉ kề vai sát cánh để bảo vệ đường biên, cột mốc, mà ở đó còn có một “trận tuyến” khác đang ngày đêm được giữ gìn. Đó là trận tuyến tư tưởng, nơi niềm tin của nhân dân được bồi đắp, nơi nền tảng tư tưởng của Đảng được bảo vệ bằng chính sự hiện diện bền bỉ và những hành động, việc làm ý nghĩa của hệ thống chính trị cơ sở và lực lượng Bộ đội Biên phòng.

Trong bối cảnh thông tin đa chiều, phức tạp, thậm chí bị xuyên tạc, việc giữ vững “trận địa tư tưởng” nơi biên giới không còn là nhiệm vụ riêng của một lực lượng, mà đã trở thành yêu cầu chiến lược của công tác xây dựng Đảng, gắn chặt với thế trận lòng dân – nền tảng vững chắc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Kỳ 1: Giữ vững trận tuyến tư tưởng nơi phên dậu Tổ quốc

Nơi những cột mốc biên cương in dấu chủ quyền, còn có một “trận tuyến” thầm lặng đang ngày ngày được giữ gìn đó là trận tuyến tư tưởng. Trên dải biên giới dài hơn 468km của Nghệ An, thông tin đối ngoại đang trở thành nhịp cầu kết nối lòng dân, củng cố niềm tin, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và vun đắp tình hữu nghị Việt - Lào bền chặt.

“Mặt trận” không tiếng súng 

Biên giới, trong nhận thức quen thuộc, thường được hình dung qua những cột mốc chủ quyền lặng lẽ giữa đại ngàn, những con đường tuần tra in dấu chân người lính hay các chốt gác nơi rừng sâu heo hút. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh “đường biên hữu hình” ấy, còn tồn tại một “đường biên vô hình” không kém phần quan trọng đó là mặt trận tư tưởng. Ở đó, không có tiếng súng, không có khói lửa, song cuộc đấu tranh lại diễn ra âm thầm, bền bỉ và không kém phần quyết liệt, nhằm giữ vững niềm tin, bảo vệ nhận thức đúng đắn của nhân dân trước những luồng thông tin đa chiều, phức tạp.

Với Nghệ An - địa phương có đường biên giới dài, địa hình chia cắt, đời sống một bộ phận người dân còn nhiều khó khăn, công tác thông tin đối ngoại vì thế không chỉ mang ý nghĩa tuyên truyền đơn thuần, mà trở thành nhiệm vụ có tính chiến lược lâu dài. Đây chính là giải pháp căn cơ để xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, từ đó tạo nền tảng bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ cơ sở, từ từng bản làng, từng cộng đồng dân cư nơi biên cương.

Những năm gần đây, lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh đã chủ động đổi mới tư duy, cách làm, từng bước đưa thông tin chính thống đến gần hơn với người dân. Không còn bó hẹp trong những hình thức tuyên truyền truyền thống, công tác thông tin đối ngoại được triển khai bằng nhiều phương thức linh hoạt, đa dạng, phù hợp với từng địa bàn, từng đối tượng. Từ các mô hình truyền thông trực quan, ứng dụng công nghệ, đến những buổi gặp gỡ, đối thoại trực tiếp tại cơ sở… tất cả đều hướng đến mục tiêu chung là giúp người dân “nghe đúng, hiểu đúng, tin đúng”.

Chính từ sự đổi mới ấy, nhận thức của người dân từng bước được nâng lên, niềm tin được củng cố, tạo nên “sức đề kháng” tự nhiên trước các luận điệu sai trái, xuyên tạc. Khi người dân không chỉ tiếp nhận mà còn chủ động sàng lọc, phản biện thông tin, thì đó cũng chính là lúc “trận tuyến tư tưởng” nơi biên cương được gia cố vững chắc từ gốc rễ bằng chính ý thức và trách nhiệm của mỗi người dân.

 Khi thông tin chạm đến người dân

Một buổi sáng nơi cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn, dòng người qua lại tấp nập giữa không gian giao thương nhộn nhịp. Trong dòng chảy ấy, những cụm thông tin điện tử công cộng nổi lên như một “điểm nhấn mềm” giữa biên cương, nơi các hình ảnh, video sinh động được trình chiếu liên tục bằng nhiều thứ tiếng. Không chỉ dừng lại ở việc cung cấp quy định xuất nhập cảnh, hệ thống này còn kể những “câu chuyện” về văn hóa, con người, tiềm năng phát triển của Nghệ An và đất nước Việt Nam một cách trực quan, dễ tiếp cận.

Thiếu tá Hồ Thọ, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn nhấn mạnh: “Trước đây, công tác tuyên truyền chủ yếu thực hiện bằng các hình thức truyền thống như tờ rơi, pa nô, áp phích hay hệ thống loa phát thanh. Tuy vẫn phát huy hiệu quả nhất định, nhưng mức độ lan tỏa và khả năng tiếp cận thông tin còn hạn chế, nhất là trong bối cảnh nhu cầu tiếp nhận thông tin của người dân ngày càng đa dạng. 

Việc đưa vào sử dụng hệ thống thông tin điện tử đã tạo bước chuyển rõ nét, khi nội dung được truyền tải một cách trực quan, sinh động, cập nhật kịp thời và phù hợp với nhiều đối tượng. Qua đó, không chỉ nâng cao hiệu quả tuyên truyền mà còn góp phần định hướng nhận thức, củng cố niềm tin của người dân, nhất là trong việc chấp hành pháp luật và nhận diện, đấu tranh với các thông tin sai trái, xuyên tạc”.

Sự thay đổi trong phương thức truyền tải không chỉ là thay đổi về hình thức, mà quan trọng hơn là tạo ra sự chuyển biến trong cách tiếp nhận

“KINH TẾ TƯ NHÂN LÀ MỘT ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG NHẤT CỦA NỀN KINH TẾ QUỐC GIA” LÀ BƯỚC TIẾN CỦA TƯ DUY ĐỔI MỚI, KHÔNG “CHỆCH HƯỚNG” XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 Thể loại: Tạp chí 

Tóm tắt:  Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”() là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư duy đổi mới, phản ánh nhận thức ngày càng đầy đủ, khoa học và thực tiễn về vai trò của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau hơn 1 năm triển khai thực hiện, các thế lực thù địch vẫn không ngừng tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ trương đúng đắn này. Nhận diện, đấu tranh, phản bác với những luận điệu đó chính là giải pháp thiết thực, góp phần tiếp tục đưa Nghị quyết vào cuộc sống. 

Từ khóa: kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 68-NQ/TW, xã hội chủ nghĩa

1. Đặt vấn đề 

Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, “Về phát triển kinh tế tư nhân” đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn gần 40 năm Đổi mới, đồng thời kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. 

Thời gian qua, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được đẩy mạnh, phát triển kinh tế tư nhân đã trở thành một trong những chủ trương lớn, xuyên suốt, nhất quán của Đảng. Tuy nhiên, chính vì vị trí và vai trò ngày càng được khẳng định, khu vực này trở thành “điểm ngắm”, thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo, công kích chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

2. Nội dung

2.1. Kinh tế tư nhân là “điểm ngắm” xuyên tạc của các thế lực thù địch

Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, núp bóng các luận điệu tưởng chừng “hợp lý” như “tự do hóa kinh tế”, “hội nhập theo chuẩn quốc tế”, hay “bảo vệ quyền tự do kinh doanh”, các thế lực thù địch liên tục tung ra các quan điểm sai trái, cố tình đồng nhất kinh tế tư nhân với kinh tế tư bản chủ nghĩa nhằm xuyên tạc bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ đó, chúng quy kết rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang “chệch hướng xã hội chủ nghĩa”, thúc đẩy “tư nhân hóa nền kinh tế”, “xa rời mục tiêu công bằng, tiến bộ xã hội”. 

Nguy hiểm hơn, chúng còn lợi dụng những hạn chế, bất cập trong thực tiễn để quy chụp là sai lệch bản chất chính sách. Khi xuất hiện một số hiện tượng tiêu cực như trốn thuế, đầu cơ đất đai, ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo… chúng lập tức thổi phồng và quy kết đó là hệ quả tất yếu của việc phát triển kinh tế tư nhân, coi đó như “bằng chứng”  chứng minh Đảng đã “đi sai đường”, “mất định hướng”. Thậm chí, chúng khẳng định một cách phiến diện rằng, phát triển kinh tế tư nhân là “tư bản thân hữu”, làm trầm trọng thêm bất bình đẳng xã hội, đi ngược lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Không dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn kích động mâu thuẫn, tạo ra sự đối lập giả tạo giữa các khu vực kinh tế, đặc biệt là giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Chúng lan truyền luận điệu sai trái rằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân sẽ làm “lu mờ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước”, “xóa nhòa tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế”, thậm chí xuyên tạc rằng “Nhà nước đang mất dần quyền kiểm soát các nguồn lực chiến lược vào tay tư nhân”. Một số phần tử cơ hội chính trị còn lợi dụng danh nghĩa “phản biện xã hội” để cổ súy cho quan điểm “tư nhân hóa toàn diện”, “giải phóng kinh tế khỏi sự quản lý của Nhà nước”, thực chất là phủ nhận vai trò điều tiết, định hướng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từng bước hướng tới phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Ngoài ra, các luận điệu xuyên tạc còn cho rằng việc phát triển kinh tế tư nhân là “sự thoái hóa tư tưởng”, “sự thỏa hiệp với chủ nghĩa tư bản”, “dấu hiệu của tự chuyển hóa”. Trên không gian mạng, nhiều bài viết, video, hay “bình luận chính trị” giả danh học giả đã lợi dụng vấn đề kinh tế tư nhân để công kích nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nhiều thành phần. Mục đích của chúng là làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, gây nghi ngờ trong xã hội, tạo tâm lý dao động, hoài nghi, từng bước thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực tư tưởng - chính trị.

Rõ ràng, những luận điệu sai trái này công kích trực diện vào chính sách phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi Đảng ta đã có những bước phát triển mới về nhận thức lý luận, được thể hiện rõ qua Nghị quyết số 68-NQ/TW. Các thế lực thù địch đã biến sự khẳng định “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” trở thành “cái cớ” để tiếp tục bóp méo, xuyên tạc, cho rằng Đảng đã thay đổi lập trường, đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Thực chất, những luận điệu này không xuất phát từ sự “phản biện khoa học” hay “góp ý chính sách”, mà là âm mưu chính trị có tính hệ thống, tấn công vào nền tảng tư tưởng, phá hoại niềm tin của nhân dân và làm suy yếu tính chính danh sự lãnh đạo của Đảng. Chúng không chỉ phủ nhận vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân, mà sâu xa hơn là phủ nhận mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và con đường phát triển mà Đảng ta đã lựa chọn.

2.2. Bước tiến của tư duy đổi mới, không “chệch hướng” xã hội chủ nghĩa

Là bộ phận của nền kinh tế quốc dân, kinh tế tư nhân được hình thành trên cơ sở tư hữu về tư liệu sản xuất, trong đó các cá nhân hoặc nhóm cá nhân giữ vai trò chủ sở hữu, trực tiếp tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh. Xét về cấu trúc, khu vực này bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận nhưng chịu sự điều tiết của pháp luật và định hướng phát triển của Nhà nước. Đây là khu vực kinh tế có tính đa dạng cao về quy mô, hình thức sở hữu và phương thức tổ chức sản xuất, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và hội nhập quốc tế. “Xét về mặt quan hệ sở hữu, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đều thuộc cùng loại hình sở hữu tư nhân”()

Khi bàn luận về bản chất và quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tuy C. Mác và Ph. Ăng-ghen chưa đề cập đến khái niệm kinh tế tư nhân như cách hiểu hiện nay, nhưng những phạm trù gắn liền như “sở hữu tư nhân”, “chế độ chiếm hữu tư bản chủ nghĩa” và “lao động tư nhân” đã được luận giải. Theo đó, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chính là nguồn gốc sinh ra quan hệ bóc lột - bản chất giai cấp của chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, C. Mác và Ph. Ăng-ghen cũng nhìn nhận biện chứng rằng, giai cấp tư sản và nền sản xuất dựa trên sở hữu tư nhân có vai trò lịch sử quan trọng trong việc phá vỡ những ràng buộc phong kiến, giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho tiến bộ xã hội. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848), hai ông viết: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”(). Việc xóa bỏ chế độ tư hữu không thể thực hiện một cách đột ngột khi lực lượng sản xuất chưa đạt đến trình độ phát triển tương ứng, Ph. Ăng-ghen đặt câu hỏi: “Liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không?” và khẳng định: “Không, không thể được, cũng y như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu... và chỉ khi nào đã tạo nên được một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu”(). Nghĩa là, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chế độ sở hữu tư nhân vẫn có thể tồn tại dưới sự định hướng, kiểm soát và được cải tạo bởi nhà nước của giai cấp vô sản, cho đến khi lực lượng sản xuất phát triển đủ để thay thế nó bằng những quan hệ sản xuất tiến bộ hơn.

Trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, V.I. Lê-nin và Đảng Bônsêvích khẳng định, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước như “mắt xích trung gian quan trọng” trong quá  tiến lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1921, trong tác phẩm Bàn về thuế lương thực, ông viết “Chúng ta hãy kể ra những thành phần kinh tế ấy: 1) kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên; 2) sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì); 3) chủ nghĩa tư bản tư nhân; 4) chủ nghĩa tư bản nhà nước; 5) chủ nghĩa xã hội”(). Không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân, V.I. Lê-nin còn nhấn mạnh vai trò khôi phục nền sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất của khu vực này trong thời kỳ quá độ. 

Chính sách Kinh tế mới của V.I. Lê-nin là minh chứng cho tư duy thực tiễn, linh hoạt và biện chứng về vai trò của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ông chủ trương mở rộng phạm vi hoạt động có kiểm soát của khu vực tư nhân, cho phép tự do buôn bán, khuyến khích sản xuất hàng hóa, nhằm nhanh chóng khôi phục kinh tế sau nội chiến và nạn đói. Trong điều kiện nền kinh tế còn khó khăn, cần chấp nhận và sử dụng chủ nghĩa tư bản ở mức độ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, trao đổi hàng hóa của đông đảo nông dân và các chủ thể kinh tế tư nhân. Đồng thời, chủ trương thu hút tư bản nước ngoài thông qua các hình thức như tô nhượng, cho thuê xí nghiệp, hầm mỏ, rừng, đất đai, mỏ dầu hoặc ký kết các hợp đồng thương mại với các nước tư bản phát triển nhằm khôi phục sản xuất, thúc đẩy công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tiếp nhận máy móc, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế(). V.I. Lê-nin khẳng định “Chính quyền Xô viết mời các nhà tư bản nước ngoài nào muốn có các tô nhượng ở nước Nga”() và “Tất cả các đồng chí đều phải làm kinh tế. Bên cạnh các đồng chí sẽ có những nhà tư bản, cũng sẽ có những nhà tư bản nước ngoài… Họ sẽ làm giàu bên cạnh các đồng chí. Cứ để cho họ làm giàu; còn các đồng chí thì sẽ học ở bọn họ cách quản lý kinh tế, chỉ có như thế, các đồng chí mới xây dựng được nước cộng hòa cộng sản chủ nghĩa”(). Chính sách này đã tạo nên “cú hích” mạnh mẽ đối với lực lượng sản xuất, thúc đẩy giao thương, khơi dậy tính năng động của người lao động, đồng thời tăng cường tiềm lực vật chất cho Nhà nước Xô-viết non trẻ.

Không phải “bước lùi” về tư tưởng, mà đây là phương pháp, cách thức  để đi lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường thực tiễn, khả thi nhất. V.I. Lê-nin khẳng định: “Phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc đi qua chủ nghĩa tư bản nhà nước để tiến lên chủ nghĩa xã hội… bằng cách khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng sự quan tâm thiết thân của cá nhân, bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh tế”(). Tư tưởng này phản ánh tầm nhìn vượt thời đại khi khẳng định việc sử dụng có chọn lọc các yếu tố của kinh tế tư nhân và cơ chế thị trường không hề đi ngược với định hướng xã hội chủ nghĩa, mà trái lại, là bước đi tất yếu để phát triển lực lượng sản xuất, tạo tiền đề vật chất để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vững mạnh và hiện đại.

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành những quan điểm sâu sắc, mang tính thực tiễn cao về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, trong bối cảnh đất nước phải đối mặt đồng thời với giặc đói, dốt và ngoại xâm, Người chủ trương huy động mọi tiềm lực của các thành phần kinh tế, coi đó là điều kiện sống còn để khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, củng cố nền độc lập non trẻ.

Bấy giờ, theo Người, kết cấu của nền kinh tế gồm: “Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc ít có gì bán và cũng ít khi mua gì... Kinh tế tư bản của tư nhân. Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế. Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội”(). Cách phân loại đó thể hiện tư duy biện chứng và linh hoạt trong việc thừa nhận sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, đồng thời xác định rõ vai trò của từng khu vực trong tiến trình phát triển. 

Thực tiễn cho thấy, nhận thức và chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với kinh tế tư nhân đã có những chuyển biến căn bản, phản ánh sự đổi mới tư duy phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước. Trước Đổi mới, chính sách kinh tế thời kỳ này đặt trọng tâm vào kinh tế quốc doanh và tập thể, coi đây là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, trong khi khu vực kinh tế tư nhân chỉ được tồn tại ở phạm vi nhỏ lẻ, mang tính bổ trợ. Từ sau Đại hội VI, quan điểm của Đảng đã có bước chuyển rõ rệt khi “coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”()

Hội nghị Trung ương 5 khóa IX của Đảng thể hiện rõ bước ngoặt tư duy với Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 18-3-2002, “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” với nhiều giải pháp quan trọng khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân. Đây là sự thay đổi căn bản về nhận thức, đặt nền tảng cho việc khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển trong khuôn khổ pháp luật và cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Đại hội X của Đảng chính thức khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Cụ thể hóa chủ trương đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Quy định số 15-QĐ/TW, ngày 28-8-2006, “Về đảng viên làm kinh tế tư nhân”; Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 9-12-2011, “Về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Đặc biệt, đến Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, lần đầu tiên kinh tế tư nhân được xác định là “một động lực quan trọng để phát triển kinh tế”(), đánh dấu bước tiến quan trọng trong tư duy phát triển. 

Đến Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là người lao động”(). Tiếp đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW nhấn mạnh kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững”(). Có thể thấy, Nghị quyết số 68-NQ/TW là nghị quyết triển khai toàn diện về phát triển kinh tế tư nhân, mở ra bước chuyển quan trọng trong tư duy và chính sách phát triển kinh tế tư nhân, chuyển từ việc “thừa nhận” sang “bảo vệ, khuyến khích và thúc đẩy phát triển”, từ vai trò “bổ trợ” sang “dẫn dắt phát triển”. Đây thật sự là bước tiến đột phá về tư duy phát triển, trở thành cuộc “cách mạng về tư duy và thể chế” cho kinh tế tư nhân, tạo lập và củng cố niềm tin, thúc đẩy khu vực này vươn lên, bứt phá; là sự lựa chọn chiến lược đúng đắn, cấp thiết, mang tầm nhìn dài hạn, nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường vào giữa thế kỷ XXI.

 Tại Đại hội XIV, Đảng ta tiếp tục khẳng định, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, “phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”(). Thực tiễn gần 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới đã chứng minh cho khẳng định này. Điển hình, giai đoạn 2016 - 2025, số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng từ 488.395 doanh nghiệp lên 940.000 doanh nghiệp; số lượng hộ kinh doanh (cơ sở sản xuất phi nông nghiệp) tăng từ 4,909 triệu hộ lên trên 5 triệu hộ. Hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới().Trong bài viết “Phát triển kinh tế tư nhân - Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng”, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Kinh tế tư nhân phải là lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới”, “Kinh tế tư nhân cần phấn đấu trở thành lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo”().

Như vậy, cần khẳng định rằng, sự phát triển của kinh tế tư nhân là tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của lực lượng sản xuất, đồng thời là minh chứng rõ ràng cho tính đúng đắn của đường lối Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Nếu coi sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân là “từ bỏ chủ nghĩa xã hội” như một số luận điệu xuyên tạc, thì điều đó hoàn toàn sai lầm và phản khoa học. Ngược lại, chính sự lớn mạnh của khu vực này đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, khẳng định tính đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo trong tư duy phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.

2.3. Giải pháp để Nghị quyết số 68-NQ/TW tiếp tục thấm sâu, lan toả mạnh mẽ vào đời sống

Quán triệt quan điểm “kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng”(), để hiện thực hóa mục tiêu khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55-58% GDP vào năm 2030 và 60% GDP vào năm 2045, thời gian tới, bên cạnh các giải pháp, nhiệm vụ đã triển khai, chúng ta nên quan tâm một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường truyền thông chính sách theo hướng khách quan, minh bạch; kịp thời phát hiện, biểu dương các mô hình tốt, cách làm hiệu quả; đi đôi với siết chặt kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn “chủ nghĩa thân hữu”, lợi ích nhóm và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Qua đó, tạo dựng niềm tin thị trường, hình thành môi trường kinh doanh thực sự minh bạch, bình đẳng và lành mạnh.

Hai là, hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Cần rà soát, sửa đổi các quy định chồng chéo, lỗi thời; thu hẹp tối đa cơ chế “xin - cho”; chuyển mạnh sang điều tiết bằng công cụ thị trường, tiêu chuẩn và minh bạch thông tin. Xây dựng khung pháp lý khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo hộ quyền tài sản và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Đề cao trách nhiệm dự báo và phản ứng chính sách của các bộ, ngành, địa phương, bảo đảm pháp luật “đi trước một bước” để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.

Ba là, cải cách thủ tục hành chính, tăng tốc số hoá. Chuẩn hóa quy trình “một cửa” điện tử từ đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan đến bảo hiểm xã hội; cắt giảm thực chất thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Tiếp tục tinh gọn bộ máy, nâng chuẩn trách nhiệm công vụ, tăng cường kỷ luật giải trình và thanh tra dựa trên rủi ro. Triển khai quyết liệt các chương trình hành động của Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân để chính quyền thực sự trở thành đối tác đồng hành cùng doanh nghiệp.

Bốn là, phát triển hệ sinh thái cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và khởi nghiệp. Thiết kế gói hỗ trợ có mục tiêu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup sáng tạo tiếp cận vốn (bảo lãnh tín dụng, quỹ đầu tư mạo hiểm), đất đai, hạ tầng số, tư vấn pháp lý - quản trị, và kết nối thị trường. Mở rộng cơ hội để khu vực kinh tế tư nhân tham gia các dự án quan trọng của quốc gia, chuỗi cung ứng hạ tầng và nhiệm vụ khoa học - công nghệ trọng điểm thông qua đặt hàng công, đấu thầu linh hoạt, ưu đãi có điều kiện gắn với hiệu quả và tính minh bạch.

Năm là, nâng cao năng suất dựa trên công nghệ và công nghiệp chế biến, chế tạo. Định hướng hỗ trợ vào các mắt xích tạo giá trị gia tăng cao như R&D, thiết kế, logistics thông minh và công nghiệp hỗ trợ. Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, làm chủ quy trình, tích lũy tri thức để tiến tới tự thiết kế - tự chế tạo. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu chuỗi giá trị toàn cầu, áp dụng quản trị hiện đại, chuẩn ESG và kinh tế tuần hoàn nhằm vừa tăng năng suất lao động, vừa bảo đảm phát triển bền vững.

Phát triển kinh tế tư nhân không phải là “nới lỏng” định hướng, mà là nâng cấp năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi nhận thức được thống nhất, pháp luật thông suốt, thủ tục tinh gọn, hệ sinh thái hỗ trợ hiệu quả và năng suất được nâng cao nhờ ứng dụng công nghệ, khu vực kinh tế tư nhân sẽ tạo ra xung lực mới cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững mà các nghị quyết của Đảng đã đề ra. Đây là thời điểm hành động để kiến tạo một Việt Nam năng động, tự cường và vươn xa.

3. Kết luận

Việc xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” trong Nghị quyết số 68-NQ/TW là kết quả của quá trình phát triển nhận thức lý luận gắn với tổng kết thực tiễn sâu sắc của Đảng ta qua gần 40 năm Đổi mới. Đây không phải là sự điều chỉnh mang tính tình thế, mà là bước tiến logic, kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phù hợp với quy luật phát triển của lực lượng sản xuất và yêu cầu hội nhập quốc tế.

Thực tiễn phát triển của đất nước đã chứng minh vai trò ngày càng to lớn của khu vực kinh tế tư nhân trong huy động nguồn lực xã hội, tạo việc làm, thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Sự lớn mạnh của khu vực này không làm suy giảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, mà bổ sung, tương hỗ, cùng tạo nên cấu trúc kinh tế năng động, hiệu quả trong khuôn khổ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng.

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, để Nghị quyết số 68-NQ/TW tiếp tục đi vào cuộc sống, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của xã hội và tinh thần chủ động, sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp. Cần thống nhất nhận thức, hoàn thiện thể chế, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, an toàn để kinh tế tư nhân yên tâm đầu tư, phát triển lâu dài. Đồng thời, khơi dậy khát vọng vươn lên, tinh thần đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh, để khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành lực lượng tiên phong, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

4. Tài liệu tham khảo

C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 4. 

Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II.

Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 8.

Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014), “Chính sách kinh tế mới của V.I. Lê-nin - Cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng của đường lối đổi mới”, Tạp chí Cộng sản điện tử. https://tapchicongsan.org.vn/

Tô Lâm (2025), “Phát triển kinh tế tư nhân - Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng”, Tạp chí Cộng sản, số 1.059.

V.I. Lê-nin (2005), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 43.

V.I. Lê-nin (2005), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 44.

TÁC PHẨM THAM GIA

Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2026


1. Tên bài: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” là bước tiến của tư duy đổi mới, không “chệch hướng” xã hội chủ nghĩa.

2. Loại hình: Tạp chí

3. Tác giả: 

Họ và tên: Nguyễn Cao Siêng

Học hàm: Không       Học vị: Thạc sĩ

Chuyên ngành: Triết học

Chức vụ: Không

Chức danh chuyên môn: Biên tập viên

Đơn vị: Tạp chí Cộng sản, Cơ quan Thường trực tại miền Nam

Địa chỉ: Số 19, Phạm Ngọc Thạch, phường Võ Thị Sáu, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

Số điện thoại: 0986.486.512

4. Nội dung gửi dự thi: 01 bản in dự thi và file của bài viết./.

Ghi chú: Bài viết đã gửi Tạp chí Cộng sản chờ đăng


“TỪ SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MÁY ĐẾN TÁI CẤU TRÚC QUYỀN LỰC QUẢN TRỊ: NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VÀ PHẢN BÁC MỘT SỐ NHẬN THỨC LỆCH LẠC, PHIẾN DIỆN”

 

Tóm tắt: Sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị làm thay đổi căn bản cách thức phân bổ quyền lực, giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và chất lượng phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, vẫn còn một số cách hiểu chưa đầy đủ, phiến diện về mục tiêu, bản chất và tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy. Trên cơ sở làm rõ tính tất yếu và bản chất của cuộc cải cách này, bài viết góp phần nhận diện, đấu tranh và phản bác các nhận thức lệch lạc, đồng thời khẳng định ý nghĩa chiến lược của việc tái cấu trúc quyền lực quản trị trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Từ khóa: sắp xếp tổ chức bộ máy; hiệu lực, hiệu quả quản trị; nhận diện, đấu tranh và phản bác nhận thức lệch lạc, phiến diện.

1. Tính tất yếu của cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy

“Mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta từ năm 1945 đến nay cơ bản ổn định gồm 3 khối (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội). Với cơ chế vận hành Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, tổ chức bộ máy của từng khối đã có sự điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu cách mạng của từng giai đoạn lịch sử”. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đang được triển khai hiện nay không phải là một sự điều chỉnh mang tính kỹ thuật hay giải pháp tình thế trước những yêu cầu trước mắt, mà là bước đi có tính chiến lược nhằm tái cấu trúc phương thức tổ chức và vận hành quyền lực trong điều kiện phát triển mới của đất nước. Tính tất yếu của quá trình này bắt nguồn từ cả yêu cầu khách quan của thực tiễn quản trị quốc gia, đòi hỏi đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cũng như xu hướng vận động của mô hình quản trị hiện đại. “Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII (tháng 01/2025) xác định: “Sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đảm bảo hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là một cuộc cách mạng”. Như vậy, từ chỗ chỉ tập trung vào đổi mới Nhà nước, lý luận về hệ thống chính trị chưa được định hình hoàn chỉnh ở giai đoạn đầu đổi mới, đến có bước đột phá về lý luận tổ chức, lần đầu đưa ra nguyên tắc cụ thể, rõ ràng để tránh chồng chéo, trùng lặp chức năng ở Đại hội XII và trở thành lý luận phát triển ở tầm cao chiến lược, gắn đổi mới hệ thống chính trị với quản trị quốc gia hiện đại, dân chủ và kiểm soát quyền lực ở Đại hội XIII”.

Trước hết, yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy xuất phát từ đòi hỏi nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị trong bối cảnh bộ máy của hệ thống chính trị còn tồn tại những điểm chưa thật sự hợp lý. Trong quá trình phát triển qua nhiều giai đoạn, tổ chức bộ máy từng bước được bổ sung, điều chỉnh để đáp ứng nhiệm vụ mới; tuy nhiên, việc hình thành thêm đầu mối, tầng nấc trung gian ở một số nơi đã làm nảy sinh tình trạng chức năng, nhiệm vụ có mặt còn giao thoa, phân định trách nhiệm chưa thật rõ ràng, quy trình xử lý công việc có khâu kéo dài. Khi quyền hạn được phân tán qua nhiều cấp trung gian, quá trình ra quyết định dễ bị chia cắt theo từng khâu, làm giảm tính linh hoạt và kịp thời trong tổ chức thực hiện. Trong điều kiện yêu cầu quản trị ngày càng nhanh, chính xác và minh bạch, những yếu tố này trở thành rào cản đối với việc nâng cao hiệu lực hoạt động của bộ máy.

Bên cạnh đó, mô hình tổ chức nhiều tầng nấc dễ dẫn đến tình trạng trách nhiệm không gắn chặt với thẩm quyền. Khi một vấn đề phải qua nhiều cấp xử lý, việc xác định trách nhiệm cuối cùng trở nên phức tạp, ảnh hưởng đến tính chủ động trong thực thi công vụ. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả quản lý mà còn tác động đến chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Trong khi đó, yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ đòi hỏi quy trình xử lý phải rõ đầu mối, trách nhiệm phải cụ thể, quyết định phải nhanh chóng và có khả năng kiểm soát. Do vậy, việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, giảm trung gian, tăng tính trực tiếp trong chỉ đạo, điều hành là yêu cầu khách quan nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên.

Tính tất yếu của việc sắp xếp tổ chức bộ máy còn xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn phát triển mới. Trong điều kiện đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số mạnh mẽ, phương thức lãnh đạo cần được tổ chức theo hướng khoa học, linh hoạt và hiệu quả hơn. Điều này đòi hỏi bộ máy không chỉ thực hiện tốt chức năng quản lý hành chính, mà còn phải bảo đảm khả năng hoạch định chính sách, điều phối nguồn lực và tổ chức thực thi đồng bộ. 

Cùng với đó, quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hiện nay cũng đặt ra yêu cầu phải thiết kế lại cấu trúc tổ chức bộ máy. Khi quyền hạn được giao nhiều hơn cho cấp dưới, tổ chức trung gian không còn giữ vai trò truyền đạt đơn thuần mà cần chuyển sang chức năng điều phối hoặc hỗ trợ. Nếu bộ máy không được sắp xếp lại tương ứng, sẽ dễ dẫn đến tình trạng chồng chéo hoặc phát sinh những khâu trung gian không còn phù hợp. Vì vậy, sắp xếp tổ chức bộ máy chính là điều kiện cần thiết để thực hiện phân cấp, phân quyền một cách thực chất, gắn quyền hạn với trách nhiệm và nâng cao tính tự chủ trong quản trị.

Mặt khác, sự phát triển của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức quản lý. Nhiều quy trình trước đây phụ thuộc vào xử lý thủ công và truyền đạt theo cấp bậc, nay có thể thực hiện trực tuyến, đồng bộ và minh bạch. Điều này làm giảm nhu cầu duy trì các tầng nấc trung gian thuần túy về hành chính, đồng thời mở ra khả năng tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ nhưng hiệu quả hơn. Khi thông tin được chia sẻ nhanh chóng, quyết định có thể được đưa ra trực tiếp ở cấp có thẩm quyền mà không cần qua nhiều khâu trung chuyển. Trong bối cảnh đó, việc sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn không chỉ phù hợp mà còn là yêu cầu tất yếu để thích ứng với phương thức quản trị mới.

Ngoài ra, yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cũng gắn chặt với việc sắp xếp tổ chức bộ máy. Một bộ máy tinh gọn sẽ tạo điều kiện cơ cấu lại đội ngũ theo hướng rõ vị trí việc làm, rõ trách nhiệm và rõ tiêu chuẩn. Khi chức năng, nhiệm vụ được thiết kế hợp lý, mỗi vị trí công tác sẽ gắn với yêu cầu năng lực cụ thể, qua đó thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực công. Ngược lại, nếu tổ chức bộ máy phân tán, chồng chéo, việc xác định vị trí việc làm sẽ khó chính xác, ảnh hưởng đến công tác bố trí, sử dụng và đánh giá cán bộ. Vì vậy, sắp xếp tổ chức bộ máy không chỉ nhằm tinh gọn đầu mối mà còn tạo nền tảng cho đổi mới công tác cán bộ theo hướng khoa học và hiệu quả hơn.

Từ góc độ tổng thể, sắp xếp tổ chức bộ máy còn là yêu cầu để bảo đảm sự vận hành đồng bộ của hệ thống chính trị trong điều kiện phát triển mới. Khi các cơ quan, đơn vị được tổ chức hợp lý, mối quan hệ phối hợp sẽ rõ ràng hơn, giảm tình trạng giao thoa nhiệm vụ và nâng cao tính thống nhất trong chỉ đạo, điều hành. Điều này góp phần tăng cường hiệu quả phối hợp giữa các cấp, các ngành, đồng thời tạo điều kiện để các chủ trương, chính sách được triển khai nhanh chóng, nhất quán. Đây cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

2. Bản chất cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy về quyền lực quản trị

Cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy đã hoàn thành vượt các mục tiêu Nghị quyết 18 đề ra đến năm 2030. Hệ thống tổ chức, các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương được tổ chức lại đồng bộ, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. “Kết thúc hoạt động mô hình Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng từ Trung ương đến địa phương; giảm 4 cơ quan Đảng Trung ương, 5 cơ quan Quốc hội, 5 bộ, 3 cơ quan thuộc Chính phủ, 13 tổng cục và tương đương, gần 1.500 đầu mối cấp vụ và hơn 4.800 đầu mối cấp phòng. Giảm 29 tỉnh, thành phố, không tổ chức mô hình cấp huyện và giảm gần 700 huyện. Điều chỉnh sáp nhập từ hơn 10.000 xuống còn 3.321 xã, phường (giảm khoảng 6.700 xã, phường). Tinh giản gần 150.000 cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thông qua chính sách hỗ trợ vượt trội. Đã sắp xếp tổ chức bộ máy theo mô hình mới, tổ chức lại hệ thống quân đội, công an ở địa phương, tòa án, viện kiểm sát, thanh tra, các cơ quan, đơn vị quản lý theo ngành dọc. Sắp xếp tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở địa phương đồng bộ với tổ chức hành chính”. Nếu chỉ nhìn nhận việc sắp xếp tổ chức bộ máy dưới góc độ tinh giản đầu mối hoặc cơ cấu lại tổ chức hành chính ắt sẽ khó thấy hết chiều sâu của cuộc cải cách đang được triển khai. Thực chất, quá trình này đang tác động trực tiếp đến cách thức tổ chức, phân bổ và vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị. Không chỉ điều chỉnh hình thức tổ chức, sắp xếp bộ máy đang làm thay đổi cấu trúc quyền lực quản trị theo hướng tập trung hơn về định hướng, rõ ràng hơn về trách nhiệm, linh hoạt hơn trong điều hành và hiệu quả hơn trong tổ chức thực thi. Chính sự thay đổi mang tính cấu trúc đó cho thấy, sắp xếp tổ chức bộ máy là cuộc cách mạng về quyền lực quản trị, đồng thời tạo ra những giá trị chiến lược đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và hiệu lực quản trị quốc gia.

Trước hết, sắp xếp tổ chức bộ máy là quá trình tái cấu trúc quyền lực lãnh đạo theo hướng tập trung, thống nhất và xuyên suốt hơn. Trong mô hình tổ chức nhiều tầng nấc, quyền lực lãnh đạo dễ bị phân tán qua các cấp trung gian, dẫn đến tình trạng chủ trương khi triển khai có thể bị kéo dài theo từng khâu, làm giảm tính đồng bộ trong thực hiện. Khi bộ máy được sắp xếp theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối trung gian, việc lãnh đạo, chỉ đạo được truyền đạt trực tiếp hơn, bảo đảm sự thống nhất từ định hướng đến tổ chức thực hiện. Quyền lực lãnh đạo vì vậy không bị “chia nhỏ” theo từng cấp, mà được tổ chức lại theo hướng mạch lạc và hiệu quả. Giá trị chiến lược của sự thay đổi này là nâng cao năng lực lãnh đạo tổng thể của hệ thống chính trị, bảo đảm các chủ trương lớn được triển khai nhanh chóng, đồng bộ và nhất quán. Đồng thời, việc rõ đầu mối lãnh đạo cũng góp phần tăng cường trách nhiệm của từng cấp, hạn chế tình trạng phân tán trong điều hành.

Cùng với đó, sắp xếp tổ chức bộ máy làm thay đổi cách thức phân bổ quyền lực quản lý nhà nước theo hướng rõ ràng, minh bạch và gắn trách nhiệm cụ thể. Khi chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan được xác định lại một cách khoa học, quyền hạn quản lý không còn dàn trải qua nhiều đầu mối, mà được phân định rõ theo từng lĩnh vực, từng cấp quản lý. Sự thay đổi này không chỉ khắc phục tình trạng giao thoa chức năng, mà còn tạo điều kiện để tăng tính chủ động trong điều hành. Khi quyền hạn gắn chặt với trách nhiệm, mỗi cơ quan, đơn vị sẽ có điều kiện phát huy vai trò trong phạm vi được giao, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình.

Trong mô hình nhiều tầng nấc, việc triển khai chủ trương thường phải qua nhiều cấp trung gian, làm kéo dài thời gian xử lý và giảm tính chủ động của cấp trực tiếp thực hiện. Khi bộ máy được sắp xếp theo hướng tinh gọn, cấp thực thi có điều kiện tiếp cận trực tiếp hơn với quyết định của cấp có thẩm quyền, qua đó rút ngắn quy trình xử lý công việc. Quyền lực thực thi được tăng cường, gắn với trách nhiệm cụ thể, giảm phụ thuộc vào các khâu trung gian. Sự thay đổi này tạo ra giá trị chiến lược trong việc nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, bảo đảm các chủ trương, chính sách được triển khai nhanh chóng, đồng thời nâng cao tính linh hoạt trong quản trị.

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy cũng tạo ra bước chuyển quan trọng từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại. Trong mô hình quản lý hành chính, quyền lực thường được tổ chức theo chuỗi cấp bậc với nhiều khâu trung gian nhằm bảo đảm kiểm soát theo chiều dọc. Tuy nhiên, trong điều kiện yêu cầu quản trị linh hoạt và minh bạch, mô hình này bộc lộ những hạn chế nhất định. Giá trị chiến lược của sự chuyển đổi này là hình thành mô hình quản trị hiện đại, trong đó quyền lực được tổ chức khoa học hơn, quy trình xử lý được rút gọn và hiệu quả điều hành được nâng cao.

Đồng thời, sắp xếp tổ chức bộ máy gắn với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn trong quản trị nhà nước. Khi cấp trung gian được thu gọn, quyền hạn được chuyển giao trực tiếp cho cấp có khả năng tổ chức thực hiện, qua đó tăng cường tính chủ động và trách nhiệm của từng cấp quản lý. Đây là bước chuyển từ cơ chế quản lý theo thủ tục sang quản trị dựa trên kết quả. Quyền lực không chỉ tập trung ở khâu ban hành chủ trương, mà được trao nhiều hơn cho cấp thực thi, tạo điều kiện phát huy tính sáng tạo trong quản lý. Giá trị chiến lược của sự thay đổi này là nâng cao năng lực quản trị của từng cấp, đồng thời hình thành cơ chế vận hành linh hoạt, phù hợp với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.

Từ góc độ tổng thể, sắp xếp tổ chức bộ máy đang tạo ra sự chuyển dịch căn bản trong cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị. Quyền lực lãnh đạo được tổ chức tập trung, thống nhất; quyền lực quản lý được phân định rõ ràng; quyền lực thực thi được tăng cường; cơ chế phối hợp được thiết kế lại theo hướng linh hoạt và hiệu quả. Những thay đổi này không chỉ làm cho bộ máy tinh gọn về tổ chức, mà quan trọng hơn là làm cho quyền lực quản trị được tổ chức khoa học hơn, vận hành thông suốt hơn và gắn chặt hơn với trách nhiệm giải trình.

3. Nhận diện, đấu tranh và phản bác một số nhận thức lệch lạc, phiến diện về cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy

Cùng với quá trình triển khai sắp xếp tổ chức bộ máy trong toàn hệ thống chính trị, bên cạnh sự đồng thuận cao vẫn xuất hiện một số cách hiểu chưa đầy đủ, thậm chí phiến diện về mục tiêu, bản chất và tác động của cuộc cải cách này. Việc phân tích, làm sáng tỏ bản chất của vấn đề, qua đó góp phần định hướng nhận thức đúng đắn, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng và hành động. Các cách hiểu chưa đầy đủ thường không xuất phát từ một lập luận hệ thống, mà chủ yếu hình thành từ việc nhìn nhận sắp xếp tổ chức bộ máy dưới góc độ cục bộ, hoặc đồng nhất cuộc cải cách mang tính cấu trúc với những điều chỉnh mang tính kỹ thuật.

Trước hết, có quan điểm cho rằng sắp xếp tổ chức bộ máy chủ yếu là việc giảm đầu mối tổ chức hoặc thu gọn quy mô biên chế. Nhận thức này tuy phản ánh một biểu hiện bề ngoài của quá trình sắp xếp, nhưng chưa phản ánh đúng bản chất của cuộc cải cách. Nếu chỉ nhìn nhận việc tinh gọn bộ máy như một quá trình “giảm số lượng”, sẽ dễ dẫn đến cách tiếp cận cơ học, coi việc sáp nhập hoặc điều chỉnh tổ chức là mục tiêu tự thân, thay vì là phương tiện để nâng cao hiệu lực quản trị. Thực tế cho thấy, việc sắp xếp tổ chức bộ máy không nhằm thu hẹp chức năng của hệ thống chính trị, mà nhằm tổ chức lại các đầu mối theo hướng hợp lý hơn, giảm sự phân tán quyền lực và tăng tính thống nhất trong điều hành. Khi các cơ quan được thiết kế lại với chức năng rõ ràng, trách nhiệm cụ thể, hiệu quả hoạt động được nâng cao, trong khi quy mô tổ chức có thể gọn hơn. Do đó, việc giảm đầu mối chỉ là hệ quả của quá trình tái cấu trúc, không phải là mục tiêu duy nhất của cuộc cải cách.

Một cách hiểu khác cho rằng việc tinh gọn tổ chức bộ máy có thể làm giảm hiệu quả quản lý do khối lượng công việc tập trung vào ít đầu mối hơn. Nhận thức này xuất phát từ cách nhìn coi hiệu quả quản lý phụ thuộc chủ yếu vào số lượng tổ chức hoặc cấp trung gian. Tuy nhiên, hiệu quả quản trị không phụ thuộc vào số lượng tầng nấc, mà phụ thuộc vào sự rõ ràng về chức năng, trách nhiệm và quy trình phối hợp. Trong mô hình tổ chức nhiều tầng nấc, việc phân tán nhiệm vụ qua nhiều cấp có thể làm kéo dài quy trình xử lý, thậm chí phát sinh những khâu trung gian không cần thiết. Ngược lại, khi tổ chức bộ máy được sắp xếp hợp lý, trách nhiệm được xác định rõ ràng, việc điều hành trở nên trực tiếp hơn, giảm thời gian phối hợp và nâng cao chất lượng quyết định. Vì vậy, tinh gọn bộ máy không đồng nghĩa với thu hẹp năng lực quản lý, mà là điều kiện để nâng cao hiệu quả quản trị thông qua tổ chức lại quyền lực một cách khoa học hơn.

Cũng có cách nhìn cho rằng sắp xếp tổ chức bộ máy có thể gây xáo trộn trong quá trình vận hành, ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ thống. Đây là nhận định xuất phát từ lo ngại về sự thay đổi tổ chức trong ngắn hạn. Cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy hệ thống chính trị mới chỉ là bước đầu. “Để thực sự đạt được yêu cầu tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, còn rất nhiều việc cần tiếp tục thực hiện để mở ra điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước...” Bất kỳ cuộc cải cách mang tính cấu trúc nào cũng cần có giai đoạn chuyển tiếp nhất định để thích ứng với mô hình mới. Điều quan trọng là sự điều chỉnh này nhằm hướng tới sự ổn định lâu dài, chứ không phải tạo ra biến động. Khi tổ chức bộ máy được thiết kế lại hợp lý, mối quan hệ phối hợp được xác lập rõ ràng, trách nhiệm được phân định cụ thể, hệ thống sẽ vận hành ổn định hơn so với trước. Như vậy, những thay đổi trong giai đoạn đầu là cần thiết để tạo lập cấu trúc quản trị bền vững, phù hợp với yêu cầu phát triển lâu dài.

Một cách hiểu chưa toàn diện khác đồng nhất sắp xếp tổ chức bộ máy với cải cách hành chính thuần túy. Cách nhìn này chưa phản ánh đầy đủ phạm vi và tác động của cuộc cải cách hiện nay. Cải cách hành chính chủ yếu tập trung vào thủ tục, quy trình và phương thức điều hành, trong khi sắp xếp tổ chức bộ máy tác động trực tiếp đến cấu trúc quyền lực và mô hình vận hành của hệ thống chính trị. Việc điều chỉnh tổ chức kéo theo thay đổi trong phân cấp, phân quyền, trong cơ chế phối hợp và trong trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan. Do đó, sắp xếp tổ chức bộ máy có phạm vi rộng hơn, mang tính chiến lược hơn và có tác động sâu sắc hơn so với những cải cách mang tính kỹ thuật. Nhận thức rõ điều này giúp thấy được ý nghĩa của cuộc cải cách không chỉ ở việc tinh gọn tổ chức, mà ở việc chuyển đổi mô hình quản trị.

Ngoài ra, có cách tiếp cận cho rằng sắp xếp tổ chức bộ máy chỉ là bước điều chỉnh mang tính ngắn hạn nhằm giải quyết một số bất cập trước mắt. Cách nhìn này chưa thấy được tính lâu dài và chiến lược của quá trình tái cấu trúc quyền lực quản trị. Thực tế, việc sắp xếp tổ chức bộ máy gắn với yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu lực quản lý và thích ứng với chuyển đổi số, những yếu tố có tính nền tảng đối với sự phát triển. Khi bộ máy được thiết kế lại theo hướng tinh gọn, phân cấp rõ ràng, trách nhiệm cụ thể, hệ thống quản trị sẽ có khả năng vận hành linh hoạt hơn trong dài hạn. Vì vậy, đây không phải là giải pháp tình thế, mà là bước chuyển có ý nghĩa lâu dài trong quá trình hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia.

Từ những phân tích trên có thể thấy, các cách hiểu chưa đầy đủ về sắp xếp tổ chức bộ máy chủ yếu xuất phát từ việc nhìn nhận cuộc cải cách dưới góc độ hình thức tổ chức, chưa thấy rõ sự thay đổi về cấu trúc quyền lực quản trị. Khi bản chất của quá trình tái cấu trúc được làm rõ, có thể nhận thấy việc tinh gọn bộ máy không làm thu hẹp vai trò của hệ thống chính trị, mà góp phần nâng cao hiệu lực lãnh đạo; không làm giảm hiệu quả quản lý, mà tạo điều kiện để quyết định nhanh hơn, trách nhiệm rõ hơn; không gây bất ổn lâu dài, mà hướng tới sự vận hành ổn định và bền vững; không chỉ là cải cách hành chính, mà là chuyển đổi mô hình quản trị.

4. Một số giải pháp nhằm nhận diện, đấu tranh, phản bác các nhận thức lệch lạc, góp phần triển khai hiệu quả cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy

Một là, cần thống nhất nhận thức về bản chất của việc sắp xếp tổ chức bộ máy là cuộc cách mạng về quyền lực quản trị trong toàn hệ thống chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp có trách nhiệm đưa nội dung này vào sinh hoạt chuyên đề, học tập lý luận chính trị và công tác tuyên truyền nội bộ. Người đứng đầu cấp ủy trực tiếp chỉ đạo xây dựng nội dung quán triệt, bảo đảm làm rõ mục tiêu, bản chất và ý nghĩa của việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tránh cách diễn đạt giản đơn hoặc tuyệt đối hóa. Các cơ quan tham mưu về công tác tổ chức, tuyên giáo và dân vận phối hợp chuẩn hóa nội dung, tài liệu phục vụ quán triệt. Việc tổ chức triển khai cần được thực hiện theo lộ trình cụ thể, gắn với các đợt sinh hoạt chính trị trong năm, đồng thời đưa nội dung nhận thức về sắp xếp tổ chức bộ máy vào chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Kết quả quán triệt phải được đánh giá thông qua mức độ thống nhất nhận thức trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và hiệu quả triển khai tại từng cơ quan, đơn vị.

Hai là, cần nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền nhằm chủ động định hướng dư luận, kịp thời nhận diện và phản bác những cách hiểu chưa đầy đủ. Các cơ quan tuyên giáo, báo chí, truyền thông chính thống cần xây dựng kế hoạch tuyên truyền theo từng giai đoạn, tập trung làm rõ bản chất tái cấu trúc quyền lực quản trị của việc sắp xếp tổ chức bộ máy. Nội dung tuyên truyền cần kết hợp giữa phân tích lý luận với tổng kết thực tiễn, phản ánh những kết quả tích cực của mô hình tổ chức mới. Người đứng đầu cơ quan báo chí chịu trách nhiệm định hướng nội dung, bảo đảm tính chính xác, khách quan và thận trọng trong diễn đạt. Việc triển khai cần thực hiện thường xuyên, liên tục, đồng thời kịp thời bổ sung nội dung khi xuất hiện các nhận thức lệch lạc. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan tham mưu tổ chức và cơ quan tuyên giáo cần được thiết lập rõ ràng, bảo đảm thông tin thống nhất và có tính định hướng cao.

Ba là, gắn việc nhận diện, đấu tranh với các nhận thức lệch lạc, phiến diện với quá trình tổng kết thực tiễn sắp xếp tổ chức bộ máy. Các cơ quan tổ chức cán bộ chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành rà soát, đánh giá kết quả hoạt động của các mô hình tổ chức sau sắp xếp, làm rõ những chuyển biến về hiệu lực quản lý, chất lượng phục vụ và trách nhiệm giải trình. Trên cơ sở đó, xây dựng các báo cáo chuyên đề, cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác tuyên truyền và định hướng nhận thức. Việc tổng kết cần được thực hiện theo mốc thời gian cụ thể, bảo đảm vừa đánh giá kịp thời, vừa có cơ sở khoa học. Trách nhiệm của cơ quan chủ trì là tổ chức thu thập thông tin, phân tích dữ liệu và đề xuất nội dung tuyên truyền phù hợp. Các cơ quan, đơn vị được sắp xếp có trách nhiệm cung cấp thông tin, phối hợp đánh giá và phản ánh kết quả thực hiện.

Bốn là, phát huy vai trò của người đứng đầu trong việc định hướng nhận thức và tổ chức đấu tranh với những cách hiểu chưa đầy đủ. Người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp giải thích, làm rõ chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy trong phạm vi quản lý; kịp thời nắm bắt tâm tư, dư luận của cán bộ, công chức để định hướng phù hợp. Việc này cần được thực hiện thông qua các cuộc họp, sinh hoạt chuyên đề và trao đổi trực tiếp. Trách nhiệm của người đứng đầu không chỉ là quán triệt chủ trương, mà còn phải tổ chức triển khai gắn với đặc điểm của cơ quan, đơn vị. Cấp có thẩm quyền cần đưa nội dung này vào tiêu chí đánh giá trách nhiệm người đứng đầu, bảo đảm việc định hướng nhận thức được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả.

Năm là, tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tham mưu trong công tác nhận diện, đấu tranh và phản bác các nhận thức lệch lạc. Cơ quan tham mưu về tổ chức, tuyên giáo, dân vận, nội chính và các cơ quan liên quan cần thiết lập cơ chế trao đổi thông tin thường xuyên, kịp thời nắm bắt những vấn đề phát sinh trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy. Trên cơ sở đó, xây dựng nội dung định hướng thống nhất, tránh tình trạng thông tin rời rạc hoặc thiếu đồng bộ. Trách nhiệm phối hợp cần được phân công cụ thể, trong đó cơ quan tham mưu tổ chức cung cấp nội dung chuyên môn, cơ quan tuyên giáo và dân vận tổ chức tuyên truyền, các cơ quan liên quan phối hợp triển khai. Việc phối hợp cần thực hiện theo kế hoạch định kỳ, đồng thời có cơ chế xử lý nhanh khi xuất hiện vấn đề mới.

Sáu là, gắn việc nhận diện, đấu tranh tư tưởng với quá trình hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện. Khi các quy định về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan sau sắp xếp được ban hành rõ ràng, những cách hiểu chưa đầy đủ sẽ dần được khắc phục. Đồng thời, cần coi kết quả vận hành hiệu quả của mô hình tổ chức sau sắp xếp là giải pháp thuyết phục nhất để đấu tranh với các nhận thức lệch lạc. Khi bộ máy tinh gọn hoạt động hiệu quả, trách nhiệm rõ ràng, chất lượng phục vụ được nâng cao, những cách hiểu phiến diện sẽ từng bước được điều chỉnh. Do đó, các cơ quan có thẩm quyền cần khẩn trương rà soát, hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy, bảo đảm rõ chức năng, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm và rõ thẩm quyền. Việc ban hành các quy định cần theo tiến độ cụ thể, đồng thời tổ chức hướng dẫn thực hiện thống nhất. Các cơ quan, đơn vị cần tập trung tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ sau sắp xếp, bảo đảm hoạt động thông suốt, không để gián đoạn. Cấp có thẩm quyền cần theo dõi, đánh giá định kỳ, kịp thời tháo gỡ khó khăn và điều chỉnh phù hợp.

Kết luận

Sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị không chỉ là sự điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, mà là bước chuyển mang tính nền tảng trong phương thức tổ chức và vận hành quyền lực. Thực chất, quá trình này đang tái cấu trúc quyền lực quản trị theo hướng tinh gọn đầu mối, rõ trách nhiệm, tăng tính chủ động trong điều hành và nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi. Việc nhận diện và làm rõ những cách hiểu chưa đầy đủ về sắp xếp tổ chức bộ máy vì thế có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố thống nhất nhận thức và nâng cao quyết tâm triển khai. Khi nhìn nhận đúng bản chất của cuộc cải cách, có thể thấy tinh gọn không phải là thu hẹp vai trò, mà là nâng cao năng lực; không phải giảm quy mô đơn thuần, mà là tổ chức lại quyền lực; không phải thay đổi hình thức, mà là chuyển đổi mô hình quản trị. Sự thống nhất về nhận thức sẽ tạo nền tảng để quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy được thực hiện đồng bộ, thận trọng nhưng quyết liệt, qua đó phát huy đầy đủ hiệu quả của cuộc cải cách. Cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy vì vậy không chỉ hướng đến một hệ thống tinh gọn hơn, mà quan trọng hơn là xây dựng cấu trúc quyền lực quản trị khoa học, minh bạch và hiệu quả. Khi quyền lực được tổ chức hợp lý, trách nhiệm được xác định rõ ràng, bộ máy không chỉ hoạt động hiệu lực hơn mà còn phục vụ nhân dân tốt hơn. Tinh gọn để mạnh hơn, rõ trách nhiệm để vận hành hiệu quả, phân cấp hợp lý để phục vụ tốt hơn - đó cũng là thông điệp cốt lõi của cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy trong giai đoạn phát triển mới./.


Ngô Xuân Thủy

Vụ Nghiên cứu khoa học tổ chức, cán bộ

Ban Tổ chức Trung ương



***

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Anh Thơ (2026): Cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy: Chủ trương đúng, trúng, có ý nghĩa lịch sử (Tham luận của Đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng), Báo Điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn/cuoc-cach-mang-sap-xep-to-chuc-bo-may-chu-truong-dung-trung-co-y-nghia-lich-su-10226012112165585.htm, truy cập ngày 20/4/2026

  2. Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (2017): Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

  3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026): Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, t.2, tr.94, tr.169

  4. Tô Lâm (2024): “Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả”, Báo điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn/bai-viet-cua-tong-bi-thu-to-lam-tinh-gon-manh-hieu-nang-hieu-luc-hieu-qua-102241105172459096.htm, truy cập ngày 20/4/2026