Monday, May 25, 2026

NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Tóm tắt:

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ thông tin hiện nay, vấn đề về quyền con người ngày càng trở thành lĩnh vực bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Dưới chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, các đối tượng phản động, cơ hội chính trị thường xuyên xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong bảo đảm quyền con người, kích động tâm lý hoài nghi xã hội, hướng lái dư luận phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài viết tập trung nhận diện các luận điệu sai trái, thù địch về quyền con người; đồng thời đưa ra các luận cứ chính trị, pháp lý và thực tiễn nhằm đấu tranh phản bác những quan điểm xuyên tạc đó. Qua đó khẳng định rằng những thành tựu về dân chủ, quyền con người ở Việt Nam là khách quan, toàn diện và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

 

Từ khóa: nhận diện; quyền con người; luận điệu sai trái; thế lực thù địch; Việt Nam; đấu tranh phản bác.

Đặt vấn đề:

Quyền con người là thành quả phát triển của văn minh nhân loại, đồng thời là giá trị phổ quát được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, vấn đề dân chủ và quyền con người không chỉ mang ý nghĩa nội bộ của mỗi quốc gia mà còn có tác động lớn đến quan hệ quốc tế, phát triển bền vững và ổn định chính trị - xã hội. Đối với Việt Nam, bảo đảm quyền con người luôn là mục tiêu xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý của Nhà nước. Ngay từ khi khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 rằng: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tư tưởng đó tiếp tục được kế thừa và phát triển trong toàn bộ tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị vẫn thường xuyên lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để xuyên tạc tình hình Việt Nam. Chúng cố tình phủ nhận những thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, mở rộng dân chủ và nâng cao đời sống nhân dân. Đặc biệt, trong không gian mạng, các luận điệu sai trái được lan truyền với tốc độ nhanh chóng, tác động trực tiếp đến nhận thức chính trị và niềm tin xã hội.

Trước yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, việc nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về dân chủ và quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, bảo vệ ổn định chính trị và giữ vững định hướng phát triển của đất nước.

1.     Nhận diện các luận điệu sai trái, thù địch chủ yếu về quyền con người

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp. Một trong những luận điệu phổ biến là xuyên tạc bản chất chế độ chính trị ở Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó cổ súy cho quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng cho rằng chỉ có mô hình chính trị phương Tây mới bảo đảm dân chủ và quyền con người, qua đó từng bước thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gây mất ổn định chính trị - xã hội ở nước ta.

Bên cạnh đó, các đối tượng chống phá còn tuyệt đối hóa quyền cá nhân, cổ súy cho các giá trị nhân quyền phương Tây một cách cực đoan, tách rời quyền con người khỏi điều kiện lịch sử, văn hóa, chính trị và lợi ích quốc gia - dân tộc. Chúng cố tình phủ nhận nguyên tắc mọi quyền và tự do đều phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, từ đó xuyên tạc rằng Việt Nam “hạn chế nhân quyền”, “đàn áp dân chủ” khi xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Ngoài ra, các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng những vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tôn giáo, dân chủ để kích động tư tưởng chống đối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người. Đặc biệt, dưới danh nghĩa “xã hội dân sự”, một số tổ chức, hội nhóm không tuân thủ quy định pháp luật được hình thành nhằm tập hợp lực lượng chống đối, tạo ra các “tổ chức đối trọng” với Nhà nước. Thông qua mạng xã hội và các nền tảng truyền thông xuyên biên giới, các đối tượng này thường xuyên phát tán thông tin sai sự thật, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động tư tưởng bất mãn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Những luận điệu sai trái, thù địch nêu trên đều hướng tới mục tiêu làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Vì vậy, việc nhận diện đúng bản chất và âm mưu của các luận điệu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay. 

2.     Luận cứ đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về quyền con người ở Việt Nam

Để bác bỏ các quan điểm xuyên tạc về quyền con người ở Việt Nam, các luận cứ đấu tranh cần được xây dựng trên cơ sở khoa học, pháp lý và thực tiễn khách quan, phù hợp với luật pháp quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Thứ nhất, về tính đồng bộ và phổ biến của quyền con người, quyền con người là giá trị mang tính phổ biến của nhân loại, được cộng đồng quốc tế thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền con người không thể tách rời điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa và truyền thống pháp lý của từng quốc gia. Không có một mô hình dân chủ hay nhân quyền duy nhất áp dụng chung cho mọi quốc gia, dân tộc. Việc áp đặt các tiêu chuẩn mang tính chủ quan, phiến diện sẽ dẫn đến cách nhìn thiếu khách quan về tình hình quyền con người ở mỗi nước.

Việt Nam luôn thừa nhận và tôn trọng các quyền con người phổ quát được ghi nhận trong Liên Hợp Quốc như Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, Việt Nam nhất quán quan điểm gắn quyền con người với quyền dân tộc, độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Trong lời mở đầu của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 chỉ rõ: “... Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền[i]. Khoản 1, Ðiều 1 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 nêu rõ: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết”. Cả hai văn kiện đều đồng thời khẳng định nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết rằng tất cả các dân tộc đều có quyền tự do xác định chế độ chính trị, con đường phát triển kinh tế - xã hội, không bị ép buộc hay can thiệp từ bên ngoài. Đây là nguyên tắc phù hợp với luật pháp quốc tế và thực tiễn lịch sử của Việt Nam - một quốc gia từng trải qua chiến tranh, đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ chủ quyền đất nước.

Thứ hai, về khuôn khổ pháp lý và thực thi nhân quyền, Việt Nam đã xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng bảo đảm ngày càng đầy đủ, toàn diện hơn các quyền con người và quyền công dân, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước và các chuẩn mực pháp lý quốc tế mà Việt Nam cam kết thực hiện. Nhiều đạo luật quan trọng như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Trẻ em… đã được ban hành và sửa đổi nhằm cụ thể hóa các quyền hiến định trong thực tiễn đời sống xã hội.

Bên cạnh đó, quyền con người không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Mọi quyền và tự do đều phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Vì vậy, việc xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật không xuất phát từ quan điểm chính trị hay tư tưởng, mà là xử lý hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng. Đây cũng là nguyên tắc phổ biến được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng.

Thứ ba, về thành tựu bảo đảm quyền con người, trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và đời sống dân sinh. Qua đó, chất lượng cuộc sống của Nhân dân không ngừng được nâng cao, các quyền cơ bản của con người ngày càng được bảo đảm tốt hơn, khẳng định tính đúng đắn trong chính sách phát triển lấy con người làm trung tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Về kinh tế - xã hội, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, công tác xóa đói giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội đạt nhiều kết quả tích cực, được Liên Hợp Quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, Việt Nam vươn lên trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hàng đầu khu vực trong nhiều năm liền. Các quyền cơ bản như quyền học tập, chăm sóc sức khỏe, tiếp cận các dịch vụ xã hội ngày càng được bảo đảm tốt hơn. Đời sống của người dân không ngừng được cải thiện: thu nhập bình quân đầu người năm 2022 đạt khoảng 4.100 USD (so với chỉ 200 USD đầu thập kỷ 1990); tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh (từ 58% năm 1993 xuống dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều mới)[ii] - đồng nghĩa với hàng chục triệu người đã thoát cảnh đói nghèo cũng như quyền có mức sống tối thiểu của người dân ngày càng được đáp ứng tốt hơn. Việt Nam đã hoàn thành sớm Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc trên nhiều phương diện như xóa đói giảm nghèo, phổ cập giáo dục tiểu học, thúc đẩy bình đẳng giới, cải thiện sức khỏe người dân...

Các quyền về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, môi trường, thông tin - truyền thông… được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Chỉ số Phát triển Con người (HDI) của Việt Nam liên tục cải thiện, năm 2021 đạt 0,703[iii] - thuộc nhóm trung bình cao trên thế giới​. Quyền được học hành cũng được đảm bảo với 100% tỉnh/thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tỷ lệ biết chữ của người lớn trên 95%. Bên cạnh đó, quyền tham gia quản lý xã hội của người dân không ngừng được mở rộng. Theo công bố của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Quốc hội khóa XVI (nhiệm kỳ 2026 – 2031) có 500 đại biểu trúng cử, trong đó có 76 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 15,2%; đặc biệt lần đầu tiên có đại biểu dân tộc Ơ Đu tham gia Quốc hội. Đồng thời, tỷ lệ nữ tham gia ứng cử và trúng cử tiếp tục được chú trọng, góp phần bảo đảm quyền bình đẳng giới và quyền tham gia quản lý nhà nước của phụ nữ[iv]​. Những kết quả này cho thấy quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử và quyền tham gia quản lý đất nước của mọi công dân, trong đó có phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số, ngày càng được bảo đảm và phát huy trên thực tế.

Đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm nhu cầu tín ngưỡng chính đáng của Nhân dân. Hiện nay, Việt Nam có hàng chục triệu tín đồ tôn giáo, hàng nghìn cơ sở thờ tự và nhiều tổ chức tôn giáo được công nhận, hoạt động bình đẳng trước pháp luật. Các hoạt động tôn giáo diễn ra đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của người dân, qua đó bác bỏ những luận điệu vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo” hay “không có tự do tín ngưỡng”.

Bên cạnh đó, quyền tiếp cận thông tin và quyền tự do biểu đạt của người dân ngày càng được mở rộng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Internet và mạng xã hội tại Việt Nam. Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia có số lượng người sử dụng Internet và mạng xã hội cao trên thế giới. Người dân có thể dễ dàng tiếp cận thông tin, trao đổi quan điểm và tham gia đóng góp ý kiến về các vấn đề xã hội thông qua nhiều nền tảng khác nhau. Điều này cho thấy môi trường thông tin ngày càng cởi mở và quyền tự do của công dân ngày càng được bảo đảm trên thực tế.

Chính những kết quả toàn diện về phát triển đất nước đã tạo nền tảng vững chắc để quyền dân sự - chính trị của người dân được mở rộng và thực thi hiệu quả hơn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Quả thật, chưa bao giờ hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế lại rạng rỡ như hiện nay - một đất nước hòa bình, ổn định, đang trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế, gắn kết tích cực trong cộng đồng quốc tế và có tiếng nói ngày càng quan trọng. Chính nhờ những thành quả vẻ vang đó, các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như quyền dân sự và chính trị của người dân ngày càng được đảm bảo với chất lượng cao hơn. Không ai có thể phủ nhận rằng người dân Việt Nam hôm nay đang được thụ hưởng các quyền con người ở mức độ cao hơn nhiều so với các giai đoạn trước trong lịch sử dân tộc.

Thứ , những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế quan trọng về quyền con người của Liên Hợp Quốc như Công ước về quyền dân sự, chính trị (ICCPR), Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR), Công ước xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước quyền trẻ em (CRC), Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD). Tính đến năm 2022, Việt Nam đã gia nhập 7/9 công ước nhân quyền cốt lõi của Liên Hợp Quốc và 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)[v]. Việc chủ động ký kết, phê chuẩn các công ước này thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc đáp ứng các chuẩn mực nhân quyền quốc tế, đồng thời tạo động lực để hệ thống pháp luật quốc gia tiếp tục hoàn thiện phù hợp với thông lệ tốt của thế giới.

Thêm vào đó, Việt Nam còn tích cực thực hiện cam kết theo Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) và tăng cường hợp tác đối thoại về nhân quyền với các quốc gia. Đặc biệt, Việt Nam hai lần trúng cử liên tiếp làm Thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (nhiệm kỳ 2014–2016 và 2023–2025) với số phiếu rất cao. Việc Việt Nam được bầu vào cơ quan quan trọng hàng đầu của LHQ về quyền con người là bằng chứng rõ rệt cho thấy uy tín và niềm tin của thế giới đối với Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người ​.

Bên cạnh đó, qua cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) của Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã tự nguyện chấp thuận phần lớn các khuyến nghị về quyền con người, tích cực đối thoại, hợp tác và được nhiều quốc gia khen ngợi về thiện chí, nỗ lực cải thiện không ngừng. Rõ ràng, Việt Nam không né tránh bất cứ vấn đề nhân quyền nào, sẵn sàng trao đổi cởi mở trên tinh thần xây dựng. Điều này góp phần khẳng định sự tự tinminh bạch của chúng ta trong lĩnh vực quyền con người.​ Nói cách khác, thế giới thừa nhậntôn trọng con đường mà Việt Nam đi trong việc thúc đẩy quyền con người. Do đó, những lời cáo buộc phiến diện, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền ở Việt Nam rốt cuộc chỉ nhằm phục vụ ý đồ chính trị đen tối, chứ không phản ánh đúng thực tế.

3.  Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái về quyền con người ở Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về quyền con người ở Việt Nam hiện nay, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trên cả phương diện chính trị, pháp lý, truyền thông và thực tiễn bảo đảm quyền con người.

Thứ nhất, cần xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân”, tăng cường sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm an sinh xã hội và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân chính là cơ sở thực tiễn quan trọng nhất để phản bác các luận điệu xuyên tạc về quyền con người. Khi người dân có cuộc sống ổn định, hạnh phúc và nhận thức pháp luật tốt thì đó sẽ là sức mạnh phản bác hiệu quả nhất đối với mọi âm mưu vu cáo, chống phá.

Thứ hai, cần thực hiện hiệu quả phương châm “lấy xây để chống”, chủ động cung cấp thông tin chính xác, minh bạch về chủ trương, chính sách và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người. Các cơ quan báo chí, truyền thông và lực lượng đấu tranh trên không gian mạng cần đẩy mạnh lan tỏa thông tin tích cực, những mô hình hay, câu chuyện đẹp và các giá trị nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Việc chủ động xây dựng nền tảng nhận thức đúng đắn trong xã hội sẽ góp phần nâng cao “sức đề kháng” trước các thông tin sai trái, xuyên tạc.

Thứ ba, cần phát huy sức mạnh của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bảo vệ quyền con người và giữ vững kỷ cương pháp luật. Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng đặc biệt nhấn mạnh “Cần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”[vi]. Qua đó tạo nền tảng vững chắc để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và lợi ích quốc gia - dân tộc trong tình hình mới. Các cơ quan chức năng phải kiên quyết xử lý nghiêm minh những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc xử lý đúng pháp luật, công khai, minh bạch sẽ góp phần bảo vệ ổn định chính trị - xã hội và bác bỏ các luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Thứ tư, cần đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao đa phương, chủ động tham gia và đối thoại thẳng thắn tại các cơ chế nhân quyền của Liên Hợp Quốc như Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Thông qua các diễn đàn quốc tế, Việt Nam cần chủ động cung cấp số liệu, tài liệu xác thực và đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền trong nước. Đây là cơ sở quan trọng để khẳng định thiện chí, trách nhiệm của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người, đồng thời làm thất bại các âm mưu lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

 

Kết luận:

Quyền con người ở Việt Nam là thành quả của quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn phát triển đất nước trong nhiều năm qua đã chứng minh rằng quyền con người ở Việt Nam không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật mà còn ngày càng được bảo đảm trên thực tế thông qua những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và mở rộng quyền làm chủ của nhân dân.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị vẫn không ngừng lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, chống phá Việt Nam với nhiều thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm. Việc nhận diện đúng bản chất và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự chủ động của các cơ quan truyền thông, giáo dục, lực lượng đấu tranh trên không gian mạng và mỗi công dân trong việc nâng cao nhận thức chính trị, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước.

Nguồn: Khoa Nhà nước  và Pháp luật - Học viện Chính trị khu vực II

(1Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2023), Các văn kiện quốc tế, khu vực về quyền con người – tuyển chọn, sách tham khảo, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, trang 42.

(4)https://www.sggp.org.vn/lan-dau-tien-quoc-hoi-co-dai-dien-cua-nguoi-dan-toc-o-du-post844045.html, truy cập ngày 02/5/2026.

(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập II, tr. 285.

 

 

 

 

 

 

 

 

Monday, May 11, 2026

Sự kiện Bác Hồ về nước: Dấu mốc quan trọng, ý nghĩa lịch sử và giá trị trường tồn

 


Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng - Chìa khóa phòng, chống lãng phí trong kỷ nguyên số

 


Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

 


Tác động của kinh tế số tới cơ cấu giai cấp, tầng lớp xã hội ở Việt Nam hiện nay

 


Tư duy “Nhân dân là trung tâm” trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam

 




Tham nhũng, lãng phí - Nguy cơ xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, đe dọa trực tiếp tới an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội

 


Một số vấn đề đặt ra về lãng phí từ góc nhìn thể chế hiện nay

 



Mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam

 


Lật tẩy chiêu trò xuyên tạc mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

 


“Dân là gốc” - Quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

 


Tuesday, May 5, 2026

NHẬN DIỆN CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH NHẰM CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia đặc trưng bởi sự đa dạng về dân tộc và tôn giáo. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, đây luôn là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng. Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm công cụ chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Do đó, việc nhận diện một cách hệ thống, chính xác các thủ đoạn này đóng vai trò trọng yếu, mang tính quyết định trong việc hoạch định các chủ trương, giải pháp phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn hiệu quả.

Từ khóa: dân tộc; tôn giáo; thủ đoạn chống phá; an ninh quốc gia.

1. Khái quát đặc điểm tình hình dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 dân tộc anh em, trong đó người Kinh chiếm đa số, cùng 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2019, quy mô 53 DTTS đạt hơn 14,1 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước[i]. Sự phân bố dân cư mang tính đan xen, không đồng đều: có 6 dân tộc quy mô trên 1 triệu người, trong khi 16 dân tộc có quy mô dưới 10.000 người (đặc biệt 5 dân tộc rất ít người, dưới 1.000 người). Đồng bào DTTS cư trú chủ yếu ở vùng miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa thuộc 51 tỉnh, thành phố và 382 xã biên giới trọng yếu. Tuy nhiên, cũng có một số dân tộc (Khmer, Chăm, Hoa) sinh sống tập trung tại các vùng đồng bằng và đô thị[ii].

Về phương diện tôn giáo, Việt Nam sở hữu đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú với khoảng hơn 90% dân số có thực hành tín ngưỡng, tôn giáo. Tính đến hết năm 2023, Nhà nước đã công nhận và cấp phép hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, quản lý 29.890 cơ sở thờ tự với lực lượng hùng hậu gồm 54.500 chức sắc và 145.000 chức việc. Tỷ lệ tín đồ các tôn giáo đạt hơn 27% dân số cả nước (khoảng 27,7 triệu người)[iii]. Nổi bật là Phật giáo (hơn 14,3 triệu tín đồ), Công giáo (hơn 7 triệu tín đồ), Tin lành (hơn 1,1 triệu tín đồ, tập trung mạnh ở Tây Nguyên, Tây Bắc), cùng các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo phát triển mạnh ở phía Nam, và Hồi giáo với tín đồ chủ yếu là đồng bào Chăm[iv].

2. Nhận diện các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước của các thế lực thù địch

Thực tiễn cho thấy, các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước đang diễn ra trên nhiều lĩnh vực, với phương thức ngày càng tinh vi, đa tầng và khó nhận diện hơn. Các thủ đoạn này được bộc lộ qua những diện mạo chủ yếu sau:

Thứ nhất, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thế lực thù địch khoét sâu vào những khác biệt về tâm lý, văn hóa tộc người và chênh lệch trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng miền, giữa dân tộc đa số và thiểu số. Thông qua việc khai thác các vấn đề nhạy cảm như lịch sử tộc người, tranh chấp đất đai, hay bảo tồn văn hóa, các đối tượng này kích động mâu thuẫn, lôi kéo đồng bào tụ tập đông người, gây rối trật tự công cộng nhằm phá vỡ từ bên trong khối đại đoàn kết dân tộc. Điển hình cho thủ đoạn này là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân tại Cư Kuin, Đắk Lắk (6/2023), cho thấy tính chất nguy hiểm của âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để gây bất ổn từ bên trong. Các tổ chức phản động FULRO lưu vong đã núp dưới vỏ bọc “đòi quyền lợi”, lợi dụng vấn đề dân tộc để lừa phỉnh, kích động một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bạo loạn vũ trang có tổ chức, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về người và an ninh, trật tự xã hội. Vụ việc không chỉ phơi bày rõ âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn chính trị – xã hội, mà còn là lời cảnh báo về yêu cầu phải chủ động nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn và vô hiệu hóa từ sớm, từ xa mọi âm mưu, thủ đoạn kích động, chia rẽ của các thế lực thù địch[v].

Thứ hai, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa đồng bào các dân tộc, tín đồ tôn giáo với hệ thống chính trị. Phương thức chủ đạo là xuyên tạc nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời bóp méo chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Chúng lợi dụng, thổi phồng những hạn chế cục bộ trong thực thi chính sách ở cơ sở để bôi nhọ cán bộ, làm suy giảm niềm tin của quần chúng, qua đó âm mưu vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng và chính quyền địa phương. Song song với đó là việc kích động đồng bào đòi các "yêu sách" đặc thù, kết hợp các hình thức tuyên truyền ngầm qua thăm thân, hoạt động từ thiện hoặc qua các phương tiện truyền thông bằng ngôn ngữ bản địa.

Thứ ba, kích động tư tưởng ly khai, đòi thành lập nhà nước và tôn giáo tự trị. Bằng việc đánh tráo khái niệm "quyền dân tộc tự quyết" trong luật pháp quốc tế với "quyền của người bản địa", các phần tử cực đoan và tổ chức lưu vong ráo riết kích động đồng bào đòi tự trị. Các tổ chức phản động như "Hội người Mông thế giới", "Quỹ người Thượng", "Liên đoàn Khmer Campuchia Krôm" liên tục tổ chức hội thảo, lợi dụng các diễn đàn quốc tế để vu cáo Việt Nam đàn áp nhân quyền, từ đó kêu gọi thành lập các quốc gia độc lập như "Vương quốc Mông", "Cộng hòa Đề ga"[vi].

Thứ tư, thiết lập lực lượng ngầm và hợp pháp hóa các tổ chức phản động tại địa bàn trọng điểm. Các thế lực thù địch đẩy mạnh mua chuộc, lôi kéo một bộ phận quần chúng vượt biên nhằm đào tạo lực lượng nòng cốt. Từ bên ngoài, chúng rót tài chính để nuôi dưỡng, chỉ đạo các hội nhóm phản động hoạt động ẩn danh dưới vỏ bọc bảo tồn văn hóa hoặc phát triển cộng đồng. Các đài phát thanh (VOKK, RFA) và mạng lưới internet được sử dụng tối đa để phát tán tài liệu xuyên tạc, âm mưu "quốc tế hóa" vấn đề nội bộ của Việt Nam[vii]. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, không gian mạng trở thành địa bàn trọng điểm để các thế lực thù địch thúc đẩy chiến lược ‘diễn biến hòa bình’ với phương thức mềm, phân tán và khó truy vết hơn. Chúng triệt để lợi dụng không gian mạng (các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube, TikTok...) như một công cụ đắc lực để tiến hành "diễn biến hòa bình". Thông qua việc lập các hội nhóm kín, phát tán tin giả, bịa đặt để thao túng tâm lý, chúng âm mưu móc nối, xây dựng và điều hành lực lượng ngầm ngay trong lòng quần chúng mà không cần phải tiếp xúc trực tiếp.

Thứ năm, lợi dụng hoạt động tôn giáo và tín ngưỡng lệch chuẩn tại vùng sâu, vùng xa. Thông qua việc truyền đạo trái phép, các đối tượng xấu truyền bá tư tưởng cực đoan, khuyến khích đồng bào từ bỏ phong tục truyền thống để theo tà đạo, đẩy quần chúng vào sự mê muội và phụ thuộc tâm linh. Tại các địa bàn chiến lược như Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, núp bóng các tổ chức phi chính phủ quốc tế hoặc hoạt động thiện nguyện, các thế lực thù địch tìm cách thâm nhập, nắm bắt địa bàn, kích động biểu tình, bạo loạn nhằm gây bất ổn an ninh khu vực biên giới[viii].

Thứ sáu, tiến hành thủ đoạn an ninh phi truyền thống gắn với thao túng kinh tế. Lợi dụng những khó khăn nội tại của đồng bào miền núi, các đối tượng thù địch núp bóng dự án đầu tư, hợp tác kinh doanh để phá hoại sinh kế, đẩy đồng bào vào tình cảnh khó khăn, nợ nần. Từ sự phụ thuộc về tài chính, chúng ép buộc quần chúng tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật, di cư trái phép. Đặc biệt, chúng nhắm vào các khu vực địa hình phức tạp, giao thoa về giao thông nhằm phá vỡ các khu vực phòng thủ trọng điểm và thế trận an ninh nhân dân[ix].

3. Giải pháp phòng, chống các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam thời gian tới

 Nhằm chủ động ứng phó và đập tan mọi âm mưu chống phá, hệ thống chính trị cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp chiến lược sau:

Một là, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục. Tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo đến toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Nội dung và phương pháp truyền thông cần linh hoạt, bám sát trình độ nhận thức, văn hóa và tâm lý đồng bào từng vùng miền. Trọng tâm là phổ biến pháp luật, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, và vạch trần bản chất các thủ đoạn lừa gạt, chia rẽ của thế lực thù địch để nhân dân tự nâng cao "sức đề kháng", cảnh giác trước các thủ đoạn lôi kéo.

Hai là, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Thường xuyên giáo dục nhận thức về sức mạnh của khối đại đoàn kết trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Triển khai thực chất, hiệu quả các chính sách dân tộc, tôn giáo dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng và tương trợ. Kiên quyết bài trừ mọi biểu hiện kỳ thị, tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi. Cấp ủy, chính quyền địa phương phải chủ động dự báo tình hình, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia từ cơ sở.

Ba là, tập trung nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào. Ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, triển khai lồng ghép và đồng bộ 3 Chương trình mục tiêu quốc gia cốt lõi: (1) Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; (2) Giảm nghèo bền vững; và (3) Xây dựng nông thôn mới. Yêu cầu cấp bách là giải quyết căn cơ bài toán sinh kế, cấp đất sản xuất, xử lý dứt điểm các tranh chấp đất đai, không để tồn đọng tạo thành "điểm nóng". Kiên quyết xử lý nghiêm minh các cán bộ, công chức có hành vi nhũng nhiễu, vi phạm chính sách của Đảng và Nhà nước.

Bốn là, phát huy vai trò tổng hợp của hệ thống chính trị và uy tín của lực lượng cốt cán cơ sở. Tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của hệ thống chính trị cơ sở tại các vùng trọng yếu. Đẩy mạnh chính sách quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức là người DTTS, chức sắc tôn giáo tiến bộ, bởi đây là lực lượng nòng cốt mang lợi thế đặc thù trong công tác thực tiễn. Đổi mới phương thức dân vận theo nguyên tắc "chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, vững chắc".

        Năm là, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc gắn với phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc". Tích cực tranh thủ sự ủng hộ của các chức sắc, người có uy tín để lan tỏa thông tin tích cực, phản bác các luận điệu xuyên tạc. Đồng thời, cần chú trọng mở rộng không gian bảo vệ an ninh Tổ quốc lên môi trường mạng; hướng dẫn và phát huy vai trò của các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, người có uy tín tham gia quản lý, nhận diện và trực tiếp đấu tranh, phản bác các thông tin xấu độc, vạch trần âm mưu "diễn biến hòa bình" trên internet ngay từ cơ sở. Lực lượng chức năng cần chủ động nắm chắc tình hình, phát hiện và vô hiệu hóa từ sớm, từ xa mọi mưu đồ kích động bạo loạn, ly khai. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa tính nghiêm minh của pháp luật với chính sách khoan hồng, nhân đạo, tạo cơ hội phục thiện cho những người nhẹ dạ, cả tin tái hòa nhập cộng đồng./.

                                                                                                     TS. Hoàng Mạnh Tưởng

                                            Khoa Lãnh đạo học và Hành chính công - Học viện Chính trị khu vực II


[i] Tổng cục Thống kê (2020), Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Hà Nội.

[ii] Học viện Dân tộc (2019), Tài liệu bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, tr.5

[iii] Ban Tôn giáo Chính phủ (2023), Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội.

[iv] Hà Ngọc Anh (2020), Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr.62-65.

[v] Bộ Công an (2023), Thông tin chính thức về vụ án khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân xảy ra tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023.

[vi] Lê Xuân Trình (2017), “Vạch trần âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số”, Báo Biên phòng điện tử, , ngày 28/03/2017

[vii] Báo Nhân Dân điện tử (2026), “VOA, RFA vẫn tiếp tục chống phá Việt Nam”

[viii] https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/nhan-dien-va-phong-ngua-cac-thu-doan-loi-dung-ton-giao-chong-pha-viet-nam-hien-nay-712975

[ix] Học viện Dân tộc, Tài liệu bồi dưỡng kiến thức đối với cán bộ công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, Hà Nội, 2019, tr.149

                                                                                                 


 


Tuesday, April 28, 2026

NHẤT NGUYÊN CHÍNH TRỊ VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Tóm tắt: Thế giới tồn tại nhiều thể chế chính trị khác nhau do tính đặc thù của mỗi dân tộc trong điều kiện cụ thể; không có một con đường duy nhất cho mọi quốc gia, mỗi nước tự lựa chọn con đường phù hợp nhất với mình. Ở Việt Nam hiện nay, sự kiên định về một Đảng cầm quyền và nhất nguyên chính trị là vấn đề có tính nguyên tắc, là con đường dẫn đến sự phát triển ổn định, bền vững. Bài viết sẽ phân tích lý do chủ yếu của vấn đề này, đồng thời giúp cán bộ, đảng viên chống lại những luận điệu sai trái, thù địch; kiên định về lập trường chính trị, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ.

Từ khóa: nhất nguyên chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam, chống lại các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng.

                                                          MỞ ĐẦU

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, năng lực cầm quyền, uy tín, trí tuệ ngày càng được khẳng định. Đảng đã lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc thành công. Việt Nam đã chiến thắng nhiều cường quốc trên thế giới, tạo ra nhiều mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Từ đó đến nay, thế và lực của Việt Nam không ngừng lớn mạnh, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả cực kỳ to lớn và vĩ đại trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống Nhân dân ngày càng cao, quan hệ quốc tế hết sức rộng rãi, vị thế quốc gia được nâng cao. Hệ thống chính trị không ngừng được đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động, đổi mới chính trị phù hợp với đổi mới kinh tế. Đặc biệt, Đảng không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của mình. Bên cạnh đó, Đảng không hề né tránh những sai lầm, khuyết điểm, kể cả về chủ trương, đường lối để khắc phục và vươn lên. Một đảng đã dám nhận sai lầm, khuyết điểm và sửa chữa là một đảng mạnh như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra.

Mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng vượt bậc như vậy, nhưng một số thế lực thù địch, bất mãn, không thân thiện với Việt Nam đã liên tục tấn công, chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích chính đáng của Nhân dân ta. Họ thổi phồng một số hiện tượng tiêu cực, suy thoái của một số cán bộ, đảng viên để quy chụp đó là bản chất của chế độ nhất nguyên, một đảng cầm quyền, họ đã đánh tráo giữa bản chất và hiện tượng của các sự kiện. Từ đó, họ cho rằng Việt Nam muốn phát triển được, chống tham nhũng, tiêu cực thành công, bảo đảm quyền dân chủ, quyền tự do, nhân quyền thì phải thực hiện chế độ nhiều đảng phái, kể cả đảng phái đối lập. Họ lừa bịp những người nhẹ dạ, cả tin về chế độ đa đảng, đa nguyên, cho rằng nó là xu hướng của thời đại, là cứu cánh của nhân loại, là mẫu hình lý tưởng mà loài người phải phấn đấu đạt tới. Trước thực trạng đó, một số người do trình độ nhận thức hạn chế, hoặc bất mãn, chống đối đã dao động và tin theo luận điệu đó.

NỘI DUNG

          Trong bối cảnh hiện nay, sự lãnh đạo, cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính tất yếu, bắt nguồn từ những lý do sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ bản chất giai cấp và mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng như Cương lĩnh, Điều lệ, Văn kiện Đại hội, Đảng luôn khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”[1]. Ngoài lợi ích đó, Đảng không còn lợi ích nào khác như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định. Bản chất của Đảng có sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân làm cho Đảng được Nhân dân tin tưởng và kính trọng, đảng viên tuyệt đối phục tùng. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đây cũng là lực lượng nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu của đất nước, nhưng không phải nắm giữ để phục vụ cho riêng mình mà luôn phục vụ cho tuyệt đại đa số quần chúng và lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Mục tiêu của Đảng là xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Đó cũng là mục tiêu, lý tưởng mà toàn Đảng, toàn dân ta đang phấn đấu đạt được. Đảng luôn chăm lo cho cuộc sống no ấm, đầy đủ của người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: chủ nghĩa xã hội mà không mang lại no ấm, hạnh phúc cho người dân thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Suy cho cùng, hình thái kinh tế xã hội này thay thế cho hình thái kinh tế xã khác chính là ở chỗ năng suất lao động cao hơn, của cải nhiều hơn, con người sống sung sướng và bình đẳng hơn. Tổng kết 40 năm đổi mới đất nước, Đảng rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học “Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2]. Bắt nguồn từ bản chất và mục tiêu đó, chỉ cần duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đại diện cho quyền lợi của Nhân dân mà không cần một đảng phái chính trị nào khác.

Thứ hai, chế độ một đảng cầm quyền và nhất nguyên chính trị ở Việt Nam là do sự giao phó của lịch sử dân tộc

Trên thế giới, ở nhiều nước có lúc thực hiện chế độ một đảng, có lúc thực hiện chế độ đa đảng, đa nguyên, điều đó là do hoàn cảnh cụ thể quy định. Do đó, không thể nói cái nào tốt hơn cái nào, mà nó cần phải có sự phù hợp, thích nghi trong bối cảnh cụ thể.

Ở Việt Nam đã từng tồn tại nhiều đảng phái chính trị khác nhau, kể cả là đảng đối lập, phản động như Việt Quốc, Việt Cách hay đảng ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam như đảng Dân chủ Việt Nam, đảng Xã hội Việt Nam và nhiều đảng phái chính trị thân Pháp, thân Mỹ khác. Nhưng khi các thế lực ngoại bang thua cuộc rút quân thì các đảng phái phản động cũng tan rã hoặc đi theo chúng.

Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử dân tộc, là sự lựa chọn đúng đắn của Nhân dân trải qua cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hiểm nguy và hy sinh chứ không phải ý muốn chủ quan hay sự áp đặt của một lực lượng chính trị nào. Trước khi Đảng ra đời, rất nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra với nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, thủ lĩnh, lãnh đạo những cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước đó có đầy đủ phẩm chất như dũng cảm, thông minh, uy tín, gan dạ, lực lượng đông đảo, thống nhất, nhưng cuối cùng đều thất bại thảm hại, bị dìm trong biển máu. Sự thất bại của các phong trào trên chủ yếu là do thiếu một hệ tư tưởng, một đường lối chính trị đúng đắn. Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, xác định con đường cách mạng giải phóng dân tộc là cách mạng vô sản. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, tạo ra bước ngoặt của lịch sử dân tộc như chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đại thắng mùa xuân năm 1975, non song, đất nước thu về một mối. Chúng ta từ thân phận của người nô lệ đã trở thành chủ nhân của đất nước sau hàng ngàn năm chìm trong đêm tối.

Thứ ba, thành quả to lớn của công cuộc đổi mới đất nước trong 40 năm qua

Sau khi đất nước thống nhất, Đảng tiếp tục lãnh đạo toàn hệ thống chính trị và Nhân dân tiến hành thành công quá trình đổi mới đất nước trong bối cảnh cực kỳ khó khăn, khủng hoảng. Thành quả của công cuộc đổi mới đất nước là những minh chứng hùng hồn và xác đáng nhất về vai trò lãnh đạo của Đảng. Đời sống mọi mặt của các tầng lớp Nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, quyền làm chủ của người dân, nhất là quyền dân chủ trực tiếp ngày càng được mở rộng. Việt Nam đã tham gia vào nhiều tổ chức quan trọng của thế giới và khu vực, vị thế của đất nước ngày càng được nâng cao, được thế giới nể trọng, kể cả lực lượng thuộc “phía bên kia”. Những thành quả đó chứng minh cho bản lĩnh, trí tuệ, ý chí của Đảng “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” [3]. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD [4], thuộc nhóm các nước thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021 [5].

Chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao, kết cấu hạ tầng có bước phát triển đột phá, đầu tư xây dựng nhiều công trình cực lớn góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước và mở ra không gian phát triển mới. An sinh và phúc lợi xã hội ngày càng được đảm bảo, công tác xoá đói, giảm nghèo bền vững được triển khai có hiệu quả với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đến tháng 9/2025 đã hoàn thành xoá nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Khoảng 3,5 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025, bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,2% năm 2025 [6]  .

Tổng kết 40 năm đổi mới đất nước, Đảng đã khẳng định những kết quả nổi bật của công tác đối ngoại, nâng cao vị thế đất nước trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, chiến lược toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có cả 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, cả 7 nước trong nhóm G7 và 17/20 nước trong nhóm G20. Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 nước trên thế giới; quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức nhân dân đã triển khai đối ngoại thiết thực với 1.200 [7]   tổ chức nhân dân và đối tác nước ngoài. Việt Nam đã và đang đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò và có uy tín ở nhiều diễn đàn đa phương quan trọng. Việt Nam là Uỷ viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 nhiệm kỳ (2008-2009 và 2020-2021), Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025… Đến nay, nước ta đã cử hơn 1000 lượt sĩ quan tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc.

Quyền làm chủ của Nhân dân ngày càng được mở rộng, Đảng luôn khẳng định dân là gốc, là thước đo cao nhất của mọi quyết sách, là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, gắn với hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt được kết quả to lớn. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục đi vào chiều sâu, nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến nhiều cán bộ các cấp được chỉ đạo điều tra, xét xử nghiêm minh.

Thứ tư, xuất phát từ những bài học kinh nghiệm của Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây

Sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu từng là niềm tự hào, mẫu hình của các nước theo hệ tư tưởng vô sản. Chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực, trở thành hệ thống trên toàn thế giới, thành trì của hòa bình và phong trào cách mạng thế giới, là lực lượng đối trọng với chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, qua hơn 70 năm tồn tại và phát triển chế độ đó đã bị sụp đổ. Sự sụp đổ đó đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu, phân tích. Trong đó, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sụp đổ là do âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và sự thoái hóa, biến chất, phản bội của các đảng viên cao cấp nhất trong Đảng. Họ đã xa rời các nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, xa rời các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành những “kẻ bán đứng Đảng” khi quyết định xóa bỏ điều 6 của Hiến pháp Liên Xô hiến định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ quyết định đó, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội dân sự, các đảng phái chính trị ra đời rất nhiều, “mọc như nấm sau mưa”, chế độ đa đảng ở Liên Xô đã hình thành. Các đảng phái chính trị dần dần đòi chia sẻ quyền lãnh đạo với Đảng Cộng sản, thậm chí đòi phế truất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Cuối cùng, Đảng Cộng sản Liên Xô do sự suy yếu và khủng hoảng nghiêm trọng đã mất vai trò lãnh đạo đất nước và hoàn toàn sụp đổ vào tháng 8 - 1991. Nối gót Liên Xô, hàng loạt các quốc gia Đông Âu cũng diễn ra tình trạng tương tự.

          Đây là tổn thất cực kỳ to lớn và nghiêm trọng cho phong trào cách mạng thế giới; là bài học đau xót cho các đảng viên và các Đảng Cộng sản trên toàn thế giới. Nhưng đây chỉ là “thoái trào” tạm thời của phong trào xã hội chủ nghĩa chứ không phải là dấu chấm hết cho chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới như các thế lực thù địch, chống Cộng vẫn rêu rao. Đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình không phù hợp, trong quá trình xây dựng và cải tổ lại tiếp tục phạm phải nhiều sai lầm tả khuynh dẫn đến sự khủng hoảng không thể cứu vãn được. Từ thực tiễn đó, chúng ta có thể thấy rằng, nếu Việt Nam thực hiện đa đảng, đa nguyên thì sẽ xảy ra một Liên Xô, Đông Âu thứ hai, tức là sự khủng hoảng và sụp đổ là khó tránh khỏi.

Thứ năm, nếu thực hiện đa đảng, đa nguyên sẽ tạo điều kiện hợp pháp cho các lực lượng chống đối, thù địch trong và ngoài nước chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước, lợi ích của dân tộc và Nhân dân

Do nhiều nguyên nhân khác nhau trong lịch sử, kể cả khách quan và chủ quan mà hiện nay, đất nước ta bị rất nhiều cá nhân, tổ chức bất mãn, cơ hội, chống đối, thù địch ở trong và ngoài nước thường xuyên tìm mọi cách chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, đi ngược lại lợi ích của dân tộc và Nhân dân ta. Mặt khác, chúng cấu kết với nhau, móc nối với những cá nhân, tổ chức nhằm phô trương thanh thế và tăng cường lực lượng. Chúng thường nhận được sự ủng hộ, dung túng của chủ nghĩa đế quốc và những nước không thân thiện với Việt Nam. Chúng thường xuyên tuyên truyền sai sự thật về đất nước, lợi dụng những kẽ hở, sai lầm, hạn chế của chúng ta trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị, văn hóa, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… nhằm công kích chúng ta từ nhiều phía. Chúng lén lút tiến hành các hoạt động phá loại, lật đổ, thành lập nhiều tổ chức, đảng phái chính trị phản động. Chúng đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp hiến định về vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội, đòi Đảng chỉ lãnh đạo về chính trị chứ không lãnh đạo toàn diện…

Nếu chúng ta chấp nhận thực hiện đa đảng, đa nguyên thì sẽ tạo điều kiện hợp pháp để các tổ chức, đảng phái chính trị phản động đẩy mạnh hoạt động phá hoại, lật đổ, chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước và Nhân dân. Lúc đó tình hình chính trị rất dễ bị khủng hoảng, hỗn loạn, thách thức vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, thậm chí dẫn đến sự sụp đổ, diệt vong.

KẾT LUẬN

Qua sự phân tích trên đây, tác giả đã làm rõ một số lý do chủ yếu về chế độ một đảng cầm quyền và nhất nguyên chính trị ở Việt Nam trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề mang tính quy luật, tất yếu khách quan. Mỗi người dân Việt Nam nói chung, nhất là cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn về vấn đề, không nên có sự ngộ nhận, lệch lạc về nhận thức và hành động; nhận diện chính xác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch để xác định mục tiêu, lý tưởng cho mình một cách đúng đắn nhất. Mặt khác, mỗi người góp phần nhỏ bé của mình làm lan tỏa vấn đề này sâu rộng trong đời sống xã hội, làm tốt công tác tuyên truyền, thuyết phục đối với những người có nhận thức chưa đúng; góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh chống lại những luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch.

                                                                                                   ThS. Lê Công Minh

                    Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị khu vực II


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]  Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính      trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.4

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I,  tr. 73-74.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr. 25.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 47.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 51.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 52.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập II, tr. 143-145.

[8] Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương (2020): Một số luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1.

[9] Hội đồng Lý luận Trung ương (2026): Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.