Wednesday, September 9, 2026
TỪ ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ THEO KPI ĐẾN VĂN HÓA TRÁCH NHIỆM TRONG BỘ MÁY CÔNG QUYỀN: NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ “THANH LỌC”, “TRÙ DẬP” CÁN BỘ
Tóm tắt: Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo bộ chỉ số đo lường hiệu quả công việc (KPI), gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị giai đoạn 2024 - 2026, là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả nền công vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, tăng cường văn hóa trách nhiệm trong bộ máy công quyền. Lợi dụng quá trình này, các thế lực thù địch xuyên tạc chủ trương đúng đắn thành công cụ “thanh lọc”, “trù dập” cán bộ. Trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn triển khai, bài viết nhận diện, phản bác các luận điệu sai trái và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá cán bộ, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Từ khóa: đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; KPI; quản
trị theo kết quả; văn hóa trách nhiệm.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác cán bộ luôn được Đảng ta xác định là “then chốt của then chốt”,
quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Giai đoạn 2024-2026 là cao
điểm sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số
18-NQ/TW [1], với các chủ trương lớn như sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh,
kết thúc hoạt động chính quyền cấp huyện, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại
đội ngũ cán bộ.
Song song với quá trình đó là yêu cầu đổi mới căn bản công tác đánh giá
cán bộ - chuyển từ phương thức đánh giá định tính sang đánh giá bằng bộ chỉ số
đo lường hiệu quả công việc (Key Performance Indicator - KPI) mang tính định
lượng, minh bạch, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả thực thi công vụ. Đây là
bước cụ thể hóa quan trọng tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW [2], được tiếp tục
thể chế hóa trong các văn bản: Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15 [3], Quy
định số 366-QĐ/TW [4], các Hướng dẫn số 43-HD/BTCTW và 02-HD/BTCTW đối với cán
bộ lãnh đạo, quản lý [5], cùng Nghị định số 335/2025/NĐ-CP đối với công chức và
Nghị định số 233/2026/NĐ-CP đối với viên chức [6]. Điểm chung xuyên suốt của
khung pháp lý mới là lấy kết quả, sản phẩm công việc cụ thể làm căn cứ đánh giá
chủ yếu - tạo cơ sở để hình thành một nền công vụ đề cao trách nhiệm của từng
cá nhân.
Tuy nhiên, lợi dụng quá trình sắp xếp, đánh giá lại đội ngũ cán bộ, các
thế lực thù địch đã lợi dụng không gian mạng, xuyên tạc việc sàng lọc cán bộ
theo tiêu chí, quy trình, thẩm quyền hợp pháp thành công cụ “thanh lọc”, “trù
dập” cán bộ, gây hoang mang nội bộ, hoài nghi trong dư luận xã hội. Việc nhận
diện, phản bác kịp thời các luận điệu này có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo vệ
tính đúng đắn của chủ trương, củng cố niềm tin của đội ngũ cán bộ, bảo vệ vững
chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực tổ chức, cán bộ.
2. NỘI DUNG
2.1. Đánh giá cán bộ theo KPI - công cụ hữu hiệu để nâng cao văn hóa trách
nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”,
“muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” [7]. Trong tác
phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), Người đặt ra nguyên tắc đánh giá cán bộ
toàn diện, khách quan, “biết rõ ràng cán bộ” [8], không thể qua loa, cảm tính,
cũng không thể vì cảm tình cá nhân mà bao che khuyết điểm hay vì định kiến mà
phủ nhận năng lực thực tế. Tư tưởng ấy đến nay vẫn nguyên giá trị chỉ đạo: đánh
giá cán bộ phải dựa trên hiệu quả công việc cụ thể, đo lường được, chứ không
dựa trên cảm nhận chủ quan hay mối quan hệ cá nhân.
Về mặt chủ trương, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của
Đảng đã nhấn mạnh đổi mới đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa
chiều, bằng sản phẩm, công khai kết quả [9]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu này, gắn với hoàn thiện
thể chế về công tác cán bộ trong giai đoạn phát triển mới [10] - cho thấy tính
nhất quán, xuyên suốt chủ trương của Đảng về công tác đánh giá cán bộ qua hai
kỳ Đại hội.
Xét dưới góc độ khoa học quản trị công hiện đại, đánh giá cán bộ theo KPI
là sự thể hiện cụ thể của phương thức “quản trị dựa trên kết quả” (result-based
management), không đối lập mà bổ sung cho nguyên tắc tập trung dân chủ: nếu tập
trung dân chủ bảo đảm tính thống nhất trong lãnh đạo, thì KPI bảo đảm tính cụ
thể, đo lường được trong tổ chức thực hiện. KPI sử dụng các con số và dữ liệu
cụ thể, giúp chủ thể quản lý đánh giá chính xác hiệu quả làm việc của từng cá nhân
hoặc đơn vị căn cứ vào sản phẩm đầu ra, giúp chuyển từ đánh giá cảm tính, bình
quân sang đánh giá dựa trên hiệu suất thực chất. Thông qua kết quả KPI, cơ quan
quản lý có thể phân loại cán bộ, công chức, viên chức theo mức độ đóng góp, làm
căn cứ khoa học cho việc tinh giản, sắp xếp, bố trí lại nhân sự, hạn chế tình
trạng tinh giản mang tính cơ học hoặc dựa trên thâm niên.
Xét về hiệu quả mang lại, đánh giá cán bộ theo KPI tạo ra ba giá trị cốt
lõi: thiết lập cơ chế trách nhiệm giải trình rõ ràng, gắn kết quả công việc với
trách nhiệm cá nhân; tạo động lực làm việc thực chất khi kết quả được ghi nhận
công bằng, minh bạch; và cung cấp dữ liệu khách quan phục vụ quy hoạch, đào
tạo, luân chuyển, bố trí cán bộ cũng như tạo cơ sở khách quan cho sàng lọc và giữ
lại người có năng lực thực chất cho tổ chức.
Hạn chế trong công tác đánh giá cán bộ trong nhiều năm qua đã được Đảng
ta thẳng thắn chỉ ra: “đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa gắn với kết quả,
sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi” [11], dẫn
tới tâm lý “dĩ hòa vi quý”, làm việc cầm chừng, né tránh trách nhiệm. Do vậy,
việc chuyển sang đánh giá theo kết quả công việc, đặc biệt là xây dựng, áp dụng
KPI không đơn thuần chỉ là cải tiến kỹ thuật, mà là nỗ lực lấp đầy khoảng trống
về trách nhiệm cá nhân trong nền công vụ - từng bước hình thành văn hóa trách
nhiệm công vụ.
Một số địa phương đã đi đầu áp dụng KPI gắn với vị trí việc làm như:
Thành phố Hồ Chí Minh chính thức áp dụng từ Quý III/2026, khống chế tỷ lệ xếp
loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” không quá 20%; Hà Nội thực hiện đánh giá
hằng tháng trên nền tảng dữ liệu thời gian thực, làm căn cứ trực tiếp xét thi
đua, trả thu nhập, quy hoạch cán bộ [12]. Mặc dù chưa có báo cáo chính thức về
hiệu quả do KPI đem lại, tuy nhiên, tại phiên họp đánh giá tình hình kinh tế -
xã hội tháng 8/2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân TPHCM đã đánh giá TPHCM có khả
năng đạt GRDP trên 10% năm 2026, trong đó quý III/2026 sẽ đạt GRDP là 11,07% và
quý IV là 12,35 (tăng hơn quý 1 và quý 2 lần lượt là 8,27% và 8,53%) [13]. Tại
Hà Nội, trong phiên họp thường kỳ tháng 9/2026 do Chủ tịch UBND TP Hà Nội chủ
trì, Thành phố Hà Nội xác định hơn 100 ngày cuối năm là giai đoạn tăng tốc để
đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP đạt từ 11% trở lên. Nguyên nhân dẫn đến việc đẩy
nhanh tiến độ các công trình và mục tiêu tăng trưởng là nhờ siết chặt quản lý
công việc gắn với đánh giá hiệu quả công việc qua hệ thống KPI và dữ liệu số
[14]. Những kết quả bước đầu này là minh chứng thực tiễn sinh động, củng cố
luận cứ khoa học cho chủ trương đổi mới đánh giá cán bộ nói chung, áp dụng công
cụ KPI nói riêng mà Đảng ta đang chỉ đạo triển khai.
2.2. Nhận diện các luận điệu xuyên tạc: từ phủ nhận công cụ
đến phủ nhận trách nhiệm
Nếu đích đến của đổi mới đánh giá cán bộ là xây dựng văn hóa trách nhiệm,
thì bản chất của các luận điệu xuyên tạc chính là phủ nhận trách nhiệm ấy dưới
vỏ bọc phản biện chính sách. Theo phản ánh của báo chí, truyền thông chính
thống, ba dạng luận điệu xuyên tạc phổ biến là:
Thủ đoạn quy chụp động cơ chính trị: xuất hiện trên một số
trang mạng, kênh truyền thông hải ngoại thiếu thiện chí, cho rằng việc sắp xếp
tổ chức bộ máy, đánh giá lại cán bộ thực chất là “thanh trừng nội bộ”, “đấu đá
phe phái” núp bóng cải cách hành chính. Trường hợp cán bộ bị đánh giá không
hoàn thành nhiệm vụ, bị tinh giản hay điều chuyển theo đúng tiêu chí, quy trình
đều bị quy chụp là “bị trù dập vì không cùng ê-kíp”, mà không có căn cứ nào.
Mục đích sâu xa là gieo rắc hoài nghi, chia rẽ nội bộ, làm suy yếu vai trò lãnh
đạo của Đảng đối với công tác cán bộ.
Thủ đoạn “lợi dụng hiện tượng cá biệt để khái quát hóa thành bản
chất”: trong quá trình triển khai một chủ trương lớn, diễn ra trên phạm
vi cả nước, khó tránh khỏi việc ở một vài nơi, việc đánh giá cán bộ chưa thật
khách quan, còn hình thức, cào bằng - đây là hạn chế có thật, cần được nhìn
nhận thẳng thắn để khắc phục. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã lợi dụng triệt
để những hiện tượng cá biệt này, thổi phồng qua các bài viết, video giật gân,
rồi quy kết, đánh đồng thành bản chất phổ biến của toàn bộ chủ trương - đánh
đồng hạn chế trong tổ chức thực hiện với bản chất của chính sách.
Thủ đoạn so sánh khập khiễng với mô hình phương Tây: Một số
luận điệu khác cho rằng chỉ có mô hình “công vụ độc lập”, “phi chính trị hóa bộ
máy hành chính” kiểu phương Tây mới bảo đảm việc đánh giá cán bộ khách quan,
công bằng; từ đó ngầm suy diễn sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ là
nguyên nhân của sự thiếu khách quan. Đây là kiểu đánh tráo khái niệm, cố tình
gắn ghép hai vấn đề không có quan hệ nhân quả: tính khách quan của công cụ đánh
giá với mô hình tổ chức quyền lực nhà nước. Trên thực tế, nhiều quốc gia có thể
chế khác nhau, kể cả phương Tây, đều áp dụng rộng rãi các công cụ đo lường hiệu
suất trong khu vực công như một xu hướng cải cách phổ quát, không phải công cụ
riêng của thể chế đa nguyên.
2.3. Luận giải, phản bác: trách nhiệm giải trình không đồng
nghĩa với thanh trừng
Phản bác luận điệu “thanh trừng phe phái”: Về bản chất,
đánh giá cán bộ theo kết quả công việc vận hành trên cơ sở các chỉ số được xây
dựng công khai, qua quy trình chặt chẽ: từ dự thảo tiêu chí, lấy ý kiến rộng
rãi cán bộ, công chức, đến khi cấp có thẩm quyền thẩm định, ban hành; trong
suốt quá trình áp dụng còn chịu sự giám sát của tổ chức đảng theo nguyên tắc
tập trung dân chủ. Nếu mục đích thực sự là loại bỏ người không cùng ê-kíp một
cách tùy tiện, công cụ thuận lợi nhất chính là duy trì cơ chế đánh giá định
tính, mập mờ - chứ không phải một cơ chế càng lượng hóa, càng dễ đối chiếu,
kiểm chứng. Đây chính là điểm mấu chốt để phân biệt việc sàng lọc cán bộ theo
tiêu chí, quy trình, thẩm quyền hợp pháp - một yêu cầu chính đáng của công tác
xây dựng Đảng và bộ máy nhà nước - với luận điệu quy chụp thành “thanh trừng”,
“trù dập”. Về cơ chế bảo vệ quyền lợi cán bộ: đối với đánh giá trong nội bộ tổ
chức, cán bộ có quyền kiến nghị, đề nghị xem xét lại kết quả; đối với quyết
định hành chính liên quan đến công chức, viên chức, đối tượng còn có quyền
khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại - đây là bằng chứng phản bác
trực tiếp luận điệu cho rằng đây là công cụ “thanh trừng” một chiều, không có
cơ chế xem xét lại.
Phản bác thủ đoạn đánh tráo giữa hiện tượng và bản chất:
Cần phân biệt rạch ròi giữa hạn chế trong khâu triển khai cụ thể tại một
vài nơi - cần nghiêm túc rút kinh nghiệm, chấn chỉnh kịp thời - với bản chất
khoa học, đúng đắn của chủ trương trên phạm vi toàn hệ thống. Lấy một hiện
tượng cá biệt để quy kết thành bản chất phổ biến là một dạng ngụy biện khái
quát hóa vội vã (hasty generalization), đánh tráo giữa cái riêng và cái chung.
Với quy mô triển khai đồng thời tại hàng chục nghìn cơ quan, đơn vị, việc phát
sinh một số ít trường hợp chưa thật khách quan là điều khó tránh khỏi trong bất
kỳ cuộc cải cách lớn nào. Vấn đề then chốt là hệ thống có đủ cơ chế tự phát
hiện, tự điều chỉnh hay không; thực tế cho thấy Đảng ta luôn chủ động sơ kết,
tổng kết định kỳ, tiếp nhận phản ánh, kịp thời điều chỉnh bất cập - đúng nguyên
tắc tự phê bình và phê bình. Đây cũng chính là biểu hiện của trách nhiệm giải
trình ở cấp độ hệ thống: không né tránh hạn chế, mà công khai thừa nhận và sửa
chữa.
Phản bác thủ đoạn so sánh với mô hình phương Tây: Thực tiễn
quản trị công thế giới cho thấy việc áp dụng công cụ đo lường hiệu suất là xu
hướng cải cách phổ biến ở nhiều thể chế khác nhau, không gắn riêng với một mô
hình quyền lực nào. Gán ghép “tính khách quan trong đánh giá cán bộ” với “mô
hình đa nguyên, đa đảng” là đánh tráo khái niệm, gộp chung hai phạm trù khác
cấp độ: công cụ kỹ thuật quản trị nhân sự và mô hình thể chế chính trị. Ở Việt
Nam, việc đánh giá cán bộ đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng không mâu
thuẫn với tính khách quan của công cụ đánh giá; ngược lại, đó là điều kiện
thuận lợi để triển khai đồng bộ, nhất quán trên toàn hệ thống. Ngay tại nhiều
quốc gia theo mô hình “công vụ độc lập” mà một số luận điệu viện dẫn, việc đánh
giá cán bộ vẫn không tránh khỏi ảnh hưởng bởi nhóm lợi ích, chu kỳ bầu cử - cho
thấy yếu tố quyết định tính khách quan là chất lượng, minh bạch của công cụ
đánh giá, chứ không phải mô hình thể chế chính trị.
2.4. Giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá cán bộ theo
KIP, xây dựng văn hóa trách nhiệm trong bộ máy công quyền
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện bộ tiêu chí KPI phù hợp đặc thù từng
loại hình cơ quan, vị trí việc làm, tránh áp dụng cứng nhắc, đồng loạt - nhất
là phân biệt công việc chuyên môn sâu, dài hạn với công việc hành chính có kết
quả đo lường tức thời - vì một bộ tiêu chí thiếu phù hợp sẽ khiến trách nhiệm
giải trình trở nên hình thức thay vì thực chất.
Thứ hai, tăng cường công khai, minh bạch quy trình xây dựng, áp
dụng tiêu chí đánh giá, bảo đảm cán bộ được biết, được góp ý, được thông báo
kết quả rõ ràng, có căn cứ; phát huy vai trò giám sát của chi bộ, cấp ủy, Ủy
ban Kiểm tra theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Minh bạch hóa vừa thu hẹp không
gian cho luận điệu xuyên tạc, vừa là điều kiện để văn hóa trách nhiệm được cán
bộ, công chức, viên chức, đảng viên tự nguyện chấp nhận, thay vì bị áp đặt.
Thứ ba, chủ động, kịp thời đẩy mạnh truyền thông nội bộ và trên
không gian mạng theo phương châm “đi trước, đón đầu”, cung cấp thông tin chính
thống về mục đích, quy trình đánh giá cán bộ theo KPI ngay từ khi triển khai,
thay vì thụ động chờ luận điệu xuyên tạc lan truyền rồi mới đính chính.
Thứ tư, xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng người, đúng việc những
trường hợp lợi dụng đánh giá cán bộ để trù dập, trả thù cá nhân, thiên vị nếu
có phát sinh, không né tránh, bao che - vừa bảo vệ cán bộ chân chính, vừa loại
bỏ chính căn cứ mà các thế lực thù địch thường khai thác để xuyên tạc.
Thứ năm, chú trọng bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, nâng cao khả năng
nhận diện thông tin sai trái, kỹ năng đấu tranh, phản bác cho đội ngũ cán bộ
làm công tác tổ chức, cán bộ - lực lượng trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc với
vấn đề nhạy cảm, dễ bị lợi dụng, xuyên tạc nhất; đồng thời lồng ghép nội dung
xây dựng văn hóa trách nhiệm vào chương trình bồi dưỡng, tập huấn định kỳ, xác
định đây là mục tiêu lâu dài, xuyên suốt toàn bộ quá trình đổi mới công tác cán
bộ - chứ không dừng lại ở việc áp dụng một công cụ đo lường cụ thể.
3. KẾT LUẬN
Đổi mới đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo kết quả công việc,
trong đó KPI là một công cụ đo lường, không phải là đích đến cuối cùng, mà là
phương tiện để xây dựng văn hóa trách nhiệm trong bộ máy công quyền - nơi mỗi
cán bộ tự giác gánh vác kết quả công việc được giao, đúng như tư tưởng “cán bộ
là cái gốc của mọi công việc” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn. Nhìn từ góc
độ đó, việc sàng lọc, thay thế cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ theo đúng tiêu
chí, quy trình, thẩm quyền là biểu hiện tất yếu của một nền công vụ có trách
nhiệm, khác về bản chất với luận điệu xuyên tạc quy chụp thành công cụ “thanh
lọc”, “trù dập” cán bộ - vốn không có cơ sở khoa học, thực tiễn.
Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những người làm công tác tổ chức, cán bộ,
cần nêu cao tinh thần trách nhiệm: vừa gương mẫu thực hiện chủ trương đổi mới
đánh giá, vừa chủ động đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, góp phần bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trong sạch, vững
mạnh, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.
Ban Tổ chức cán bộ
Học viện Chính trị khu vực II
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 Hội
nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp
tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu
lực, hiệu quả”.
[2] Nghị quyết số 26-NQ/TW
ngày 19-5-2018 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Về
tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm
chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.
[3] Luật Cán bộ, công chức
số 80/2025/QH15 do Quốc hội thông qua năm 2025.
[4] Quy định số 366-QĐ/TW
ngày 30/8/2025 của Bộ Chính trị quy định về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp
loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị.
[5] Hướng dẫn số 43-HD/BTCTW
ngày 31/10/2025 và Hướng dẫn số 02-HD/BTCTW ngày 22/5/2026 của Ban Tổ chức
Trung ương.
[6] Nghị định số
335/2025/NĐ-CP về đánh giá, xếp loại chất lượng công chức; Nghị định số
233/2026/NĐ-CP về đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức.
[7] Hồ Chí
Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tác phẩm “Sửa
đổi lối làm việc” (1947), tập 5, tr.280-281
[8] Hồ Chí
Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tác phẩm “Sửa
đổi lối làm việc” (1947), tập 5, tr.313
[9] Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1.
[10] Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 2026.
[11] Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XII), Nghị quyết số
26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7 về tập trung xây dựng đội ngũ
cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín,
ngang tầm nhiệm vụ, tr.2
[12] Tiến
Long, Ông Lê Quốc Phong: Nghiêm túc đánh giá KPI cán bộ, công chức TP.HCM
ngay quý 3-2026, Tuổi trẻ online ngày 14/8/2026; xem thêm: Nguyễn
Như Quyền, Hà Nội ban hành quy định mới về đánh giá cán bộ theo phương pháp
OKR/KPI, thanhuyhanoi.vn, ngày 26/3/2026
[13] Tổng hợp số liệu từ https://tphcm.chinhphu.vn/kinh-te-tphcm-quy-i-2026-tang-truong-cao-nhat-trong-5-nam-gan-day-101260406190835356.htm và https://thanhnien.vn/tphcm-lo-hen-tang-truong-2-con-so-do-bien-dong-gia-185260708101558478.htm
Friday, August 21, 2026
ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI – MỤC TIÊU VÀ CON ĐƯỜNG TẤT YẾU CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Tóm tắt: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội là lựa chọn tất yếu của cách mạng Việt Nam, được hình thành từ cơ sở lý
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và được kiểm nghiệm qua
thực tiễn lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, độc lập dân tộc gắn liền chủ
nghĩa xã hội đã trở thành yếu tố quyết định thắng lợi trong các giai đoạn cách
mạng, từ giành chính quyền, kháng chiến đến quá trình xây dựng đất nước, nhất
là qua 40 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của con đường mà Đảng và Nhân
dân ta đã lựa chọn. Trong bối cảnh hiện nay, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội gắn với đổi mới sáng tạo là yêu cầu tất yếu. Thực tiễn phát
triển của đất nước đã bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, khẳng định đây là con
đường duy nhất đúng đắn, phù hợp với quy luật lịch sử và khát vọng dân tộc.
Từ khóa: Độc lập dân tộc, Chủ nghĩa xã hội,
tất yếu lịch sử, phản bác quan điểm sai trái, thù địch
1. Mở đầu
Ngay
từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định sự lựa chọn mục tiêu, con
đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội với ý nghĩa là chiến lược xuyên
suốt của cách mạng Việt Nam. Sự lựa chọn này không phải ngẫu nhiên hay mang
tính chủ quan, mà là kết quả của quá trình nghiên cứu, tiếp thu giá trị của chủ
nghĩa Mác – Lênin cùng sự vận động, khảo nghiệm và sàng lọc nghiêm khắc của
lịch sử dân tộc. Nhân dân Việt Nam bằng thực tiễn đấu tranh bền bỉ, lâu dài, đã
đồng lòng dưới lá cờ của Đảng và biến mục tiêu, con đường ấy thành sức mạnh
hiện thực qua các thời kỳ cách mạng. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn sử
dụng mọi thủ đoạn cố tình xuyên tạc, phủ nhận, bôi nhọ, tách rời độc lập dân
tộc khỏi chủ nghĩa xã hội nhằm làm lung lay nền tảng tư tưởng của Đảng,
gây hoài nghi, hoang mang về con
đường phát triển của đất nước. Những luận điệu đó vừa sai lầm về lý luận, vừa
trái với thực tiễn lịch sử Việt Nam. Bởi lẽ, độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà là con đường tất yếu của cách
mạng Việt Nam, con đường duy nhất phù hợp với quy luật thời đại, điều kiện lịch
sử dân tộc và khát vọng của Nhân dân về một xã hội độc lập, tự do,
dân chủ, công bằng, văn minh, giàu mạnh và hạnh phúc. Trong bối cảnh hiện nay, khi môi
trường quốc tế biến động nhanh chóng, việc nhận thức đúng, làm
rõ tính tất yếu, cơ sở lý luận và thực tiễn của mục tiêu, con đường gắn độc lập
dân tộc với chủ nghĩa xã hội
ở
nước ta, đồng thời kiên quyết phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về mục
tiêu, con đường này là yêu cầu có ý nghĩa cấp thiết hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội
Trong
cách mạng Việt Nam, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có mối quan hệ biện
chứng sâu sắc. Đây không phải là sự ghép nối cơ học giữa hai mục tiêu, mà là
một chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi yếu tố vừa có vị trí, vai trò riêng, vừa
tạo tiền đề và điều kiện cho yếu tố kia. Điều này được hình thành trên cơ sở
vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của
một nước thuộc địa nửa phong kiến, đồng thời được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng sản Việt Nam từng bước bổ sung, phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt
Nam.
Thứ nhất, độc lập dân tộc là tiền đề và điều kiện chính trị
tiên quyết để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đối với Việt Nam, ý nghĩa của độc lập
dân tộc trước hết nằm ở việc xác lập chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết của
dân tộc. Một dân tộc không có độc lập không thể tự mình quyết định thể chế
chính trị, mô hình phát triển và những mục tiêu xã hội. Vì vậy, độc lập dân tộc
tạo ra tiền đề chính trị để Nhân dân trở thành chủ thể của quá trình lựa chọn
và xây dựng con đường phát triển đất nước.
Từ
quá trình tìm đường cứu nước, khảo sát các cuộc cách mạng trên thế giới, lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng giải phóng dân tộc phải được đặt trong một
phương hướng phát triển mới. Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản vì thế
không chỉ nhằm giải quyết nhiệm vụ giành độc lập, mà còn mở ra khả năng giải
quyết những vấn đề xã hội và con người đặt ra sau khi giành được độc lập. Trong
mối quan hệ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc giữ vị trí là tiền đề, điều
kiện chính trị tiên quyết. Không có độc lập, dân tộc không có chủ thể và không
có không gian chính trị cần thiết để tự quyết định con đường phát triển của
mình.
Thứ
hai, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu và phương hướng phát triển nhằm hiện thực hóa
đầy đủ giá trị của độc lập dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, độc lập dân
tộc không phải là mục tiêu duy nhất, càng không chỉ được hiểu là sự thay đổi về
địa vị pháp lý của quốc gia, giá trị của độc lập phải được thể hiện trong đời
sống của Nhân dân: “Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh
phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (1). Luận điểm đó cho thấy nội hàm
của độc lập dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh gắn chặt với tự do, hạnh phúc và
quyền làm chủ của Nhân dân. Do đó, sau khi giành được độc lập, cách mạng không
dừng lại ở việc bảo vệ chủ quyền quốc gia mà phải tiếp tục tạo dựng một xã hội
trong đó những giá trị của độc lập được hiện thực hóa trong đời sống: “vật chất
ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt” (2). Chủ nghĩa xã hội hướng tới giải
phóng con người, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện. Vì vậy, nếu độc
lập dân tộc trả lời câu hỏi dân tộc có quyền tự quyết định vận mệnh của mình
hay không, thì chủ nghĩa xã hội đặt ra phương hướng sử dụng quyền tự quyết đó
để xây dựng một xã hội như thế nào, vì mục tiêu gì và phục vụ lợi ích của ai.
Chính ở điểm này, chủ nghĩa xã hội trở thành mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ
phát triển nhằm làm cho độc lập dân tộc có nội dung thực chất, gắn với lợi ích
của đại đa số Nhân dân.
Thứ ba, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tác động, bảo
đảm và củng cố lẫn nhau. Đây là nội dung cốt lõi làm nên tính biện chứng của
mối quan hệ giữa hai yếu tố. Độc lập dân tộc là tiền đề để xây dựng chủ nghĩa
xã hội, nhưng khi quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt được những thành quả
về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, những
thành quả đó lại trở thành nguồn lực củng cố độc lập dân tộc. Một nền độc lập
muốn được bảo vệ vững chắc không thể chỉ dựa vào ý chí chính trị mà cần được
bảo đảm bằng thực lực quốc gia, sức mạnh kinh tế, khoa học, công nghệ, nền tảng
xã hội ổn định, tiềm lực quốc phòng, an ninh, sức mạnh văn hóa và khả năng tự
chủ chiến lược.
Ngược
lại, xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải giữ vững độc lập, tự chủ. Nếu mất
khả năng tự quyết định về chính trị, kinh tế hoặc những vấn đề chiến lược, dân
tộc sẽ khó có thể chủ động lựa chọn và tổ chức thực hiện con đường phát triển
đã xác định. Do đó, quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không phải
là quan hệ một chiều mà là một quá trình tác động qua lại sâu sắc. Độc lập dân
tộc tạo lập điều kiện cho xây dựng chủ nghĩa xã hội, những thành quả của xây
dựng chủ nghĩa xã hội lại giúp tăng cường tiềm lực bảo vệ độc lập dân tộc. Hai
quá trình đó thống nhất với nhau trong mục tiêu nâng cao sức mạnh đất nước và
bảo đảm cuộc sống ngày càng tốt hơn cho Nhân dân.
Thứ tư, sự gắn liền giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
tạo nên sự thống nhất giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài của cách mạng
Việt Nam. Trong từng giai đoạn lịch sử, vị trí của các mục tiêu, nhiệm vụ cụ
thể có thể thay đổi. Khi đất nước đang bị xâm lược, mục tiêu giải phóng dân tộc
và giành độc lập phải được đặt lên hàng đầu. Khi đất nước đã giành được độc
lập, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước trở thành trọng tâm. Tuy nhiên,
sự thay đổi về nhiệm vụ trọng tâm không đồng nghĩa với sự thay đổi mục tiêu
chiến lược. Điều này thể hiện rõ tính linh hoạt trong phương thức thực hiện mục
tiêu của cách mạng Việt Nam: kiên định mục tiêu chiến lược nhưng linh hoạt về
bước đi, phương thức và cách thức thực hiện. Chính khả năng xử lý mối quan hệ
giữa mục tiêu lâu dài với nhiệm vụ trước mắt đã giúp Đảng vừa tập trung giải
quyết những vấn đề cấp bách của từng thời kỳ, vừa giữ vững định hướng chiến
lược của cách mạng.
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến đường lối của Đảng, độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành định hướng chiến lược xuyên suốt.
Sự gắn liền giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được xác lập từ những văn
kiện đầu tiên của Đảng và được bổ sung, phát triển qua thực tiễn lãnh đạo cách
mạng. Việc kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là sự tiếp nối về mặt tư tưởng, lý luận mà
còn là yêu cầu khách quan nhằm bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững,
giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trước bối cảnh quốc tế hiện nay. Có thể
khái quát, độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội là một chỉnh thể thống
nhất, trong đó độc lập dân tộc là tiền đề và điều kiện chính trị tiên quyết,
chủ nghĩa xã hội là mục tiêu và phương hướng phát triển. Đồng thời, những thành
quả của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội góp phần củng cố, bảo vệ và nâng
cao chất lượng của nền độc lập dân tộc. Chính sự thống nhất biện chứng đó tạo
nên đặc trưng căn bản của con đường cách mạng Việt Nam.
2.2. Thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm và khẳng định
con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Lịch
sử cách mạng Việt Nam là một quá trình vận động đầy thử thách, trong đó dân tộc
ta đã phải trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm để xác định con đường phát triển
phù hợp. Thực tiễn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho thấy, các con đường cứu
nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản đều không thành công dù các phong
trào yêu nước thời kỳ này thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc. Bước ngoặt quyết
định của lịch sử dân tộc diễn ra khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tiếp cận với chủ
nghĩa Mác – Lênin và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Người khẳng định: giải
phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải
phóng con người, tức là phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự lựa chọn này là kết
quả của một quá trình nhận thức khoa học, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt
Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Sau
khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã
xác định phương hướng, nhiệm vụ chiến lược: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và
thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (3). Như vậy, ngay từ đầu, mục
tiêu độc lập dân tộc đã gắn liền hữu cơ với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, trở
thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Trong giai
đoạn đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945), việc đặt nhiệm vụ giải phóng
dân tộc lên hàng đầu, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là một
sáng tạo lớn về đường lối của Đảng. Chính sự kết hợp đúng đắn này đã tạo điều
kiện để Đảng tập hợp lực lượng cách mạng rộng lớn, phát huy cao độ sức mạnh của
chủ nghĩa yêu nước, đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong
thời kỳ 1945–1975, mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tiếp
tục được hiện thực hóa một cách sinh động trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Từ
năm 1954, trước yêu cầu và đặc điểm mới của lịch sử đất nước, Đảng đã vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai chiến
lược cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Đây là
một sáng tạo lớn về tư duy lý luận và nghệ thuật lãnh đạo cách mạng của Đảng,
phản ánh khả năng kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu chiến lược lâu dài với yêu cầu
cấp bách của từng giai đoạn lịch sử, giữa nhiệm vụ xây dựng và nhiệm vụ bảo vệ
Tổ quốc, giữa cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc trong
cùng một đất nước. Chủ nghĩa xã hội từ giai đoạn này đã trở thành nhiệm vụ trực
tiếp song hành cùng nhiệm vụ độc lập dân tộc. Và sự kết hợp đúng đắn ấy đã làm
nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mở đường cho cả
nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vô cùng khó khăn. Trước những biến
động của lịch sử, kiên định mục tiêu kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
Đảng đã tiến hành công cuộc đổi mới từ năm 1986, điều chỉnh phương thức và bước
đi để hiện thực hóa mục tiêu đó một cách phù hợp hơn. Sau 40 năm đổi mới, Việt
Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh
vực. Từ một nước kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế có
quy mô hơn 527 tỷ USD tính đến tháng 4/2026 (4). Theo Ngân hàng Thế giới, từ
ngày 1/7/2026, Việt Nam chính thức gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung
bình cao. Không chỉ đạt được những bước tiến vượt bậc về tăng trưởng kinh tế,
Việt Nam không ngừng nâng cao chất lượng phát triển, bảo đảm tiến bộ và công bằng
xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, giữ vững ổn định
chính trị - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại. Vị
thế, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng tầm, là đối tác tin cậy,
thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, là một trong số ít các nước có
quan hệ ngoại giao với tất cả thành viên Liên Hợp Quốc,...
Những thành tựu trên chứng minh cho vấn đề mang ý nghĩa lý luận: kiên định con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội không những không cản trở phát triển kinh tế, mà
trong điều kiện đổi mới phù hợp còn tạo cơ sở để phát huy các nguồn lực, giải
phóng sức sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng. Điểm khác biệt căn bản là tăng trưởng
kinh tế được đặt trong mục tiêu phát triển vì con người, gắn với tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và từng chính sách. Đây chính
là thực tiễn sinh động bác bỏ luận điểm cho rằng chủ nghĩa xã hội cản trở phát
triển kinh tế và là minh chứng đầy thuyết phục về tính đúng đắn, sức sống và hiệu
quả của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.
Con đường độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải là sự áp đặt chủ quan hay lựa chọn
thuần túy mang tính ý chí, mà là kết quả của cả một quá trình lịch sử lâu dài,
được kiểm nghiệm, sàng lọc và khẳng định trong thực tiễn đất nước. Độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà còn là
quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam. Lịch sử dân tộc đã lựa chọn và thực
tiễn cách mạng không ngừng chứng minh tính đúng đắn của mục tiêu, con đường ấy.
Do đó, mọi luận điệu cho rằng Việt Nam có thể phát triển theo con đường khác
tách rời chủ nghĩa xã hội, hoặc phủ nhận vai trò của con đường này, thực chất
là phủ nhận toàn bộ tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam. Những luận điệu này
không chỉ thiếu cơ sở khoa học mà còn cố tình bỏ qua những thành tựu thực tiễn
đã được kiểm chứng, chỉ là sự ngụy biện vô căn cứ.
Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những biến động nhanh chóng, khó lường của tình hình thế giới, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội không chỉ giữ nguyên giá trị, mà còn đặt ra những yêu cầu mới cao hơn. Độc lập dân tộc không chỉ được khẳng định ở chủ quyền lãnh thổ, chính trị mà ngày càng gắn với năng lực tự chủ chiến lược về kinh tế, công nghệ và không gian số. Một quốc gia khó có thể có nền độc lập thực chất nếu quá phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng bên ngoài, bị chi phối về công nghệ hoặc thiếu khả năng làm chủ các nền tảng và dữ liệu chiến lược. Vì vậy, giữ vững độc lập dân tộc đòi hỏi phải nâng cao nội lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển khoa học – công nghệ và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược. Đồng thời, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới phải hướng tới phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, phát triển văn hóa, con người và khoa học – công nghệ. Chính quá trình đó tạo dựng thực lực quốc gia, qua đó củng cố và làm sâu sắc hơn nền độc lập dân tộc. Mặt khác, độc lập, tự chủ là điều kiện để Việt Nam chủ động lựa chọn và thực hiện con đường phát triển xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Trong
kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, một giai đoạn phát triển mới với khát vọng
mạnh mẽ về sự thịnh vượng, hùng cường, mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội càng phải được nhận thức sâu sắc và xử lý hài hòa. Đại hội XIV khẳng định: “kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (5). Đây là nguyên tắc bất di bất dịch, đồng
thời phải tiếp tục đổi mới sáng tạo để hiện thực hóa mục tiêu đó trong điều
kiện mới.
3.
Kết luận
Trong
bối cảnh hiện nay, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu
lịch sử đã được lựa chọn, mà còn là động lực phát triển và là con đường bảo đảm
cho tương lai của dân tộc. Kiên định mục tiêu, đồng thời phát triển sáng tạo
con đường đã lựa chọn, chính là điều kiện quyết định để Việt Nam vững bước
trong kỷ nguyên vươn mình, hội nhập và phát triển bền vững. Đồng thời, sự kiên
định ấy phải luôn gắn liền với đổi mới sáng tạo, với việc không ngừng bổ sung,
phát triển lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thời đại. Mọi luận điệu
xuyên tạc, phủ nhận hoặc tìm cách tách rời độc lập dân tộc khỏi chủ nghĩa xã
hội, xét đến cùng, đều đi ngược lại thực tiễn lịch sử và không có cơ sở khoa
học. Lịch sử và thực tiễn hiện nay của đất nước đã chứng tỏ đây là con đường
duy nhất đúng đắn, là lựa chọn tất yếu để hiện thực hóa mục tiêu cao cả, xây
dựng một nước Việt Nam độc lập, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì
hạnh phúc của Nhân dân./.
Đặng Thị Minh Nguyệt
Học viện Chính trị Khu vực II
------------------------------
Tài liệu tham khảo
(1)
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 64.
(2)
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, sđd, tr. 438.
(3)
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, tập
2, 2000, tr.2.
(4)
Xem Vietnam Datasets World economic outlook (april 2026) 15 indicators, 1980 –
2031, www.imf.org
(5)
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb.
CTQG Sự Thật, Hà Nội, 2026, tr.73.
Friday, August 14, 2026
NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU DÁN NHÃN “CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” TRONG DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ CỦA DONALD TRUMP
Tóm
tắt: Trong
chuỗi sự kiện kỷ niệm 250 năm Quốc
khánh Mỹ. Donald Trump đã đưa ra những tuyên bố nảy lửa coi chủ nghĩa xã hội là "mối hiểm họa"
như một căn bệnh ung thư đe dọa sự tồn vong của nước Mỹ (Trump,
2026, July 4). Bài phát biểu đã
thu hút sự chú ý lớn từ dư luận quốc tế. Đây không phải lần đầu tiên vị chính
khách này có những
phát ngôn công kích Chủ nghĩa xã hội (CNXH). Những phát ngôn như vậy đã khiến
các thế lực thù, phản động, chống đối và phần tử “bất đồng chính kiến” ở Việt
Nam bám víu triệt để, ra sức phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta, phủ nhận
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tác giả
bài viết đi vào
nhận diện rõ bản chất, động cơ thực sự đằng sau của những luận điệu dán nhãn
này và hiểu đúng con đường đi lên CNXH của Việt Nam góp phần củng cố niềm tin vào con đường
mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Từ
khóa: Diễn ngôn
chính trị của Donald Trump; Nhận diện; Phản bác luận điệu dán nhãn “Chủ nghĩa xã hội”; Bảo vệ nền tảng tư tưởng.
1.
Diễn ngôn chính trị dán nhãn “Chủ nghĩa Xã hội” và ý đồ chính trị của
Donald Trump
1.1.
Diễn ngôn chính trị dán nhãn “Chủ nghĩa Xã hội”
Trong đời sống chính trị, đặc biệt là Mỹ,
khái niệm "chủ nghĩa xã hội" (socialism) hay
"chủ nghĩa cộng sản" (communism) thường
xuyên bị đánh đồng với sự can thiệp quá mức của nhà nước hoặc sự đe dọa đối với
quyền tự do cá nhân (Dispatch Staff, 2020).
Trong chuỗi sự kiện kỷ niệm 250 năm Quốc khánh Mỹ, Donald Trump đã
đưa ra những tuyên bố nảy lửa coi chủ
nghĩa xã hội là mối đe dọa đối với nền tự do của Mỹ (Trump, 2026, July 3). Ông
mô tả "mối hiểm họa cộng sản"
như một căn bệnh ung thư đe dọa sự tồn vong của nước Mỹ (Trump, 2026, July 4).
Bài phát biểu đã thu hút
sự chú ý lớn từ dư luận quốc tế. Trong các diễn ngôn chính
trị những phát ngôn công kích CNXH của
mình,
Trump chủ yếu nhãn dán "Chủ
nghĩa xã hội" để đánh vào các chính sách phúc lợi, y tế, an sinh xã hội tiến
bộ của phe đối lập cánh tả (Đảng Dân chủ) tại Mỹ, đánh đồng có chủ đích giữa "chủ
nghĩa xã hội" và "chủ nghĩa cộng sản" nhằm kích động tâm lý sợ
hãi từ thời Chiến tranh Lạnh (Red Scare). (Associated Press, 2023).
Dưới góc độ khoa học chính trị, đây
là sự quy giản vô lý. Các chính sách mang tính tiến bộ như bảo hiểm y tế toàn
dân, hỗ trợ giáo dục hay mở rộng an sinh xã hội tại phương Tây thực chất thuộc
mô hình chủ nghĩa tư bản có sự điều tiết hoặc dân chủ xã hội (Social Democracy). Tuy nhiên, trong
diễn ngôn truyền thông, những người ủng hộ các chính sách an sinh này thường bị
đối thủ quy chụp là "những kẻ theo
chủ nghĩa xã hội cực đoan". Sự đánh đồng này làm biến dạng bản chất lý
luận học thuật, biến một học thuyết khoa học về giải phóng con người thành một
khái niệm gây sợ hãi trong công chúng (Kelemen,
2020; Robertson,
2024).
Đằng sau những phát ngôn công kích,
dán nhãn “CNXH” của Donald Trump thực chất là các ý đồ chính trị được thiết kế
đặc biệt cho khán giả nội địa Mỹ nhằm phục vụ bài toán quyền lực trong nước.
1.2. Ý đồ của việc dán nhãn Chủ nghĩa Xã hội
- Đối phó với làn sóng cánh tả (Đảng Dân chủ) trong nước
Trong bối cảnh các chính trị gia thuộc cánh tả/ Đảng Dân chủ
như Thị trưởng New York: Zohran Mamdani - Ông là thành viên của Đảng
Dân chủ và đồng thời là thành viên của tổ chức Những người Dân chủ Xã hội Mỹ
(Democratic Socialists of America - DSA) đã liên tục giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử sơ bộ của
Đảng Dân chủ chuẩn bị cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ 2026 (Izaguirre,
A., & Peoples, S, 2026).
Việc Trump đẩy mạnh bài xích hệ tư tưởng này nhằm mục đích phân cực cử tri, gắn
mác đối thủ chính trị (Đảng Dân chủ) với những khái niệm cực đoan để thu hút lá
phiếu từ nhóm cử tri bảo thủ. Bằng cách tuyên bố "bạn chỉ có thể là người
cộng sản hoặc người yêu nước, không thể là cả hai" (Yglesias, M, 2026). Tuyên bố này là một
công cụ lập ngôn chiến lược: nó sử dụng
Hiến pháp làm biểu tượng của giá trị Mỹ cốt lõi và dùng chủ nghĩa dân tộc làm động lực tập hợp lực
lượng, từ đó định khung cuộc đối đầu chính trị thành cuộc chiến giữa những
người bảo vệ nền tảng Hiến pháp và những người bị xem là muốn thay đổi bản sắc
Mỹ. Trump muốn tạo ra một làn sóng chủ
nghĩa dân tộc Mỹ mạnh mẽ, biến cuộc đối đầu chính trị trong nước thành cuộc
chiến bảo vệ các giá trị cốt lõi của hiến pháp Mỹ.
- Sử dụng để cạnh tranh chính trị
giữa hai đảng Dân chủ và Cộng hòa
Một trong những chiêu bài mà Đảng Cộng hòa
sử dụng trong nhiều thập niên qua để công kích đối thủ là gán ghép cho Đảng Dân
chủ đi theo CNXH. Donald Trump được coi là người kế tục xuất sắc truyền thống
này. Dán nhãn "CNXH",
"cộng sản" lên các chính sách an sinh xã hội tiến bộ của phe đối lập
(Đảng Dân chủ, cánh tả) nhằm kích động nỗi sợ vô căn cứ (Red Scare) từ thời
Chiến tranh Lạnh trong nhóm cử tri bảo thủ.
Khi khởi động
chiến dịch tranh cử diễn ra vào năm 2020, Donald Trump đã nhắc lại một từ mà
ông đã sử dụng công khai ít nhất 118 lần kể từ khi trở thành Tổng thống: “Chủ nghĩa xã hội”. Ông cáo buộc rằng “một cuộc bỏ phiếu cho bất kỳ đảng viên Dân
chủ nào vào năm 2020 là một cuộc bỏ phiếu cho sự trỗi dậy của chủ nghĩa xã hội
cấp tiến và sự phá hủy Giấc mơ Mỹ” nhằm lôi kéo cử tri bảo thủ (Bump, P,
2019). Việc
gán nhãn phe Đảng Dân chủ là "cực tả" hay "xã hội chủ
nghĩa" giúp phe hữu (Đảng Cộng hòa) gom tất cả các chính sách cải cách,
phong trào công đoàn hay đề xuất an sinh xã hội vào một nhóm bị coi là
"mối đe dọa quốc gia", từ đó làm suy giảm uy tín của đối thủ chính
trị trong nước (Newsday, 2024).
-
Bảo vệ lợi ích của nhóm tư bản tập đoàn
Các chính sách của Đảng Dân chủ có xu hướng
đối lập với những lợi ích của các ông trùm tư bản như các chính sách tăng thuế,
gia tăng các khoản chi phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường... Nhiều ứng viên Đảng
Cộng hòa coi xu hướng này là đi theo “chủ nghĩa xã hội”. Luận điệu dán nhãn
CNXH của Donald Trump không chỉ xuất phát từ cá nhân ông mà nó còn đại diện cho
tiếng nói của Đảng Cộng hòa cũng như những thành viên bảo thủ - những ông trùm
tư bản trong chính trường Mỹ như Jamie Dimon, Chủ tịch và là Giám đốc điều hành
ngân hàng thương mại lớn nhất nước Mỹ hay John Mackey, nhà sáng lập, Giám đốc
điều hành Whole Foods Market, người ủng hộ mạnh mẽ cho một nền kinh tế thị trường
tự do tuyệt đối và chống lại sự can thiệp
của nhà nước để duy trì lợi thế về thuế và hạn chế các quy định bảo vệ người
lao động (Slisco, A, 2020). Việc phê phán CNXH là cách để họ bảo vệ nền
kinh tế thị trường tự do vốn mang lại lợi ích cho nhóm thiểu số thượng lưu. Bản
thân Trump cũng đưa ra các chính sách bảo thủ (như rút khỏi Hiệp định Paris,
bãi bỏ Obamacare…).
- Biện minh cho các chính sách đối
ngoại thù địch của Mỹ với một số nước
Để hợp pháp hóa các
hành động bao vây, cấm vận và can thiệp vào các nước như Cuba, Venezuela, chính
quyền Mỹ luôn sử dụng lý do ngăn chặn sự "bành trướng", "độc
tài" hay "xấu xa" của CNXH. Việc liên tục đổ lỗi cho CNXH gây ra
nghèo đói và bất ổn thực chất là cách Mỹ chứng minh "tính đúng đắn"
cho các chính sách thù địch của mình trước dư luận trong và ngoài nước. Năm
2017, trong bài phát biểu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc, Donald Trump cho
rằng: “Từ Liên Xô đến Cuba và Venezuela,
bất cứ nơi nào chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản thực sự được áp dụng, nó
đều mang lại nỗi thống khổ, sự tàn phá và thất bại” (Politico, 2017).
Trump liên tiếp có bài diễn ngôn dán nhãn,
công kích CNXH. Tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc Khóa 73 (2018), ông kêu gọi các
quốc gia cùng nhau chống lại CNXH: " Tất cả các quốc gia trên thế giới hãy cùng nhau chống
lại chủ nghĩa xã hội và sự đau khổ mà nó mang đến cho tất cả mọi người”
(Trump, 2018). Tương tự vậy, bài phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc Khóa
74 (2019), Trump cũng gán nhãn: "Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không hướng tới
công lý, không hướng tới bình đẳng, cũng không hướng tới việc nâng đỡ người
nghèo...” (Trump, 2019). Trump đã đánh đồng những sai lầm cá biệt hoặc cuộc khủng
hoảng cục bộ (do bao vây, cấm vận kinh tế gây ra) với bản chất khoa học, nhân
văn của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Như vậy, Diễn ngôn công kích, dán nhãn
“CNXH” của Trump không xuất phát từ việc đánh giá khoa học, khách quan về một học
thuyết hay chế độ chính trị, mà thuần túy là công cụ chính trị nhằm phân cực xã
hội, kích động tâm lý bài xích thời Chiến tranh Lạnh để lôi kéo cử tri bảo thủ.
Bản chất các phát ngôn chống CNXH của Donald Trump phần lớn nhằm đối phó với
các vấn đề nội tại của nước Mỹ chứ không hẳn nhắm đến tất cả các nước XHCN. Dưới
góc nhìn chính trị khách quan, động thái này có thể được lý giải qua hai khía cạnh: mục đích phục vụ chiến dịch
tranh cử và bản chất thực tế trong chính sách đối ngoại.
2.
Phản ứng và đường lối ứng xử chiến lược của Việt Nam
Đứng
trước các phát biểu mang tính "dán nhãn" hay tranh luận chính trị nội
bộ của Donald Trump, Việt Nam không hành động theo cảm tính mà thể hiện bản
lĩnh ngoại giao và chính trị vững vàng.
-
Phi chính trị hóa và không bị cuốn vào vòng xoáy tranh luận ý thức hệ
Việt
Nam hiểu rõ chính trị nội bộ nước Mỹ. Bài phát biểu của Trump gần đây trong
chuỗi sự kiện kỷ niệm 250 năm Quốc khánh Mỹ cũng thực chất là một chiêu bài được
thiết kế đặc biệt cho khán giả nội địa Mỹ, phục vụ cử tri bảo thủ cho cuộc bầu
cử giữa kỳ (cuối năm 2026). Do đó, phía Việt Nam không đưa ra bất kỳ phản hồi
chính thức nào mang tính chất suy diễn hay đẩy cao căng thẳng.
Trong
khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Mỹ, hai nước đã thống
nhất cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và thể chế chính trị của nhau. Sự ứng
xử chuẩn mực của Việt Nam khẳng định vị thế của một quốc gia độc lập, tự chủ,
đa phương hóa, đa dạng hóa và có trách nhiệm trong hợp tác quốc tế.
- Tập trung vào thực chất và lợi ích cốt lõi trong quan hệ
hai nước
Quan hệ Việt - Mỹ dưới thời Donald Trump
là minh chứng để bác bỏ các luận điệu kích động của các thế lực thù địch. Hai bên vận hành theo mô hình: Thực dụng và hiệu quả.
Trong Tuyên bố chung Việt Nam –
Hoa Kỳ năm 2017, nhân Chuyến thăm chính thức tới Việt Nam, Tổng thống Donald
Trump đã khẳng định nguyên tắc cốt lõi: “tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn
vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau” (The White House, 2017). Chính
quyền của ông vẫn sẵn sàng thúc đẩy hợp tác sâu rộng dựa trên tương quan lợi
ích chiến lược và sự tôn trọng lẫn nhau.
Việt Nam kiên định xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng; chủ động cân bằng
cán cân thương mại với Hoa Kỳ
trên nguyên tắc cùng có lợi, minh bạch và phù hợp với khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Việc
nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược
Toàn diện với Hoa Kỳ (tháng 9/2023) là bằng chứng lịch sử xóa bỏ hoàn
toàn luận điệu cho rằng chế độ XHCN bị cô lập.
Bản
thân Donald Trump trong các thông điệp ngoại giao chính thức năm 2026 vẫn luôn
khẳng định về vị thế đối tác
không đổi giữa hai quốc gia: "Việt Nam là đối tác quan trọng của Hoa Kỳ tại khu vực" (Hà. L, 2026). Phía Việt Nam cũng luôn duy trì
các kênh đối thoại cởi mở, thực chất và nồng ấm thông qua việc trao đổi về các
chuyến thăm cấp cao.
3. Chứng minh tính đúng đắn của Chủ nghĩa Xã
hội thông qua
thực tiễn tại Việt Nam
Trái ngược hoàn toàn với những lời
gán ghép thiếu cơ sở, thực tiễn công cuộc Đổi mới và xây dựng CNXH tại Việt Nam
40 năm qua đã chứng minh sức sống mạnh mẽ và tính đúng đắn của con đường mà
Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.
- Kiên định con đường đi lên Chủ
nghĩa Xã hội
CNXH mà Đảng và Nhân dân Việt Nam đang xây dựng là một mô hình phát triển
vì con người. Mô hình "Kinh tế thị trường định hướng XHCN" là sự sáng
tạo lý luận đột phá. Mô hình này cho phép phát huy tối đa tiềm năng của mọi
thành phần kinh tế (bao gồm cả kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài) để giải
phóng lực lượng sản xuất, đồng thời sử dụng vai trò điều tiết của Nhà nước XHCN
để giữ vững công bằng, không để "ai bị bỏ lại phía sau".
Việc
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN giúp Việt Nam giữ vững tăng
trưởng kinh tế, hội nhập quốc tế sâu rộng nhưng không đánh đổi công bằng xã hội
hay môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Những thành tựu về xóa đói giảm
nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân chính là minh chứng
sinh động phản bác
mọi luận điệu vô căn cứ.
-
Hiện thực hóa quyền con người
Xoá
đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội là minh
chứng rõ nhất cho bản chất nhân văn của chế độ XHCN tại Việt Nam. Tỷ
lệ nghèo đa chiều giảm xuống chỉ còn khoảng 1,9% – 2,9% (theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn
2022–2025). "Xóa đói giảm nghèo,
chăm sóc sức khỏe nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội là minh chứng sinh động,
thuyết phục nhất cho bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa tại
Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm: tăng trưởng kinh tế phải
đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi và từng chính
sách phát triển”
(Nguyễn Phú Trọng,
2022). Từ một quốc gia thiếu đói, bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh và chịu
bao vây cấm vận, Việt Nam đã vươn lên thành một nền kinh tế năng động với quy
mô trên 430 tỷ USD; tỷ lệ hộ nghèo giảm ngoạn mục từ trên 58% vào đầu thập niên
1990 xuống dưới 3% theo chuẩn nghèo đa chiều hiện nay (Tổng cục Thống kê, 2023;
World Bank, 2022).
Việt Nam là một trong những quốc gia hoàn
thành sớm nhất Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) và Mục tiêu Phát triển
Bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc về xóa đói giảm nghèo. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt
Nam liên tục tang và chính
thức bước vào nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao (UNDP, 2024).
Diện bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 93% dân số (Bộ Y tế, 2023).
-
Hội
nhập quốc tế rộng mở và vị thế quốc tế
ngày càng nâng cao
Việt Nam hiện là đối tác chiến lược,
đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới, là thành
viên tích cực, có trách nhiệm của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế. Điều
này được thế giới công nhận và tôn trọng thể chế chính trị cùng đường lối phát
triển của Việt Nam.
Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan
hệ ngoại giao với 194 quốc gia,
thiết lập khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện / Đối tác Chiến lược /
Đối tác Toàn diện với hơn 30 quốc gia, bao gồm tất cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc
(Mỹ, Trung Quốc, Nga, Anh, Pháp) và toàn bộ các nước thành viên G7 (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Việt
Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới (trên 160% GDP),
đã ký kết và thực thi 16 hiệp định
thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương thế hệ mới chất lượng
cao (như CPTPP, EVFTA, RCEP) (Bộ Công Thương, 2023).
Không những vậy, Việt Nam còn là quốc gia có đóng góp
tích cực vào an ninh và hòa bình toàn cầu: Trúng cử với số phiếu kỷ lục và đảm nhiệm xuất sắc vai trò Ủy
viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (nhiệm kỳ 2008–2009 và
2020–2021); Thành
viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (nhiệm kỳ 2014–2016 và 2023–2025). Mỗi năm
chúng ta cử hàng trăm
lượt sĩ quan, quân nhân và bệnh viện dã chiến tham gia hoạt động Gìn giữ hòa
bình Liên Hợp Quốc (UN Peacekeeping) tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi và Abyei (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).
Những
thành tựu và đóng góp của Việt Nam cho thấy: Mọi luận điệu phủ nhận CNXH của Donald Trump hay thế
lực bên ngoài, dù mang danh nghĩa gì, cũng chỉ là góc nhìn phiến diện, phục vụ
cho mưu đồ chính trị hoặc bảo vệ lợi ích của họ. Kiên định nền tảng tư tưởng,
giữ vững bản lĩnh chính trị và không ngừng đổi mới là chìa khóa để Việt Nam
tiếp tục vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Kết luận
Nhận
diện rõ động cơ chính trị đằng sau các thuật ngữ "dán nhãn" trong
diễn ngôn của Trump về bản chất là các thủ pháp truyền thông nhằm đối
phó với các vấn đề từ chính trong nội tại của nước Mỹ chứ không hẳn là nhằm đến
tất cả các nước XHCN (Nguyễn, 2023).
Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm
sai trái, thù nghịch không chỉ là việc đáp trả trực diện các luận điệu công
kích, mà quan trọng hơn là nâng
cao nhận thức lý luận, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhìn nhận bản
chất sự việc một cách khách quan, khoa học. Mỗi người dân Việt Nam yêu nước phải
hết sức tỉnh táo, luôn chủ động nhận diện và "miễn
dịch" trước các diễn ngôn chính trị ngoại sinh độc hại. Các tổ chức, đoàn thể xã hội và người dân cần nâng cao
trình độ lý luận và thực tiễn, kết
hợp chặt chẽ giữa "xây" (tuyên truyền thành tựu) và "chống"
(phản bác trực diện, thuyết phục) nhằm nhận rõ bản chất đằng
sau những luận điệu xuyên tạc về
CNXH
để tin tưởng vào con đường đi lên CNXH.
Việc
Việt Nam tiếp tục giữ vững nguyên tắc ngoại giao điềm tĩnh cùng sự kiên định về
mặt lý luận và thực tiễn chính là lời khẳng định đanh thép nhất cho tính đúng
đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn./.
TS. Thân Thị Ngọc Phúc
Giảng viên Khoa Chủ nghĩa xã hội Khoa học, Học viện Chính trị khu vực II
Tài
liệu tham khảo
1.
Associated Press. (2023, July 14). Red scare retread: Why Trump and Republicans keep calling
Democrats 'communists'. Cronkite News / Arizona PBS.
2.
Bộ Công Thương. (2023). Báo cáo tổng kết công
tác hội nhập kinh tế quốc tế và tình hình thực thi các hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới của Việt Nam. Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương. https://moit.gov.vn.
3.
Bộ Y tế. (2023). Báo cáo tổng kết công tác y
tế năm 2023 và nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2024–2025. Cổng thông tin điện
tử Bộ Y tế. https://moh.gov.vn
4.
Bump, P. (2019, June 20). Republicans
have been tying Democrats to socialism for years. Trump is going all-in on that tradition. The Washington Post. https://www.washingtonpost.com/politics/2019/06/20/republicans-have-been-tying-democrats-socialism-years-trump-is-going-all-tradition/
5.
Dispatch Staff. (2020, July 6). Democracy,
socialism, and the constitution. The Dispatch.
6. Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
(Tập 1, 2). NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
7.
Executive Office of the President of the United
States. (2017). National Security Strategy of the United States of America.
The White House. https://trumpwhitehouse.archives.gov/wp-content/uploads/2017/12/NSS-Final-12-18-2017-0905.pdf.
8.
Hà, L. (2026, February 21). Tổng thống Donald Trump: Việt Nam là đối tác quan trọng
của Hoa Kỳ tại khu vực. VnEconomy. https://vneconomy.vn/tong-thong-donald-trump-viet-nam-la-doi-tac-quan-trong-cua-hoa-ky-tai-khu-vuc.htm
9.
Izaguirre, A., & Peoples, S. (2026,
June 23). Mamdani slate sweeps Democratic primaries
in New York, ousts 2 incumbents from Congress. PBS News. https://www.pbs.org/newshour/politics/mamdani-slate-sweeps-democratic-primaries-in-new-york-ousts-2-incumbents-from-congress
10.
Kelemen, M. (2020, July 5). Trump's fright-wing
freakout about socialism. WHYY / NPR.
11.
Newsday Staff. (2024, August 18). Trump labels
opponents with 'communist' tag in campaign speeches. Newsday.
12.
Nguyễn Kim Tôn (2023). Đằng sau những phát ngôn chống chủ nghĩa xã hội của Donald
Trump. Tạp chí Lý luận chính trị, 541, 103–109. https://lyluanchinhtri.vn/dang-sau-nhung-phat-ngon-chong-chu-nghia-xa-hoi-cua-donald-trump-2241.html
13.
Nguyễn, Phú
Trọng (2022). Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
14.
Politico. (2017, September 19). Full
text: Trump’s 2017 U.N. speech transcript. Politico. https://www.politico.com/story/2017/09/19/trump-un-speech-2017-full-text-transcript-242879
15.
Tổng cục Thống kê. (2023). Niên giám Thống kê Việt
Nam 2022. NXB Thống kê. https://www.gso.gov.vn.
16.
Trump,
D. J. (2018, September 25). Remarks by President Trump to the 73rd session
of the United Nations General Assembly. The White House. https://trumpwhitehouse.archives.gov/briefings-statements/remarks-president-trump-73rd-session-united-nations-general-assembly/
17.
Trump,
D. J. (2019, September 24). Remarks by President Trump to the 74th session
of the United Nations General Assembly. The White House. https://trumpwhitehouse.archives.gov/briefings-statements/remarks-president-trump-74th-session-united-nations-general-assembly/
18.
Trump, D. J. (2026, July 3). Remarks at the America
250 kickoff celebration at Mount Rushmore. The American Presidency Project.
https://www.theepochtimes.com/epochtv/trump-speaks-at-americas-250th-birthday-event-at-mount-rushmore.
19.
Trump, D. J. (2026, July 4). Donald Trump's big
America 250 speech | July 4th celebrations & fireworks [Video].
YouTube.
20.
Slisco, A. (2020, November 18). Whole Foods CEO rails against socialism, says 'capitalism
is the greatest thing humanity's ever done'. Newsweek. https://www.newsweek.com/whole-foods-ceo-socialism-failures-capitalism-greatest-thing-1550907
21.
Sullivan, A., & Holland, S. (2026,
July 4). Trump gives campaign-style July 4 speech on National Mall for US
250th anniversary. KSL.com. https://www.ksl.com/article/51593689/fireworks-heat-and-politics-america-celebrates-its-250th-birthday
22.
United Nations Development Programme. (2024). Human Development
Report 2023/2024: Breaking the gridlock - Reimagining cooperation in a
polarized world. UNDP. https://hdr.undp.org
23.
World Bank. (2022). From the last mile to the next
frontier: Evaluating poverty and inequality in Vietnam. World Bank Group. https://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/publication/evaluating-poverty-and-inequality-in-vietnam.
Yglesias, M. (2026, July 5). Dear fellow conservatives: Stop conflating socialism with communism. NOTUS. https://www.notus.org/perspectives/dear-fellow-conservatives-stop-conflating-socialism-with-communism.