Tóm tắt: Thế giới tồn tại nhiều thể chế chính trị khác nhau do tính đặc thù của
mỗi dân tộc trong điều kiện cụ thể; không có một con đường duy nhất cho mọi quốc
gia, mỗi nước tự lựa chọn con đường phù hợp nhất với mình. Ở Việt Nam hiện nay,
sự kiên định về một Đảng cầm quyền và nhất nguyên chính trị là vấn đề có tính
nguyên tắc, là con đường dẫn đến sự phát triển ổn định, bền vững. Bài viết sẽ
phân tích lý do chủ yếu của vấn đề này, đồng thời giúp cán bộ, đảng viên chống
lại những luận điệu sai trái, thù địch; kiên định về lập trường chính trị, góp
phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ.
Từ
khóa: nhất nguyên chính trị, Đảng
Cộng sản Việt Nam, chống lại các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng.
MỞ ĐẦU
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, lớn
mạnh, năng lực cầm quyền, uy tín, trí tuệ ngày càng được khẳng định. Đảng đã
lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc thành công. Việt Nam đã chiến thắng nhiều
cường quốc trên thế giới, tạo ra nhiều mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Từ
đó đến nay, thế và lực của Việt Nam không ngừng lớn mạnh, chúng ta đã đạt được
nhiều kết quả cực kỳ to lớn và vĩ đại trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội,
đời sống Nhân dân ngày càng cao, quan hệ quốc tế hết sức rộng rãi, vị thế quốc
gia được nâng cao. Hệ thống chính trị không ngừng được đổi mới và nâng cao chất
lượng hoạt động, đổi mới chính trị phù hợp với đổi mới kinh tế. Đặc biệt, Đảng
không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của mình. Bên cạnh đó, Đảng
không hề né tránh những sai lầm, khuyết điểm, kể cả về chủ trương, đường lối để
khắc phục và vươn lên. Một đảng đã dám nhận sai lầm, khuyết điểm và sửa chữa là
một đảng mạnh như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra.
Mặc dù đạt được
nhiều kết quả quan trọng vượt bậc như vậy, nhưng một số thế lực thù địch, bất
mãn, không thân thiện với Việt Nam đã liên tục tấn công, chống phá Đảng, Nhà nước,
đi ngược lại lợi ích chính đáng của Nhân dân ta. Họ thổi phồng một số hiện tượng
tiêu cực, suy thoái của một số cán bộ, đảng viên để quy chụp đó là bản chất của
chế độ nhất nguyên, một đảng cầm quyền, họ đã đánh tráo giữa bản chất và hiện
tượng của các sự kiện. Từ đó, họ cho rằng Việt Nam muốn phát triển được, chống
tham nhũng, tiêu cực thành công, bảo đảm quyền dân chủ, quyền tự do, nhân quyền
thì phải thực hiện chế độ nhiều đảng phái, kể cả đảng phái đối lập. Họ lừa bịp
những người nhẹ dạ, cả tin về chế độ đa đảng, đa nguyên, cho rằng nó là xu hướng
của thời đại, là cứu cánh của nhân loại, là mẫu hình lý tưởng mà loài người phải
phấn đấu đạt tới. Trước thực trạng đó, một số người do trình độ nhận thức hạn
chế, hoặc bất mãn, chống đối đã dao động và tin theo luận điệu đó.
NỘI DUNG
Trong bối cảnh hiện nay, sự lãnh đạo, cầm quyền duy nhất
của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính tất yếu, bắt nguồn từ những lý do sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ bản chất giai cấp và mục tiêu
chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong
nhiều văn kiện quan trọng của Đảng như Cương lĩnh, Điều lệ, Văn kiện Đại hội, Đảng
luôn khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt
Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động
và của dân tộc”[1]. Ngoài lợi ích
đó, Đảng không còn lợi ích nào khác như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng
định. Bản chất của Đảng có sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính dân tộc và
tính nhân dân làm cho Đảng được Nhân dân tin tưởng và kính trọng, đảng viên tuyệt
đối phục tùng. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và các tầng lớp
nhân dân lao động khác, đây cũng là lực lượng nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu
của đất nước, nhưng không phải nắm giữ để phục vụ cho riêng mình mà luôn phục vụ
cho tuyệt đại đa số quần chúng và lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Mục
tiêu của Đảng là xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Đó cũng là mục tiêu, lý tưởng
mà toàn Đảng, toàn dân ta đang phấn đấu đạt được. Đảng luôn chăm lo cho cuộc sống
no ấm, đầy đủ của người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: chủ
nghĩa xã hội mà không mang lại no ấm, hạnh phúc cho người dân thì cũng chẳng có
ý nghĩa gì. Suy cho cùng, hình thái kinh tế xã hội này thay thế cho hình thái
kinh tế xã khác chính là ở chỗ năng suất lao động cao hơn, của cải nhiều hơn,
con người sống sung sướng và bình đẳng hơn.
Tổng kết 40 năm đổi mới đất nước, Đảng rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý
báu, trong đó có bài học “Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền và
sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi
của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2]. Bắt nguồn từ bản chất và mục tiêu
đó, chỉ cần duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đại diện cho quyền lợi của
Nhân dân mà không cần một đảng phái chính trị nào khác.
Thứ hai, chế độ một đảng cầm quyền và nhất nguyên
chính trị ở Việt Nam là do sự giao phó của lịch sử dân tộc
Trên thế giới, ở nhiều nước có lúc thực hiện chế độ một
đảng, có lúc thực hiện chế độ đa đảng, đa nguyên, điều đó là do hoàn cảnh cụ thể
quy định. Do đó, không thể nói cái nào tốt hơn cái nào, mà nó cần phải có sự
phù hợp, thích nghi trong bối cảnh cụ thể.
Ở Việt Nam đã từng tồn tại nhiều đảng phái chính trị
khác nhau, kể cả là đảng đối lập, phản động như Việt Quốc, Việt Cách hay đảng ủng
hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam như đảng Dân chủ Việt
Nam, đảng Xã hội Việt Nam và nhiều đảng phái chính trị thân Pháp, thân Mỹ khác.
Nhưng khi các thế lực ngoại bang thua cuộc rút quân thì các đảng phái phản động
cũng tan rã hoặc đi theo chúng.
Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự
lựa chọn tất yếu của lịch sử dân tộc, là sự lựa chọn đúng đắn của Nhân dân trải
qua cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hiểm nguy và hy sinh chứ không phải
ý muốn chủ quan hay sự áp đặt của một lực lượng chính trị nào. Trước khi Đảng
ra đời, rất nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra với nhiều khuynh
hướng chính trị khác nhau, thủ lĩnh, lãnh đạo những cuộc khởi nghĩa, phong trào
yêu nước đó có đầy đủ phẩm chất như dũng cảm, thông minh, uy tín, gan dạ, lực
lượng đông đảo, thống nhất, nhưng cuối cùng đều thất bại thảm hại, bị dìm trong
biển máu. Sự thất bại của các phong trào trên chủ yếu là do thiếu một hệ tư tưởng,
một đường lối chính trị đúng đắn. Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời,
lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, xác định con đường cách mạng
giải phóng dân tộc là cách mạng vô sản. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của
Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, tạo ra bước ngoặt
của lịch sử dân tộc như chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động
địa cầu”, đại thắng mùa xuân năm 1975, non song, đất nước thu về một mối. Chúng
ta từ thân phận của người nô lệ đã trở thành chủ nhân của đất nước sau hàng
ngàn năm chìm trong đêm tối.
Thứ ba, thành quả to lớn của công
cuộc đổi mới đất nước trong 40 năm qua
Sau khi đất nước thống nhất, Đảng tiếp tục lãnh đạo
toàn hệ thống chính trị và Nhân dân tiến hành thành công quá trình đổi mới đất
nước trong bối cảnh cực kỳ khó khăn, khủng hoảng. Thành quả của công cuộc đổi mới
đất nước là những minh chứng hùng hồn và xác đáng nhất về vai trò lãnh đạo của
Đảng. Đời sống mọi mặt của các tầng lớp Nhân dân không ngừng được cải thiện và
nâng cao, quyền làm chủ của người dân, nhất là quyền dân chủ trực tiếp ngày
càng được mở rộng. Việt Nam đã tham gia vào nhiều tổ chức quan trọng của thế giới
và khu vực, vị thế của đất nước ngày càng được nâng cao, được thế giới nể trọng,
kể cả lực lượng thuộc “phía bên kia”. Những thành quả đó chứng minh cho bản
lĩnh, trí tuệ, ý chí của Đảng “Với tất cả sự khiêm tốn,
chúng ta vẫn có thể nói rằng: đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực,
vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” [3]. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn
2021-2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của
khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần so với
năm 2020, xếp thứ 32 thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD [4],
thuộc nhóm các nước thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín
đánh giá cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14
bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc
năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021 [5].
Chất lượng nguồn nhân lực ngày càng
được nâng cao, kết cấu hạ tầng có bước phát triển đột phá, đầu tư xây dựng
nhiều công trình cực lớn góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước và mở ra không
gian phát triển mới. An sinh và phúc lợi xã hội ngày càng được đảm bảo, công
tác xoá đói, giảm nghèo bền vững được triển khai có hiệu quả với tinh thần
“không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đến tháng 9/2025 đã hoàn thành xoá nhà tạm,
nhà dột nát trên cả nước. Khoảng 3,5 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội
thường xuyên năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn
1,3% năm 2025, bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,2% năm 2025 [6] .
Tổng kết 40 năm đổi mới đất nước,
Đảng đã khẳng định những kết quả nổi bật của công tác đối ngoại, nâng cao vị
thế đất nước trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 195
quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, chiến lược toàn diện
với 38 quốc gia, trong đó có cả 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc, cả 7 nước trong nhóm G7 và 17/20 nước trong nhóm G20. Đảng ta có quan hệ
với 253 chính đảng ở 115 nước trên thế giới; quốc hội có quan hệ với quốc hội,
nghị viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức
nhân dân đã triển khai đối ngoại thiết thực với 1.200 [7] tổ
chức nhân dân và đối tác nước ngoài. Việt Nam đã và đang đảm nhiệm nhiều trọng
trách quốc tế, phát huy vai trò và có uy tín ở nhiều diễn đàn đa phương quan
trọng. Việt Nam là Uỷ viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2
nhiệm kỳ (2008-2009 và 2020-2021), Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá
77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025… Đến nay,
nước ta đã cử hơn 1000 lượt sĩ quan tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của
Liên hợp quốc.
Quyền làm chủ của Nhân dân ngày càng được mở rộng, Đảng
luôn khẳng định dân là gốc, là thước đo cao nhất của mọi quyết sách, là cội nguồn
sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ
thống chính trị tinh, gọn, mạnh, gắn với hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt
được kết quả to lớn. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục đi vào
chiều sâu, nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến nhiều cán bộ
các cấp được chỉ đạo điều tra, xét xử nghiêm minh.
Thứ tư, xuất phát từ những bài học kinh nghiệm của
Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây
Sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông
Âu từng là niềm tự hào, mẫu hình của các nước theo hệ tư tưởng vô sản. Chủ
nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực, trở thành hệ thống trên toàn thế giới,
thành trì của hòa bình và phong trào cách mạng thế giới, là lực lượng đối trọng
với chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, qua hơn 70 năm tồn tại và phát triển chế độ đó
đã bị sụp đổ. Sự sụp đổ đó đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên
cứu, phân tích. Trong đó, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sụp đổ là do âm mưu, thủ
đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và sự thoái hóa, biến chất,
phản bội của các đảng viên cao cấp nhất trong Đảng. Họ đã xa rời các nguyên tắc
lãnh đạo của Đảng, xa rời các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trở
thành những “kẻ bán đứng Đảng” khi quyết định xóa bỏ điều 6 của Hiến pháp Liên
Xô hiến định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ quyết định đó,
các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội dân sự, các đảng phái chính trị
ra đời rất nhiều, “mọc như nấm sau mưa”, chế độ đa đảng ở Liên Xô đã hình
thành. Các đảng phái chính trị dần dần đòi chia sẻ quyền lãnh đạo với Đảng Cộng
sản, thậm chí đòi phế truất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Cuối
cùng, Đảng Cộng sản Liên Xô do sự suy yếu và khủng hoảng nghiêm trọng đã mất
vai trò lãnh đạo đất nước và hoàn toàn sụp đổ vào tháng 8 - 1991. Nối gót Liên
Xô, hàng loạt các quốc gia Đông Âu cũng diễn ra tình trạng tương tự.
Đây là
tổn thất cực kỳ to lớn và nghiêm trọng cho phong trào cách mạng thế giới; là
bài học đau xót cho các đảng viên và các Đảng Cộng sản trên toàn thế giới.
Nhưng đây chỉ là “thoái trào” tạm thời của phong trào xã hội chủ nghĩa chứ
không phải là dấu chấm hết cho chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới như các thế
lực thù địch, chống Cộng vẫn rêu rao. Đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình không
phù hợp, trong quá trình xây dựng và cải tổ lại tiếp tục phạm phải nhiều sai lầm
tả khuynh dẫn đến sự khủng hoảng không thể cứu vãn được. Từ thực tiễn đó, chúng
ta có thể thấy rằng, nếu Việt Nam thực hiện đa đảng, đa nguyên thì sẽ xảy ra một
Liên Xô, Đông Âu thứ hai, tức là sự khủng hoảng và sụp đổ là khó tránh khỏi.
Thứ năm, nếu thực hiện đa đảng, đa nguyên sẽ tạo điều
kiện hợp pháp cho các lực lượng chống đối, thù địch trong và ngoài nước chống
phá sự nghiệp cách mạng của đất nước, lợi ích của dân tộc và Nhân dân
Do nhiều nguyên nhân khác nhau trong lịch sử, kể cả
khách quan và chủ quan mà hiện nay, đất nước ta bị rất nhiều cá nhân, tổ chức bất
mãn, cơ hội, chống đối, thù địch ở trong và ngoài nước thường xuyên tìm mọi
cách chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, đi ngược lại lợi ích
của dân tộc và Nhân dân ta. Mặt khác, chúng cấu kết với nhau, móc nối với những
cá nhân, tổ chức nhằm phô trương thanh thế và tăng cường lực lượng. Chúng thường
nhận được sự ủng hộ, dung túng của chủ nghĩa đế quốc và những nước không thân
thiện với Việt Nam. Chúng thường xuyên tuyên truyền sai sự thật về đất nước, lợi
dụng những kẽ hở, sai lầm, hạn chế của chúng ta trên mọi phương diện từ kinh tế,
chính trị, văn hóa, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… nhằm công kích chúng ta từ
nhiều phía. Chúng lén lút tiến hành các hoạt động phá loại, lật đổ, thành lập
nhiều tổ chức, đảng phái chính trị phản động. Chúng đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến
pháp hiến định về vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội, đòi Đảng chỉ lãnh đạo về
chính trị chứ không lãnh đạo toàn diện…
Nếu chúng ta chấp nhận thực hiện đa đảng, đa nguyên
thì sẽ tạo điều kiện hợp pháp để các tổ chức, đảng phái chính trị phản động đẩy
mạnh hoạt động phá hoại, lật đổ, chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước và
Nhân dân. Lúc đó tình hình chính trị rất dễ bị khủng hoảng, hỗn loạn, thách thức
vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, thậm chí dẫn đến sự sụp đổ, diệt vong.
KẾT
LUẬN
Qua sự phân tích trên đây, tác giả đã làm rõ một số lý do chủ yếu về chế độ một đảng cầm quyền và nhất nguyên chính trị ở Việt Nam trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề mang tính quy luật, tất yếu khách quan. Mỗi người dân Việt Nam nói chung, nhất là cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn về vấn đề, không nên có sự ngộ nhận, lệch lạc về nhận thức và hành động; nhận diện chính xác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch để xác định mục tiêu, lý tưởng cho mình một cách đúng đắn nhất. Mặt khác, mỗi người góp phần nhỏ bé của mình làm lan tỏa vấn đề này sâu rộng trong đời sống xã hội, làm tốt công tác tuyên truyền, thuyết phục đối với những người có nhận thức chưa đúng; góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh chống lại những luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch.
ThS. Lê Công Minh
Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị khu vực II
DANH
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2011, tr.4
[2]
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 73-74.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr.
25.
[4]
Đảng
Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà
Nội, 2026, tập I, tr. 47.
[5]
Đảng
Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 51.
[6]
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 52.
[7]
Đảng
Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập II, tr. 143-145.
[8]
Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương (2020): Một số luận cứ phản bác
các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính
trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1.
[9]
Hội đồng Lý luận Trung ương (2026): Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng trong giai đoạn mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.