Monday, May 11, 2026
Tuesday, May 5, 2026
NHẬN DIỆN CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH NHẰM CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Tóm tắt: Việt Nam là
quốc gia đặc trưng bởi sự đa dạng về dân tộc và tôn giáo. Xuyên suốt
chiều dài lịch sử, đây luôn là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, thường xuyên bị
các thế lực thù địch lợi dụng. Trong bối cảnh
hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn
giáo làm công cụ chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Do đó, việc nhận diện một cách hệ thống, chính xác các thủ
đoạn này đóng vai trò trọng yếu, mang tính quyết định trong việc hoạch định các
chủ trương, giải pháp phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn hiệu quả.
Từ khóa: dân tộc; tôn giáo; thủ đoạn chống phá;
an ninh quốc gia.
1. Khái quát đặc điểm tình hình dân
tộc, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam là
quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 dân tộc anh em, trong đó người Kinh chiếm đa
số, cùng 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Theo kết quả Tổng điều tra dân số
năm 2019, quy mô 53 DTTS đạt hơn 14,1 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số cả
nước[i].
Sự phân bố dân cư mang tính đan xen, không đồng đều:
có 6 dân tộc quy mô trên 1 triệu người, trong khi 16 dân tộc có quy mô dưới
10.000 người (đặc biệt 5 dân tộc rất ít người, dưới 1.000 người). Đồng bào DTTS cư trú chủ yếu ở vùng miền núi cao, biên giới,
vùng sâu, vùng xa thuộc 51 tỉnh, thành phố và 382 xã biên giới trọng yếu.
Tuy nhiên, cũng có một số dân tộc (Khmer, Chăm, Hoa)
sinh sống tập trung tại các vùng đồng bằng và đô thị[ii].
Về phương
diện tôn giáo, Việt Nam sở hữu đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú với
khoảng hơn 90% dân số có thực hành tín ngưỡng, tôn giáo. Tính đến
hết năm 2023, Nhà nước đã công nhận và cấp phép hoạt động cho 43 tổ chức thuộc
16 tôn giáo, quản lý 29.890 cơ sở thờ tự với lực lượng hùng hậu gồm 54.500 chức
sắc và 145.000 chức việc. Tỷ lệ tín đồ các tôn
giáo đạt hơn 27% dân số cả nước (khoảng 27,7 triệu người)[iii].
Nổi bật là Phật giáo (hơn 14,3 triệu tín đồ), Công
giáo (hơn 7 triệu tín đồ), Tin lành (hơn 1,1 triệu tín đồ, tập trung mạnh ở Tây
Nguyên, Tây Bắc), cùng các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo
phát triển mạnh ở phía Nam, và Hồi giáo với tín đồ chủ yếu là đồng bào Chăm[iv].
2. Nhận diện các thủ đoạn lợi dụng
vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước của
các thế lực thù địch
Thực tiễn cho
thấy, các hoạt
động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước đang diễn ra
trên nhiều lĩnh vực, với phương thức ngày càng tinh vi, đa tầng và khó nhận
diện hơn. Các thủ đoạn này được bộc lộ qua những diện mạo chủ yếu sau:
Thứ nhất,
phá hoại khối đại đoàn kết toàn
dân tộc. Các thế lực thù địch khoét sâu vào những khác biệt về tâm
lý, văn hóa tộc người và chênh lệch trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa
các vùng miền, giữa dân tộc đa số và thiểu số. Thông qua
việc khai thác các vấn đề nhạy cảm như lịch sử tộc người, tranh chấp đất đai,
hay bảo tồn văn hóa, các đối tượng này kích động mâu thuẫn, lôi kéo đồng bào tụ
tập đông người, gây rối trật tự công cộng nhằm phá vỡ từ bên trong khối đại
đoàn kết dân tộc. Điển hình cho thủ đoạn này là vụ khủng bố nhằm chống
chính quyền nhân dân tại Cư Kuin, Đắk Lắk (6/2023), cho thấy tính chất nguy
hiểm của âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để gây bất ổn từ bên trong. Các tổ chức
phản động FULRO lưu vong đã núp dưới vỏ bọc “đòi quyền lợi”, lợi dụng vấn đề
dân tộc để lừa phỉnh, kích động một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số tham gia
bạo loạn vũ trang có tổ chức, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về người và an
ninh, trật tự xã hội. Vụ việc không chỉ phơi bày rõ âm mưu lợi dụng vấn đề dân
tộc nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn chính trị – xã hội, mà
còn là lời cảnh báo về yêu cầu phải chủ động nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn và
vô hiệu hóa từ sớm, từ xa mọi âm mưu, thủ đoạn kích động, chia rẽ của các thế
lực thù địch[v].
Thứ hai, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa đồng bào các dân tộc, tín đồ tôn
giáo với hệ thống chính trị. Phương thức chủ đạo là xuyên tạc nền
tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời bóp méo
chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Chúng lợi
dụng, thổi phồng những hạn chế cục bộ trong thực thi chính sách ở cơ sở để bôi
nhọ cán bộ, làm suy giảm niềm tin của quần chúng, qua đó âm mưu vô hiệu hóa vai
trò lãnh đạo của tổ chức đảng và chính quyền địa phương. Song song với đó là việc kích động đồng bào đòi các
"yêu sách" đặc thù, kết hợp các hình thức tuyên truyền ngầm qua thăm
thân, hoạt động từ thiện hoặc qua các phương tiện truyền thông bằng ngôn ngữ
bản địa.
Thứ ba, kích động tư tưởng ly khai, đòi thành lập nhà nước và tôn giáo tự trị. Bằng việc
đánh tráo khái niệm "quyền dân tộc tự quyết" trong luật pháp quốc tế
với "quyền của người bản địa", các phần tử cực đoan và tổ chức lưu
vong ráo riết kích động đồng bào đòi tự trị. Các tổ
chức phản động như "Hội người Mông thế giới", "Quỹ người
Thượng", "Liên đoàn Khmer Campuchia Krôm" liên tục tổ chức hội
thảo, lợi dụng các diễn đàn quốc tế để vu cáo Việt Nam đàn áp nhân quyền, từ đó
kêu gọi thành lập các quốc gia độc lập như "Vương quốc Mông",
"Cộng hòa Đề ga"[vi].
Thứ tư, thiết lập lực lượng ngầm và
hợp pháp hóa các tổ chức phản động tại địa bàn trọng điểm. Các thế lực thù địch đẩy mạnh mua chuộc, lôi kéo một
bộ phận quần chúng vượt biên nhằm đào tạo lực lượng nòng cốt.
Từ bên ngoài, chúng rót tài chính để nuôi dưỡng, chỉ đạo
các hội nhóm phản động hoạt động ẩn danh dưới vỏ bọc bảo tồn văn hóa hoặc phát
triển cộng đồng. Các đài phát thanh (VOKK, RFA)
và mạng lưới internet được sử dụng tối đa để phát tán tài liệu xuyên tạc, âm
mưu "quốc tế hóa" vấn đề nội bộ của Việt Nam[vii]. Đặc biệt, trong bối
cảnh chuyển đổi số, không gian mạng trở thành địa bàn trọng điểm để các thế lực
thù địch thúc đẩy chiến lược ‘diễn biến hòa bình’ với phương thức mềm, phân tán
và khó truy vết hơn. Chúng triệt để lợi dụng không gian mạng (các nền
tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube, TikTok...) như một công cụ đắc lực để
tiến hành "diễn biến hòa bình". Thông qua việc lập các hội nhóm kín,
phát tán tin giả, bịa đặt để thao túng tâm lý, chúng âm mưu móc nối, xây dựng
và điều hành lực lượng ngầm ngay trong lòng quần chúng mà không cần phải tiếp
xúc trực tiếp.
Thứ năm, lợi dụng hoạt động tôn giáo và tín ngưỡng lệch chuẩn tại vùng sâu, vùng
xa. Thông qua việc truyền đạo trái phép, các đối tượng xấu
truyền bá tư tưởng cực đoan, khuyến khích đồng bào từ bỏ phong tục truyền thống
để theo tà đạo, đẩy quần chúng vào sự mê muội và phụ thuộc tâm linh. Tại các
địa bàn chiến lược như Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, núp bóng các tổ chức phi chính
phủ quốc tế hoặc hoạt động thiện nguyện, các thế lực thù địch tìm cách thâm
nhập, nắm bắt địa bàn, kích động biểu tình, bạo loạn nhằm gây bất ổn an ninh
khu vực biên giới[viii].
Thứ sáu, tiến hành thủ đoạn an ninh phi truyền thống gắn với thao túng kinh tế. Lợi dụng
những khó khăn nội tại của đồng bào miền núi, các đối tượng thù địch núp bóng
dự án đầu tư, hợp tác kinh doanh để phá hoại sinh kế, đẩy đồng bào vào tình
cảnh khó khăn, nợ nần. Từ sự phụ thuộc về tài chính, chúng ép buộc
quần chúng tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật, di cư trái phép. Đặc biệt, chúng nhắm vào các khu vực địa hình phức tạp, giao
thoa về giao thông nhằm phá vỡ các khu vực phòng thủ trọng điểm và thế trận an
ninh nhân dân[ix].
3. Giải pháp phòng, chống các thủ
đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm chống phá
Đảng, Nhà nước Việt Nam thời gian tới
Nhằm chủ động ứng phó và đập tan mọi âm mưu chống phá, hệ
thống chính trị cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp chiến lược sau:
Một
là, đổi mới, nâng cao hiệu quả công
tác tuyên truyền, giáo dục. Tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường
lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo đến toàn
thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Nội dung và phương pháp truyền
thông cần linh hoạt, bám sát trình độ nhận thức, văn hóa và tâm lý đồng bào
từng vùng miền. Trọng tâm là phổ biến pháp luật, khơi dậy lòng tự hào dân tộc,
và vạch trần bản chất các thủ đoạn lừa gạt, chia rẽ của thế lực thù địch để
nhân dân tự nâng cao "sức đề kháng", cảnh giác trước các thủ đoạn lôi
kéo.
Hai
là, củng cố vững chắc khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Thường xuyên giáo dục
nhận thức về sức mạnh của khối đại đoàn kết trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Triển khai thực chất, hiệu quả các chính sách dân tộc, tôn giáo dựa trên nguyên
tắc bình đẳng, tôn trọng và tương trợ. Kiên quyết bài trừ mọi biểu hiện kỳ thị,
tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi. Cấp ủy, chính quyền địa phương phải chủ
động dự báo tình hình, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc
gia từ cơ sở.
Ba
là, tập trung nguồn lực phát triển
kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào. Ưu tiên
đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, triển khai lồng ghép và đồng bộ 3
Chương trình mục tiêu quốc gia cốt lõi: (1) Phát triển kinh tế - xã hội vùng
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; (2) Giảm nghèo bền vững; và (3) Xây dựng
nông thôn mới. Yêu cầu cấp bách là giải quyết căn cơ bài toán sinh kế, cấp đất
sản xuất, xử lý dứt điểm các tranh chấp đất đai, không để tồn đọng tạo thành
"điểm nóng". Kiên quyết xử lý nghiêm minh các cán bộ, công chức có
hành vi nhũng nhiễu, vi phạm chính sách của Đảng và Nhà nước.
Bốn
là, phát huy vai trò tổng hợp của hệ
thống chính trị và uy tín của lực lượng cốt cán cơ sở. Tăng cường năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của hệ thống chính trị cơ sở tại các vùng trọng yếu. Đẩy
mạnh chính sách quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công
chức là người DTTS, chức sắc tôn giáo tiến bộ, bởi đây là lực lượng nòng cốt
mang lợi thế đặc thù trong công tác thực tiễn. Đổi mới phương thức dân vận theo
nguyên tắc "chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, vững chắc".
Năm là, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc gắn với phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc". Tích cực tranh thủ sự ủng hộ của các chức sắc, người có uy tín để lan tỏa thông tin tích cực, phản bác các luận điệu xuyên tạc. Đồng thời, cần chú trọng mở rộng không gian bảo vệ an ninh Tổ quốc lên môi trường mạng; hướng dẫn và phát huy vai trò của các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, người có uy tín tham gia quản lý, nhận diện và trực tiếp đấu tranh, phản bác các thông tin xấu độc, vạch trần âm mưu "diễn biến hòa bình" trên internet ngay từ cơ sở. Lực lượng chức năng cần chủ động nắm chắc tình hình, phát hiện và vô hiệu hóa từ sớm, từ xa mọi mưu đồ kích động bạo loạn, ly khai. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa tính nghiêm minh của pháp luật với chính sách khoan hồng, nhân đạo, tạo cơ hội phục thiện cho những người nhẹ dạ, cả tin tái hòa nhập cộng đồng./.
TS. Hoàng Mạnh Tưởng
[i] Tổng cục Thống kê (2020), Kết quả toàn bộ Tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2019, Hà Nội.
[ii] Học viện Dân tộc
(2019), Tài liệu bồi dưỡng kiến thức dân
tộc đối với công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, tr.5
[iii] Ban Tôn giáo Chính phủ (2023), Sách trắng Tôn giáo và
chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội.
[iv] Hà Ngọc Anh (2020), Quản lý nhà nước đối với các hoạt động
tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr.62-65.
[v] Bộ Công an (2023), Thông
tin chính thức về vụ án khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân xảy ra tại Đắk
Lắk ngày 11/6/2023.
[vi] Lê Xuân Trình (2017), “Vạch
trần âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số”, Báo
Biên phòng điện tử, ,
ngày 28/03/2017
[vii] Báo Nhân Dân điện tử (2026), “VOA, RFA vẫn tiếp tục chống
phá Việt Nam”
[viii]
https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/nhan-dien-va-phong-ngua-cac-thu-doan-loi-dung-ton-giao-chong-pha-viet-nam-hien-nay-712975
[ix] Học viện Dân tộc,
Tài liệu bồi dưỡng kiến thức đối với cán
bộ công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, Hà Nội, 2019,
tr.149
Tuesday, April 28, 2026
NHẤT NGUYÊN CHÍNH TRỊ VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Tóm tắt: Thế giới tồn tại nhiều thể chế chính trị khác nhau do tính đặc thù của
mỗi dân tộc trong điều kiện cụ thể; không có một con đường duy nhất cho mọi quốc
gia, mỗi nước tự lựa chọn con đường phù hợp nhất với mình. Ở Việt Nam hiện nay,
sự kiên định về một Đảng cầm quyền và nhất nguyên chính trị là vấn đề có tính
nguyên tắc, là con đường dẫn đến sự phát triển ổn định, bền vững. Bài viết sẽ
phân tích lý do chủ yếu của vấn đề này, đồng thời giúp cán bộ, đảng viên chống
lại những luận điệu sai trái, thù địch; kiên định về lập trường chính trị, góp
phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ.
Từ
khóa: nhất nguyên chính trị, Đảng
Cộng sản Việt Nam, chống lại các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng.
MỞ ĐẦU
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, lớn
mạnh, năng lực cầm quyền, uy tín, trí tuệ ngày càng được khẳng định. Đảng đã
lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc thành công. Việt Nam đã chiến thắng nhiều
cường quốc trên thế giới, tạo ra nhiều mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Từ
đó đến nay, thế và lực của Việt Nam không ngừng lớn mạnh, chúng ta đã đạt được
nhiều kết quả cực kỳ to lớn và vĩ đại trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội,
đời sống Nhân dân ngày càng cao, quan hệ quốc tế hết sức rộng rãi, vị thế quốc
gia được nâng cao. Hệ thống chính trị không ngừng được đổi mới và nâng cao chất
lượng hoạt động, đổi mới chính trị phù hợp với đổi mới kinh tế. Đặc biệt, Đảng
không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của mình. Bên cạnh đó, Đảng
không hề né tránh những sai lầm, khuyết điểm, kể cả về chủ trương, đường lối để
khắc phục và vươn lên. Một đảng đã dám nhận sai lầm, khuyết điểm và sửa chữa là
một đảng mạnh như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra.
Mặc dù đạt được
nhiều kết quả quan trọng vượt bậc như vậy, nhưng một số thế lực thù địch, bất
mãn, không thân thiện với Việt Nam đã liên tục tấn công, chống phá Đảng, Nhà nước,
đi ngược lại lợi ích chính đáng của Nhân dân ta. Họ thổi phồng một số hiện tượng
tiêu cực, suy thoái của một số cán bộ, đảng viên để quy chụp đó là bản chất của
chế độ nhất nguyên, một đảng cầm quyền, họ đã đánh tráo giữa bản chất và hiện
tượng của các sự kiện. Từ đó, họ cho rằng Việt Nam muốn phát triển được, chống
tham nhũng, tiêu cực thành công, bảo đảm quyền dân chủ, quyền tự do, nhân quyền
thì phải thực hiện chế độ nhiều đảng phái, kể cả đảng phái đối lập. Họ lừa bịp
những người nhẹ dạ, cả tin về chế độ đa đảng, đa nguyên, cho rằng nó là xu hướng
của thời đại, là cứu cánh của nhân loại, là mẫu hình lý tưởng mà loài người phải
phấn đấu đạt tới. Trước thực trạng đó, một số người do trình độ nhận thức hạn
chế, hoặc bất mãn, chống đối đã dao động và tin theo luận điệu đó.
NỘI DUNG
Trong bối cảnh hiện nay, sự lãnh đạo, cầm quyền duy nhất
của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính tất yếu, bắt nguồn từ những lý do sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ bản chất giai cấp và mục tiêu
chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong
nhiều văn kiện quan trọng của Đảng như Cương lĩnh, Điều lệ, Văn kiện Đại hội, Đảng
luôn khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt
Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động
và của dân tộc”[1]. Ngoài lợi ích
đó, Đảng không còn lợi ích nào khác như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng
định. Bản chất của Đảng có sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính dân tộc và
tính nhân dân làm cho Đảng được Nhân dân tin tưởng và kính trọng, đảng viên tuyệt
đối phục tùng. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và các tầng lớp
nhân dân lao động khác, đây cũng là lực lượng nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu
của đất nước, nhưng không phải nắm giữ để phục vụ cho riêng mình mà luôn phục vụ
cho tuyệt đại đa số quần chúng và lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Mục
tiêu của Đảng là xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Đó cũng là mục tiêu, lý tưởng
mà toàn Đảng, toàn dân ta đang phấn đấu đạt được. Đảng luôn chăm lo cho cuộc sống
no ấm, đầy đủ của người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: chủ
nghĩa xã hội mà không mang lại no ấm, hạnh phúc cho người dân thì cũng chẳng có
ý nghĩa gì. Suy cho cùng, hình thái kinh tế xã hội này thay thế cho hình thái
kinh tế xã khác chính là ở chỗ năng suất lao động cao hơn, của cải nhiều hơn,
con người sống sung sướng và bình đẳng hơn.
Tổng kết 40 năm đổi mới đất nước, Đảng rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý
báu, trong đó có bài học “Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền và
sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi
của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2]. Bắt nguồn từ bản chất và mục tiêu
đó, chỉ cần duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đại diện cho quyền lợi của
Nhân dân mà không cần một đảng phái chính trị nào khác.
Thứ hai, chế độ một đảng cầm quyền và nhất nguyên
chính trị ở Việt Nam là do sự giao phó của lịch sử dân tộc
Trên thế giới, ở nhiều nước có lúc thực hiện chế độ một
đảng, có lúc thực hiện chế độ đa đảng, đa nguyên, điều đó là do hoàn cảnh cụ thể
quy định. Do đó, không thể nói cái nào tốt hơn cái nào, mà nó cần phải có sự
phù hợp, thích nghi trong bối cảnh cụ thể.
Ở Việt Nam đã từng tồn tại nhiều đảng phái chính trị
khác nhau, kể cả là đảng đối lập, phản động như Việt Quốc, Việt Cách hay đảng ủng
hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam như đảng Dân chủ Việt
Nam, đảng Xã hội Việt Nam và nhiều đảng phái chính trị thân Pháp, thân Mỹ khác.
Nhưng khi các thế lực ngoại bang thua cuộc rút quân thì các đảng phái phản động
cũng tan rã hoặc đi theo chúng.
Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự
lựa chọn tất yếu của lịch sử dân tộc, là sự lựa chọn đúng đắn của Nhân dân trải
qua cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hiểm nguy và hy sinh chứ không phải
ý muốn chủ quan hay sự áp đặt của một lực lượng chính trị nào. Trước khi Đảng
ra đời, rất nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra với nhiều khuynh
hướng chính trị khác nhau, thủ lĩnh, lãnh đạo những cuộc khởi nghĩa, phong trào
yêu nước đó có đầy đủ phẩm chất như dũng cảm, thông minh, uy tín, gan dạ, lực
lượng đông đảo, thống nhất, nhưng cuối cùng đều thất bại thảm hại, bị dìm trong
biển máu. Sự thất bại của các phong trào trên chủ yếu là do thiếu một hệ tư tưởng,
một đường lối chính trị đúng đắn. Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời,
lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, xác định con đường cách mạng
giải phóng dân tộc là cách mạng vô sản. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của
Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, tạo ra bước ngoặt
của lịch sử dân tộc như chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động
địa cầu”, đại thắng mùa xuân năm 1975, non song, đất nước thu về một mối. Chúng
ta từ thân phận của người nô lệ đã trở thành chủ nhân của đất nước sau hàng
ngàn năm chìm trong đêm tối.
Thứ ba, thành quả to lớn của công
cuộc đổi mới đất nước trong 40 năm qua
Sau khi đất nước thống nhất, Đảng tiếp tục lãnh đạo
toàn hệ thống chính trị và Nhân dân tiến hành thành công quá trình đổi mới đất
nước trong bối cảnh cực kỳ khó khăn, khủng hoảng. Thành quả của công cuộc đổi mới
đất nước là những minh chứng hùng hồn và xác đáng nhất về vai trò lãnh đạo của
Đảng. Đời sống mọi mặt của các tầng lớp Nhân dân không ngừng được cải thiện và
nâng cao, quyền làm chủ của người dân, nhất là quyền dân chủ trực tiếp ngày
càng được mở rộng. Việt Nam đã tham gia vào nhiều tổ chức quan trọng của thế giới
và khu vực, vị thế của đất nước ngày càng được nâng cao, được thế giới nể trọng,
kể cả lực lượng thuộc “phía bên kia”. Những thành quả đó chứng minh cho bản
lĩnh, trí tuệ, ý chí của Đảng “Với tất cả sự khiêm tốn,
chúng ta vẫn có thể nói rằng: đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực,
vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” [3]. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn
2021-2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của
khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần so với
năm 2020, xếp thứ 32 thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD [4],
thuộc nhóm các nước thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín
đánh giá cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14
bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc
năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021 [5].
Chất lượng nguồn nhân lực ngày càng
được nâng cao, kết cấu hạ tầng có bước phát triển đột phá, đầu tư xây dựng
nhiều công trình cực lớn góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước và mở ra không
gian phát triển mới. An sinh và phúc lợi xã hội ngày càng được đảm bảo, công
tác xoá đói, giảm nghèo bền vững được triển khai có hiệu quả với tinh thần
“không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đến tháng 9/2025 đã hoàn thành xoá nhà tạm,
nhà dột nát trên cả nước. Khoảng 3,5 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội
thường xuyên năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn
1,3% năm 2025, bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,2% năm 2025 [6] .
Tổng kết 40 năm đổi mới đất nước,
Đảng đã khẳng định những kết quả nổi bật của công tác đối ngoại, nâng cao vị
thế đất nước trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 195
quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, chiến lược toàn diện
với 38 quốc gia, trong đó có cả 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc, cả 7 nước trong nhóm G7 và 17/20 nước trong nhóm G20. Đảng ta có quan hệ
với 253 chính đảng ở 115 nước trên thế giới; quốc hội có quan hệ với quốc hội,
nghị viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức
nhân dân đã triển khai đối ngoại thiết thực với 1.200 [7] tổ
chức nhân dân và đối tác nước ngoài. Việt Nam đã và đang đảm nhiệm nhiều trọng
trách quốc tế, phát huy vai trò và có uy tín ở nhiều diễn đàn đa phương quan
trọng. Việt Nam là Uỷ viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2
nhiệm kỳ (2008-2009 và 2020-2021), Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá
77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025… Đến nay,
nước ta đã cử hơn 1000 lượt sĩ quan tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của
Liên hợp quốc.
Quyền làm chủ của Nhân dân ngày càng được mở rộng, Đảng
luôn khẳng định dân là gốc, là thước đo cao nhất của mọi quyết sách, là cội nguồn
sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ
thống chính trị tinh, gọn, mạnh, gắn với hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt
được kết quả to lớn. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục đi vào
chiều sâu, nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến nhiều cán bộ
các cấp được chỉ đạo điều tra, xét xử nghiêm minh.
Thứ tư, xuất phát từ những bài học kinh nghiệm của
Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây
Sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông
Âu từng là niềm tự hào, mẫu hình của các nước theo hệ tư tưởng vô sản. Chủ
nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực, trở thành hệ thống trên toàn thế giới,
thành trì của hòa bình và phong trào cách mạng thế giới, là lực lượng đối trọng
với chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, qua hơn 70 năm tồn tại và phát triển chế độ đó
đã bị sụp đổ. Sự sụp đổ đó đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên
cứu, phân tích. Trong đó, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sụp đổ là do âm mưu, thủ
đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và sự thoái hóa, biến chất,
phản bội của các đảng viên cao cấp nhất trong Đảng. Họ đã xa rời các nguyên tắc
lãnh đạo của Đảng, xa rời các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trở
thành những “kẻ bán đứng Đảng” khi quyết định xóa bỏ điều 6 của Hiến pháp Liên
Xô hiến định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ quyết định đó,
các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội dân sự, các đảng phái chính trị
ra đời rất nhiều, “mọc như nấm sau mưa”, chế độ đa đảng ở Liên Xô đã hình
thành. Các đảng phái chính trị dần dần đòi chia sẻ quyền lãnh đạo với Đảng Cộng
sản, thậm chí đòi phế truất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Cuối
cùng, Đảng Cộng sản Liên Xô do sự suy yếu và khủng hoảng nghiêm trọng đã mất
vai trò lãnh đạo đất nước và hoàn toàn sụp đổ vào tháng 8 - 1991. Nối gót Liên
Xô, hàng loạt các quốc gia Đông Âu cũng diễn ra tình trạng tương tự.
Đây là
tổn thất cực kỳ to lớn và nghiêm trọng cho phong trào cách mạng thế giới; là
bài học đau xót cho các đảng viên và các Đảng Cộng sản trên toàn thế giới.
Nhưng đây chỉ là “thoái trào” tạm thời của phong trào xã hội chủ nghĩa chứ
không phải là dấu chấm hết cho chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới như các thế
lực thù địch, chống Cộng vẫn rêu rao. Đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình không
phù hợp, trong quá trình xây dựng và cải tổ lại tiếp tục phạm phải nhiều sai lầm
tả khuynh dẫn đến sự khủng hoảng không thể cứu vãn được. Từ thực tiễn đó, chúng
ta có thể thấy rằng, nếu Việt Nam thực hiện đa đảng, đa nguyên thì sẽ xảy ra một
Liên Xô, Đông Âu thứ hai, tức là sự khủng hoảng và sụp đổ là khó tránh khỏi.
Thứ năm, nếu thực hiện đa đảng, đa nguyên sẽ tạo điều
kiện hợp pháp cho các lực lượng chống đối, thù địch trong và ngoài nước chống
phá sự nghiệp cách mạng của đất nước, lợi ích của dân tộc và Nhân dân
Do nhiều nguyên nhân khác nhau trong lịch sử, kể cả
khách quan và chủ quan mà hiện nay, đất nước ta bị rất nhiều cá nhân, tổ chức bất
mãn, cơ hội, chống đối, thù địch ở trong và ngoài nước thường xuyên tìm mọi
cách chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, đi ngược lại lợi ích
của dân tộc và Nhân dân ta. Mặt khác, chúng cấu kết với nhau, móc nối với những
cá nhân, tổ chức nhằm phô trương thanh thế và tăng cường lực lượng. Chúng thường
nhận được sự ủng hộ, dung túng của chủ nghĩa đế quốc và những nước không thân
thiện với Việt Nam. Chúng thường xuyên tuyên truyền sai sự thật về đất nước, lợi
dụng những kẽ hở, sai lầm, hạn chế của chúng ta trên mọi phương diện từ kinh tế,
chính trị, văn hóa, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… nhằm công kích chúng ta từ
nhiều phía. Chúng lén lút tiến hành các hoạt động phá loại, lật đổ, thành lập
nhiều tổ chức, đảng phái chính trị phản động. Chúng đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến
pháp hiến định về vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội, đòi Đảng chỉ lãnh đạo về
chính trị chứ không lãnh đạo toàn diện…
Nếu chúng ta chấp nhận thực hiện đa đảng, đa nguyên
thì sẽ tạo điều kiện hợp pháp để các tổ chức, đảng phái chính trị phản động đẩy
mạnh hoạt động phá hoại, lật đổ, chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước và
Nhân dân. Lúc đó tình hình chính trị rất dễ bị khủng hoảng, hỗn loạn, thách thức
vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, thậm chí dẫn đến sự sụp đổ, diệt vong.
KẾT
LUẬN
Qua sự phân tích trên đây, tác giả đã làm rõ một số lý do chủ yếu về chế độ một đảng cầm quyền và nhất nguyên chính trị ở Việt Nam trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề mang tính quy luật, tất yếu khách quan. Mỗi người dân Việt Nam nói chung, nhất là cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn về vấn đề, không nên có sự ngộ nhận, lệch lạc về nhận thức và hành động; nhận diện chính xác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch để xác định mục tiêu, lý tưởng cho mình một cách đúng đắn nhất. Mặt khác, mỗi người góp phần nhỏ bé của mình làm lan tỏa vấn đề này sâu rộng trong đời sống xã hội, làm tốt công tác tuyên truyền, thuyết phục đối với những người có nhận thức chưa đúng; góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh chống lại những luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch.
ThS. Lê Công Minh
Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị khu vực II
DANH
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2011, tr.4
[2]
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 73-74.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr.
25.
[4]
Đảng
Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà
Nội, 2026, tập I, tr. 47.
[5]
Đảng
Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 51.
[6]
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 52.
[7]
Đảng
Cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập II, tr. 143-145.
[8]
Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương (2020): Một số luận cứ phản bác
các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính
trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1.
[9]
Hội đồng Lý luận Trung ương (2026): Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng trong giai đoạn mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Thursday, April 9, 2026
Sunday, March 15, 2026
CHUNG TAY XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VỮNG MẠNH THÔNG QUA BẦU CỬ
Bầu cử đại biểu Quốc hội
Việt Nam và Hội đồng nhân dân các cấp là sự kiện chính trị quan trọng của đất
nước, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước.
Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp lựa chọn những người tiêu biểu, có phẩm chất
đạo đức, năng lực và uy tín để đại diện cho ý chí, nguyện vọng của người dân
trong các cơ quan quyền lực nhà nước.
Trong Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nguyên tắc này
được khẳng định trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Nhân dân thực hiện quyền lực
của mình thông qua các cơ quan đại diện do mình bầu ra, trong đó có Quốc hội Việt
Nam và Hội đồng nhân dân các cấp. Các cơ quan này có vai trò quan trọng trong
việc ban hành pháp luật, quyết định các chính sách phát triển kinh tế – xã hội,
quốc phòng, an ninh và giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Chính vì vậy, mỗi
lá phiếu của cử tri đều mang ý nghĩa rất lớn. Khi tham gia bầu cử, cử tri không
chỉ thực hiện quyền lợi của mình mà còn thể hiện trách nhiệm đối với đất nước.
Việc lựa chọn đúng đại biểu sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các
cơ quan quyền lực nhà nước, từ đó thúc đẩy sự phát triển của địa phương và của
cả quốc gia. Để cuộc bầu cử đạt hiệu quả, mỗi cử tri cần tìm hiểu kỹ thông tin
về các ứng cử viên trước khi bỏ phiếu. Việc lựa chọn đại biểu cần dựa trên các
tiêu chí như phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và khả
năng đại diện cho lợi ích của nhân dân. Những đại biểu được bầu phải là những
người thực sự tiêu biểu, có khả năng lắng nghe ý kiến của cử tri và tích cực
đóng góp vào quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách và pháp luật. Bên cạnh
đó, sau khi các đại biểu được bầu, nhân dân cũng cần tiếp tục phát huy vai trò
giám sát thông qua các hoạt động tiếp xúc cử tri và phản ánh ý kiến của mình đối
với các vấn đề của đời sống xã hội. Sự tham gia tích cực của nhân dân sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Có thể khẳng định rằng bầu
cử là một trong những hình thức quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ
của mình. Khi mỗi công dân tích cực tham gia bầu cử và sáng suốt lựa chọn những
đại biểu xứng đáng, bộ máy nhà nước sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh và hoạt
động hiệu quả hơn. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để xây dựng một Nhà nước
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững
của đất nước.
PGS, TS. Nguyễn Hoàng Phương - Học Viện Chính trị Khu vực II