Monday, June 8, 2026
Monday, June 1, 2026
ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM THÙ ĐỊCH, XUYÊN TẠC SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Tóm tắt
Sự lựa chọn con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả của quá trình
khảo nghiệm thực tiễn lịch sử dân tộc và tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin trong điều kiện Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển
đổi số và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, các thế lực thù địch gia
tăng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng bằng nhiều phương thức tinh vi, tập
trung phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
sản Việt Nam đã lựa chọn. Bài viết làm rõ cơ sở khách quan và tính tất yếu của
sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhận diện
các luận điệu sai trái, thù địch hiện nay; đồng thời luận giải cơ sở lý luận và
thực tiễn nhằm đấu tranh, phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch đối
với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Từ khóa: Chủ nghĩa xã hội; Hồ Chí Minh; bảo vệ nền tảng tư tưởng;
đấu tranh phản bác quan điểm sai trái.
1. Cơ sở khách quan và tính tất yếu trong sự lựa chọn con đường đi lên của Chủ
tịch Hồ Chí Minh
Sự lựa chọn con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả của quá trình
thực tiễn cách mạng thế giới, thực tiễn lịch sử dân tộc và sự vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thứ nhất, xuất phát từ sự khủng hoảng đường lối cứu nước trong nước
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam chìm trong đêm tối của ách đô hộ thực
dân Pháp. Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp thời kỳ này đã chứng
minh sự bế tắc của các hệ tư tưởng cũ như khuynh hướng phong kiến (Phong trào Cần
Vương) đã lỗi thời và không còn khả năng tập hợp sức mạnh toàn dân tộc. Khuynh
hướng dân chủ tư sản (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh), đều không thể giải quyết
triệt để mâu thuẫn dân tộc và yêu cầu giải phóng đất nước.
Thứ hai, xuất phát từ xu thế khách
quan của thời đại, Hồ Chí Minh trong quá trình đi
tìm đường cứu dân, cứu nước, qua
thực tiễn lao động và quan sát tại Pháp, Anh, Mỹ, Người nhận ra bản chất của
các cuộc cách mạng tư sản (Cách mạng Mỹ 1776, Cách mạng Pháp 1789) là những cuộc
cách mạng "chưa đến nơi". "Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ,
nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ,
kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa."[1].
Điều đó đặt ra yêu cầu lịch sử phải tìm kiếm một con đường cứu nước mới. Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng vô sản là
con đường duy nhất đúng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc
xâm lược, bọn địa chủ phong kiến phản động để giành độc lập, tự do. Nhờ đó những
mâu thuẫn cơ bản ở các nước thuộc địa nói chung, Việt Nam nói riêng mới thực sự
được giải quyết triệt để. Bởi vì, sự
phát triển của chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn độc quyền (chủ nghĩa đế
quốc), biến hệ thống thuộc địa thành một mắt xích không thể tách rời. Muốn đánh
bại chủ nghĩa đế quốc, cuộc cách mạng thuộc địa phải là một bộ phận của cách mạng
vô sản thế giới.
Thứ ba, sự gặp gỡ mang tính tất yếu của Hồ Chí Minh với chủ
nghĩa Mác - Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga. Tháng 7/1920, Hồ Chí Minh đọc bản
Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa của
V.I.Lênin. Đây chính là bước ngoặt quyết định lý giải tính tất yếu trong sự lựa
chọn của Người. Luận cương của Lênin đã chỉ rõ con đường giải phóng cho các dân
tộc bị áp bức gắn liền với cách mạng vô sản. Trong bài viết Con đường dẫn tôi đến
chủ nghĩa Lênin, Người xúc động chia sẻ: "Luận cương của Lênin làm cho tôi
rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát
khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần
chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng
ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!'"[2]. Hồ Chí Minh đã tìm thấy được
con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, đó là con đường cách mạng vô sản, để rồi Người từng
bước hiểu ra và đi đến kết luận: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động
trên thế giới khỏi ách nô lệ”[3].
Thứ tư, sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh
xuất phát từ đặc điểm lịch sử - xã hội của Việt Nam. Bước vào thời kỳ hiện đại,
dân tộc Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, nền kinh tế lạc hậu, lực
lượng sản xuất thấp, Người chỉ đã chỉ ra rằng, chỉ có giai cấp công nhân thông
qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản mới đủ khả năng lãnh đạo cách mạng giải
phóng dân tộc gắn với mục tiêu xây dựng xã hội mới. Đó là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng,
của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người viết: “Đảng mà
không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.
Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc
chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[4]. Đó là sự lựa chọn phù
hợp với quy luật phát triển của thời đại, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã
hội của xã hội Việt Nam đương thời. Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 95 năm qua
đã chứng minh tính đúng đắn của sự lựa chọn này. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng thông qua, Đảng ta khẳng định bài học số một là: “Nắm vững ngọn
cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ
chặt chẽ với nhau”[5].
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thống nhất quan điểm chỉ đạo:
“Kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác- LêNin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới. Kiên
định các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của đảng. Để thúc đẩy bền vững phát triển
đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của nhân dân, bảo vệ vững chắc tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[6]. Nhờ sự
kiên định với mục tiêu, lý tưởng đó, mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam
giành thắng lợi trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như đạt
được nhiều thành tựu trong sự nghiệp 40 năm đổi mới.
Như vậy, sự lựa
chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả tất
yếu của lịch sử dân tộc và thời đại. Đó là sự lựa chọn dựa trên cơ sở khoa học,
thực tiễn và nhân văn sâu sắc; đồng thời được kiểm nghiệm bằng thắng lợi của
cách mạng Việt Nam trong gần một thế kỷ qua. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn
quan trọng để phản bác các luận điệu xuyên tạc cho rằng Hồ Chí Minh lựa chọn
con đường xã hội chủ nghĩa là “sai lầm lịch sử”, “đi ngược quy luật phát triển”
hoặc “không phù hợp với thời đại”.
2.
Nhận
diện các luận điệu thù địch, xuyên tạc về sự lựa chọn con đường đi lên Chủ
nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nội dung các quan điểm phủ nhận sự lựa chọn con đường đi
lên chủ
nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ
Chí Minh là các quan niệm, lập luận, ý kiến nhằm bác bỏ những vấn đề cốt lõi của
lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Một là, các thế
lực thù địch đã bác bỏ luận điệu cho rằng chủ nghĩa xã hội đã kết thúc sau biến
cố Đông Âu và Liên Xô. Các luận điệu phản động đã lợi dụng sự tan rã của hệ thống
xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu để rêu rao rằng lý tưởng này đã “hết thời”
hoặc “bị khai tử”. Từ đó, chúng quy chụp việc Việt Nam kiên trì mục tiêu này là
“lội ngược dòng lịch sử”. Tuy nhiên, đây là sự đánh tráo khái niệm đầy ác ý khi
đồng nhất sự sụp đổ của một mô hình tổ chức cụ thể với sự thất bại của cả một hệ
tư tưởng khoa học (chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh). Thực tế lịch
sử chứng minh, chủ nghĩa xã hội không hề biến mất như lời cáo buộc; nhiều quốc
gia vẫn đang định hình lối đi riêng đầy sức sống. Đặc biệt, những thành tựu đổi
mới của Việt Nam là minh chứng sống động cho một mô hình phát triển sáng tạo,
bám sát thực tiễn đất nước chứ không phải là sự rập khuôn mù quáng.
Hai là, các thế
lực thù địch phản bác quan điểm đối lập giữa kinh tế thị trường và định hướng
xã hội chủ nghĩa. Một chiêu trò ngụy biện nhằm khẳng định kinh tế thị trường
và chủ nghĩa xã hội là hai thái cực loại trừ nhau, từ đó ép buộc Việt Nam phải
ngả hẳn sang con đường tư bản chủ nghĩa để phù hợp với "xu thế khách
quan". Thực chất, đây là âm mưu phủ nhận thành quả đổi mới của Đảng ta
trong suốt quá trình đổi mới. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa mà Việt Nam đang vận hành là sự vận dụng đột phá: vừa giải phóng sức sản
xuất và huy động tối đa các nguồn lực kinh tế, vừa duy trì vai trò điều tiết của
Nhà nước nhằm đảm bảo tính bền vững, lấy con người làm trung tâm và phục vụ lợi
ích tối cao của nhân dân lao động thay vì lợi nhuận cho một nhóm thiểu số như
các thế lực thù địch từng đề cập.
Ba là, các thế lực
thù địch lợi dụng các mặt trái xã hội để bôi nhọ bản chất chế độ xã hôi chủ
nghĩa mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Chúng
thường chớp lấy các vấn đề nhức nhối mang tính hiện tượng như tham nhũng, lãng
phí, phân hóa giàu nghèo hay tệ nạn xã hội để quy kết thành “bản chất hệ thống”
của chế độ ta, hòng gieo rắc sự hoài nghi và bi quan trong dư luận. Đây là thủ
đoạn "vơ đũa cả nắm", cố tình phớt lờ thực tế rằng bất kỳ thể chế nào
trong quá trình phát triển cũng phải đối mặt với những tiêu cực phát sinh. Điểm
mấu chốt tạo nên sự khác biệt là Đảng và Nhà nước Việt Nam chưa bao giờ né
tránh mà luôn quyết liệt chỉnh đốn đội ngũ, hệ thống chính trị và hoàn thiện luật
pháp. Những quyết sách mang tính chiến lược gần đây như tinh gọn bộ máy hành
chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp chính là hành động thực tế để
tối ưu hóa quản trị và làm trong sạch bộ máy nhà nước hiện nay.
Bốn là, các đối
tượng chống phá tìm mọi cách phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của
Nhà nước ta, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, “kiến tạo xã
hội dân sự”, coi đó là điều kiện để phát triển đất nước. Luận điệu này nhằm từng bước xóa bỏ nền tảng chính trị của
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Từ đó
chúng tác động nhằm gây mất ổn định chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn
dân tộc; hủy hoại sự thống nhất giữa “ý Đảng - lòng dân”. Mưu đồ thâm độc và
nguy hiểm này đã phá vỡ sự đồng thuận xã hội và chia rẽ mối quan hệ khăng khít
giữa Đảng với Nhân dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh sự lãnh đạo
của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng và hạnh phúc của
Nhân dân ta; mọi âm mưu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đều đi ngược lại lợi
ích quốc gia - dân tộc và sự bình yên của đất nước.
Tất cả các luận
điệu xuyên tạc trên thực chất là một chiến dịch "diễn biến hòa bình"
tinh vi trên mặt trận tư tưởng. Mục tiêu cuối cùng của chúng là làm lung lay niềm
tin của người dân vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ đã lựa chọn. Vì vậy,
việc lật tẩy các thủ đoạn này không chỉ giúp bảo vệ nền tảng tư tưởng độc lập,
mà còn củng cố sức mạnh đoàn kết toàn dân trong công cuộc phát triển đất nước
hiện nay.
Có thể nói, các
thủ đoạn chống phá của các thế lực địch về sự lựa chọn con đường đi lên Chủ
nghĩa xã hội của Chủ tịch hồ Chí Minh có đặc điểm: Một là, trộn lẫn thật
- giả nhằm tạo cảm giác khách quan. Chúng thường lợi dụng những hạn chế có thật
trong quản lý xã hội để suy diễn thành bản chất của chế độ. Hai là, khai
thác tâm lý bất mãn và khoảng trống thông tin. Khi xảy ra các sự kiện nhạy cảm,
các đối tượng lập tức tung tin thất thiệt nhằm định hướng dư luận. Ba là,
sử dụng “người trong cuộc”, “chuyên gia tự xưng” hoặc các tài khoản ẩn danh để
tạo tính thuyết phục giả tạo. Bốn là, cá nhân hóa nội dung chống phá.
Các thuật toán mạng xã hội giúp thông tin sai lệch tiếp cận đúng nhóm đối tượng
có tâm lý dao động hoặc thiếu bản lĩnh chính trị. Năm là, quốc tế hóa vấn
đề nội bộ của Việt Nam thông qua các tổ chức phi chính phủ, báo chí nước ngoài
hoặc diễn đàn quốc tế. Những thủ đoạn trên cho thấy cuộc đấu tranh tư tưởng hiện
nay diễn ra quyết liệt, phức tạp và mang tính lâu dài. Do đó, việc nhận diện
đúng bản chất các luận điệu sai trái, thù địch là điều kiện tiên quyết để nâng
cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
3.
Luận
cứ khoa học đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận sự lựa chọn
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, thực tiễn lịch sử và thành tựu đổi mới là minh
chứng đập tan các luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiến
trình cách mạng Việt Nam chính là thước đo khách quan nhất khẳng định tính đúng
đắn trong quyết sách của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện vọng của toàn dân
tộc. Nhìn lại bối cảnh đất nước nghèo đói sau chiến tranh trước cột mốc năm
1986, chúng ta mới thấy hết giá trị của chặng đường đã qua. Trải qua bốn thập kỷ
tiến hành công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích mang tính bước
ngoặt: từ một quốc gia lạc hậu vươn lên thành một nền kinh tế năng động, đời sống
người dân được nâng cao rõ rệt, cùng uy tín quốc tế ngày càng vững chắc. Văn kiện
Đại hội XIV khẳng định: “Nhìn lại 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự
lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử, kinh tế duy trì tốc độ phát triển tương đối nhanh, trở thành nước đang phát
triển có thu nhập trung bình, các lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời
sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản, toàn diện. Quốc phòng, an ninh,
trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được
xây dựng khá toàn diện. Vai trò lãnh đạo, uy tín của đảng tiếp tục được nâng
cao, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.”[7].
Những quả ngọt thực tế này là luận cứ đanh thép nhất để bác bỏ hoàn toàn các
quan điểm sai trái, xuyên tạc cho rằng lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa tại
Việt Nam là "sai lầm lịch sử" hay "đi ngược lại xu thế".
Thứ hai, bản chất khoa học, sáng tạo trong lý luận về chủ
nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo
Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho dân giàu, nước mạnh, nhân
dân được tự do, hạnh phúc Người nhấn mạnh: "mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sống của
nhân dân"[8]. “Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động"[9][1].
Đây là luận điểm có giá trị phản bác trực diện những luận điệu xuyên tạc bản chất
của chủ nghĩa xã hội. Theo Người, xã
hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là
chủ nghĩa xã hội. Điều này chứng minh chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam là một
thực thể phát triển linh hoạt và giàu tính thực tiễn. Vì thế, luận điệu quy chụp
rằng phát triển kinh tế thị trường buộc phải từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa là
cái nhìn phiến diện, hoàn toàn thiếu căn cứ khoa học.
Thứ ba, phân định rõ ràng giữa hiện tượng tiêu cực phát
sinh với bản chất tốt đẹp của chế độ. Những
góc khuất xã hội như nạn tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái đạo đức hay hố sâu
phân hóa giàu nghèo tuyệt đối không phải là thuộc tính bản chất của chế độ xã hội
chủ nghĩa. Đây thực chất là những hệ lụy tất yếu nảy sinh trong giai đoạn quá độ
và phát triển kinh tế, vốn là bài toán chung của mọi quốc gia trên thế giới. Điểm
mấu chốt là Đảng và Nhà nước ta không hề che giấu mà luôn chủ động, kiên quyết
dứt điểm các căn bệnh này. Trong cuốn sách “Kiên quyết,
kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và
Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” ( 2023) của cố Tổng bí thư
Nguyễn Phú Trọng, tại Phần thứ nhất( Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn cuộc đấu
tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt nam), cố Tổng Bí thư đã hệ thống
hóa và đưa ra các số liệu tổng kết thực tiễn rất cụ thể, chính xác về kết quả đấu
tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta trong giai đoạn 10 năm (2012
- 2022) kể từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng
trực thuộc Bộ Chính trị. Số liệu về xử lý kỷ luật Đảng và cán bộ diện Trung
ương quản lý: cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ
chức đảng, gần 168.000 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao thuộc
diện Trung ương quản lý. Trong đó có: 33 Ủy viên và nguyên Ủy viên Trung ương Đảng,
hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang[10]. Công tác chỉnh đốn Đảng,
cuộc chiến chống tham nhũng được thực hiện không ngừng nghỉ với quyết tâm chính
trị cao nhất nhằm thanh lọc bộ máy và củng cố lòng tin trong nhân dân. Hành động
quyết liệt đó đã lật tẩy mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch khi cố tình lấy
hiện tượng đánh tráo bản chất hòng hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng.
Thứ tư, vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố tiên quyết bảo
đảm sự ổn định và phát triển đất nước. Lịch
sử đã và đang chứng minh một chân lý không thể lay chuyển về vai trò chèo lái
con thuyền cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là gốc rễ của mọi thắng lợi.
Bài học từ thực tiễn cho thấy, Việt Nam giữ vững được môi trường hòa bình, kinh
tế tăng trưởng đều đặn và xã hội an định chính là nhờ năng lực quản lý của Nhà
nước và sự dẫn đường đúng đắn của Đảng. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Qua
40 năm đổi mới, quan điểm về chính sách xã hội dần được hoàn thiện: Tăng trưởng
kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Tăng trưởng kinh tế
gắn với giải quyết các vấn đề xã hội để mọi người dân đều được hưởng thụ thành
quả của phát triển và thực hiện công bằng xã hội. Chính sách xã hội đúng đắn vì
hạnh phúc của con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của
nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm của toàn xã hội, của
mỗi đơn vị, của từng gia đình, là sự
nghiệp của Đảng, nhà nước và của nhân dân trong việc thực hiện chính sách xã hội”[11].
Không có sự bảo đảm ấy, sẽ không có thành quả và cuộc sống hạnh phúc của nhân
dân ngày hôm nay. Do đó, luận điệu cổ súy cho "đa nguyên, đa đảng" thực
chất chỉ là chiếc mặt nạ bọc đường nhằm làm suy yếu đất nước từ bên trong, kích
động tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" để mở đường
cho các thế lực ngoại bang can thiệp.
4. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu
tranh, phê phán các luận điệu xuyên tạc, thù địch về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ
tịch Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, nâng
cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và đảng
viên về cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận. Kiên định niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và mục tiêu độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa
chọn từ đầu thế kỷ XX. Mỗi người cần thường xuyên học tập lý luận
chính trị, nâng cao trình độ nhận thức, bản lĩnh chính trị, chủ động nhận diện,
thấy rõ “tim đen và tội ác của các thế lực thù địch”; từ đó, ra sức đấu tranh
phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên không gian mạng
và trong đời sống xã hội.
Thứ hai, tiếp
tục tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm kiên định những
vấn đề có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng. Tăng cường công tác
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là Luật An ninh mạng; các quy
tắc ứng xử trên môi trường mạng xã hội đối với cán bộ, đảng viên và các tầng
lớp nhân dân để nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong chấp hành các quy định
của Đảng và Nhà nước về quyền thông tin, phạm vi thông tin khi tham gia các
mạng xã hội.
Thứ ba, cấp
ủy, người đứng đầu tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị tích cực nắm bắt diễn biến tư
tưởng, tâm tư nguyện vọng của đảng viên để có biện pháp giải quyết kịp thời. Trong
đó, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu về
phẩm chất đạo đức, nhân cách, lối sống, trách nhiệm công vụ, nói đi đôi với
làm, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam. Đối với cán bộ, đảng viên cần tuyệt đối trung thành với Tổ
quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, sẵn sàng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền quốc gia - dân tộc. Nhân dân cả nước cần phát huy tinh thần đoàn kết, lao
động sáng tạo, chung sức đồng lòng xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh.
Thứ tư, toàn
Đảng, toàn quân, toàn dân luôn sẵn sàng đối diện với kẻ thù tư tưởng, thường
xuyên, liên tục trang bị vũ khí lý luận, khoa học công nghệ và phương tiện hiện
đại trước những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch.
Đồng thời, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng của cả hệ thống chính trị trong
thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày
22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng
của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình
mới” khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương
lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong đó, cần
xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt, chuyên trách
tinh gọn, đủ mạnh, có trình độ hiểu biết sâu sắc về chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách,
pháp luật, am hiểu tình hình thực tiễn của đất nước, của thế
giới, có tâm huyết, bản lĩnh, dũng khí và nghệ thuật đấu tranh, vượt qua mọi
cám dỗ để hoàn thành nhiệm vụ.
Kết luận
Con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, của Đảng, Bác
Hồ và Nhân dân ta; đồng thời là sự bảo đảm chắc chắn để đất nước ta phát triển
bền vững, giữ được môi trường hòa bình, hạnh phúc của Nhân dân. Mọi mưu đồ phủ
nhận con đường lên chủ nghĩa xã hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi sướng đều nhằm
mục đích làm suy yếu niềm tin, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy,
đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch, xuyên tạc là nhiệm vụ toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân. Mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và người dân cần giữ vững
lập trường, quan điểm giai cấp, tôi rèn bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin,
lan tỏa thông tin đúng đắn, tích cực, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng
của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc./.
TS. Nguyễn Thị Thanh Hà
Khoa Triết học - Học viện Chính trị khu vực II
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011,
tr. 296
[2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011,
tr. 562.
[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.2, Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011 tr.563.
[4]. Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, tập 2, tr. 289
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, tr. 65
[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, tập I tr. 81.
[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, tập II tr. 19
[8]. Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 159
[9]. Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 271
[10]. Nguyễn Phú Trọng ( 2023), Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống
tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch,
vững mạnh, NXB CT QG ST, trang 26-27.
[11]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, tập II tr.65
Monday, May 11, 2026
Friday, March 13, 2026
Thursday, January 8, 2026
Monday, December 8, 2025
Tuesday, November 4, 2025
Wednesday, July 2, 2025
Wednesday, May 7, 2025
Monday, March 10, 2025
Wednesday, January 8, 2025
Friday, October 4, 2024
Monday, August 5, 2024
Wednesday, May 1, 2024
ĐỂ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM THỰC SỰ LÀ LỰC LƯỢNG TIÊN PHONG TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
PGS, TS. Phạm Công Nhất
TCCSĐT - Trong tiến trình lịch sử, giai cấp công nhân luôn là lực
lượng tiên phong của Cách mạng Việt Nam. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay,
vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân đang đứng trước những thách
thức mới. Vì vậy, việc “Xây dựng giai cấp công nhân nước ta lớn mạnh trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” lại đang “là nhiệm vụ quan
trọng và cấp bách của Ðảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của mỗi người
công nhân và của toàn xã hội”(1).
Sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam cơ bản gắn với quá trình
khai thác thuộc địa của thực dân Pháp những năm nửa cuối thế kỷ XIX. Đó thực
chất cũng là khởi nguồn của quá trình công nghiệp hóa ở một quốc gia nông
nghiệp. Trước khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng (ngày 01-9-1858), mở
màn cho cuộc xâm lược, Việt Nam lúc đó vẫn là một nước phong kiến lạc hậu với
nền kinh tế dựa vào sản xuất tiểu nông là chính, cơ sở kinh tế về công nghiệp,
dịch vụ chưa hề thấy. Xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến với hai giai
cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân(2). Khi cuộc xâm
lăng và bình định đã cơ bản hoàn thành vào cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt
tay tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất với quy mô mở rộng ra
cả nước. Các nhà máy xay xát, rượu bia, vải sợi, điện nước, đồn điền cao su, cà
phê… lần lượt ra đời. Cùng với các cơ sở kinh tế công nghiệp được thành lập,
đội ngũ những người công nhân Việt Nam đầu tiên đã ra đời. Họ là những nông dân
Việt Nam bị tước đoạt hết ruộng đất, những người thợ thủ công nghiệp bị phá
sản. Sự mở rộng quy mô khai thác thuộc địa và phát triển công nghiệp của thực
dân Pháp đã làm cho đội ngũ những người công nhân Việt Nam ngày càng đông đảo
và dần hình thành một giai cấp, mặc dù, thực chất chỉ mới là giai cấp “tự nó”.
Khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc (1918), thực dân
Pháp tiến hành chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô và tốc độ
lớn hơn trước nhiều lần hòng bù đắp phần nào thiệt hại do chiến tranh thế giới
gây ra. Thời kỳ này, số lượng công nhân Việt Nam phát triển nhanh chóng. Theo
niên giám thống kê của Pháp thì đến năm 1929 số lượng công nhân trên toàn Đông
Dương (chủ yếu là Việt Nam) là 220.000 người. Cùng với sự tăng lên về số lượng,
chất lượng chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề của công nhân cũng được nâng lên.
Cho đến trước ngày 19-12-1946 toàn bộ số công nhân ở Bắc Bộ và Bắc
Trung Bộ có khoảng 100.000 người, trong đó có 25.000 làm việc tại các xí
nghiệp, nhà máy và cơ sở kinh doanh của tư bản Pháp và tư bản ngoại quốc. Công
nhân ở Nam Bộ đông hơn nhưng đã bị phân tán và chuyển hóa khá phức tạp khi
chiến tranh xảy ra. Kháng chiến càng diễn ra ác liệt tại Nam Bộ thì sự phân tán
của đội ngũ công nhân ở đây diễn ra càng mạnh. Tháng 10-1950, chiến dịch Biên
giới kết thúc thắng lợi, 5 thị xã, 13 thị trấn cùng nhiều vùng đất dọc theo
giải biên giới dài 750 km gồm 35 vạn dân được giải phóng, số lượng công nhân
trong các vùng do ta kiểm soát tăng lên đến 346.000 người, trong đó, chủ yếu là
thợ thủ công. Càng về những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, số lượng
công nhân thủ, công nghiệp càng tăng. Tỷ trọng công nhân công nghiệp (công
nghiệp quốc phòng và công nhân kinh tế quốc doanh) rất thấp, chỉ chiếm khoảng
10%.
Như vậy, xét về lịch sử hình thành, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời không phải là sản phẩm trực tiếp của nền sản xuất công nghiệp hiện đại Việt Nam mà ra đời từ chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Đại đa số công nhân Việt Nam đều xuất thân từ tầng lớp nông dân với trình độ lao động giản đơn. Vì thế, có thể nhận định khái quát là giai cấp công nhân Việt Nam ra đời muộn hơn so với giai cấp công nhân thế giới, số lượng ban đầu còn ít và trình độ tay nghề thấp.
Monday, March 4, 2024
170 NĂM TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN – NGHĨ VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
Nguyễn Thị Thanh Huyền,
Hoàng Trung Thành
TCCSĐT - Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản do C.Mác và Ph.Ăng-ghen soạn thảo, một văn kiện mang tính
Cương lĩnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trên thế giới được đánh
giá là giữ địa vị đặc biệt quan trọng trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lê-nin, và là cột mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của phong trào công
nhân quốc tế từ tự phát sang tự giác.
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Tư tưởng xuyên suốt
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏi mọi
ách áp bức bóc lột, khỏi mọi sự tha hóa. Nhiệm vụ lịch sử ấy đặt lên vai giai
cấp công nhân. Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga là thắng lợi tư tưởng của
Tuyên ngôn Đảng Cộng sản được hiện thực hóa từng bước trên lãnh thổ rộng 1/6
trái đất, nối với thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
rồi sau đó là thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cách mạng Trung Quốc, Cu-ba…
Về nội dung sứ mệnh
lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản khẳng định giai cấp công
nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử cao cả, là giai cấp thống trị về
chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư
bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để
thủ tiêu hoàn toàn sự phân chia giai cấp. Vì thế, sứ mệnh lịch sử giai
cấp công nhân không phải là duy trì giai cấp công nhân mà là giải phóng triệt
để con người. Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C.Mác-Ph.Ăng-ghen đã khẳng
định: “Toàn bộ lý luận của chủ nghĩa cộng sản là thủ tiêu chế độ tư hữu”. Một
khi chế độ tư hữu không còn thì nguyên nhân phân chia xã hội thành giai cấp,
nhà nước cũng bị xóa bỏ. Do đó với tư cách là một giai cấp, giai cấp công nhân
cũng sẽ không còn lý do tồn tại. Con đường đi tới xã hội không giai cấp là con
đường quanh co và nhiều phức tạp. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, giai
cấp công nhân phải tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân lao động, tiếp thu lý
luận khoa học cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để thành lập nên chính đảng
tiên phong của mình và sẵn sàng đấu tranh khi có thời cơ cách mạng.
170 năm qua, lịch sử
thế giới đã có nhiều đổi thay, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã trải qua những
thăng trầm, biến đổi. Trên con đường ấy, có những thời điểm con đường cách mạng
của giai cấp vô sản gặp nhiều khó khăn với sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội
ở Liên Xô và các nước Đông Âu - một tổn thất to lớn đối với phong trào cộng sản
và xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Song đó là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa
xã hội hiện thực được xây dựng ở Nga và sau đó là ở Liên bang Xô viết, chứ
không phải là sự sụp đổ của học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. Những
tư tưởng về giai cấp công nhân được phản ánh trong tuyên ngôn không những không
bị lỗi thời mà vẫn có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn lớn lao đối với giai
cấp công nhân nước ta cũng như giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên
toàn thế giới.
Trong bối cảnh hội
nhập toàn cầu hiện nay, thế giới vừa hợp tác, vừa đấu tranh nên việc nhận thức
một cách rõ ràng, không mơ hồ, không ảo tưởng về chủ nghĩa tư bản hiện đại, về
bản chất giai cấp của Nhà nước tư sản giúp chúng ta có một cách nhìn đúng đắn.
Tuyên ngôn đã khẳng định sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa đã đem lại những thành tựu rất lớn cho xã hội loài người. Tuy
nhiên, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày
càng được xã hội hoá cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư
liệu sản xuất ngày càng gay gắt. Mâu thuẫn đó tất yếu dẫn đến cách mạng vô
sản.
Hiện nay, những thành
tựu khoa học - công nghệ phát triển, đặc biệt là từ nửa sau thế kỷ XX, giai cấp
công nhân đã có những biến đổi nhất định về phương thức lao động và phương diện
đời sống (tình trạng sở hữu, điều kiện lao động, mức thu nhập, trình độ học
vấn, trình độ tay nghề,...). Một bộ phận giai cấp công nhân ở các nước tư bản
chủ nghĩa đã có một số tư liệu sản xuất, đã góp cổ phần tại các xí nghiệp tư
bản. Nhưng, thực tế số tư liệu sản xuất và lượng cổ phần của giai cấp công nhân
chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số tài sản “khổng lồ” của các nhà tư bản. Là một
cổ đông nhỏ, giai cấp công nhân không thể cùng với nhà tư bản phân chia quyền
lực. Do đó, xét về bản chất vẫn phải làm thuê cho nhà tư bản. Giai cấp công
nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành giai cấp cầm quyền và là chủ sở
hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, thì khái niệm giai cấp vô
sản theo đúng nghĩa của từ đó cũng hoàn toàn không còn nữa. Tuy nhiên, giai cấp
công nhân ở các nước này vẫn là một bộ phận của giai cấp vô sản (giai cấp công
nhân) toàn thế giới.
Cùng với sự phát
triển của khoa học - công nghệ, giai cấp công nhân có xu hướng “trí thức hóa”
ngày càng tăng. Điều đó không làm thay đổi bản chất và sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân. Giai cấp công nhân vẫn là giai cấp có sứ mệnh xóa bỏ tình cảnh
vô sản, trở thành giai cấp có địa vị làm chủ để tiến tới “tự thủ tiêu” chính
mình với tư cách là một giai cấp.
Sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân Việt Nam
Xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và góp
phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới chính là sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân Việt Nam. Lớp công nhân Việt Nam đầu tiên xuất hiện gắn liền
với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (năm 1897) và thực sự trở thành giai
cấp công nhân Việt Nam từ công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp lần
thứ hai (1924-1929). Cùng với quá trình phát triển của cách mạng, giai cấp công
nhân Việt Nam sớm trở thành bộ phận của đội ngũ giai cấp công nhân quốc tế.
Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt
Nam còn có đặc điểm riêng. Đó là:









