Monday, June 8, 2026
Monday, May 11, 2026
Thursday, February 12, 2026
Monday, December 8, 2025
Tuesday, November 4, 2025
Wednesday, July 2, 2025
Wednesday, May 7, 2025
Friday, March 7, 2025
Monday, December 2, 2024
Friday, October 4, 2024
Monday, August 5, 2024
Wednesday, May 1, 2024
VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI HỌC VIÊN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
Hoàng
Việt Hưng
“Thế giới quan là hệ thống quan niệm về thế giới,
về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó”[1]. Như vậy,
có thể hiểu thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một người hoặc một tập
đoàn người, một giai cấp hay toàn xã hội về thế giới và về vị trí, vai trò của
con người trong thế giới đó, về chính bản thân cuộc sống con người và loài người
trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Trên cơ sở đó, thế giới quan định hướng
cho hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo thế giới của họ, điều chỉnh hành vi
của con người trong cuộc sống hàng ngày.
Thế giới quan bao gồm những yếu tố cơ bản: tri
thức, niềm tin và lý tưởng. Trong ba yếu tố cấu thành thế giới quan, tri thức
là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, nhưng tri thức chỉ gia nhập
vào thế giới quan khi đã trở thành niềm tin của con người qua sự thể nghiệm lâu
dài trong cuộc sống của họ và sự hình thành lý tưởng là sự phát triển ở trình độ
cao của thế giới quan. Trong lịch sử phát triển của xã hội, thế giới quan được
thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng khác nhau, nhưng tập trung ở ba hình thức
chủ yếu: thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết
học.
Thế giới quan duy vật biện
chứng là đỉnh cao của thế giới quan triết học và cũng là đỉnh cao của thế giới
quan đã có trong lịch sử. Có thể khẳng định rằng, thế giới quan duy vật biện chứng
là hệ thống những quan niệm khoa học chung nhất về tự nhiên, xã hội và con người.
Thế giới quan duy vật biện chứng gồm ba yếu tố
cơ bản quan hệ hữu cơ với nhau: đó là tri thức khoa học, niềm tin khoa học và
lý tưởng cách mạng.
Tri thức trong thế giới
quan duy vật biện chứng bao gồm chủ nghĩa duy vật, phép biện chứng, các khoa học
tự nhiên và khoa học xã hội. Những tri thức đó góp phần định hướng cho con người
trong hoạt động cải tạo hiện thực. Trong đó, những tri thức của Triết học Mác -
Lênin đóng vai trò nền tảng, là hạt nhân lý luận của thế giới quan duy vật biện
chứng.
Niềm tin khoa học có cơ sở từ những
tri thức khoa học và gắn kết giữa tri thức khoa học với hoạt động thực tiễn. Niềm
tin khoa học giúp con người tin tưởng vào những hành động hướng tới chân lý,
xác định những mục tiêu cao cả để vươn tới.
Lý tưởng cách mạng trong thế giới
quan duy vật biện chứng là sự kết hợp giữa tri thức khoa học và niềm tin khoa học.
Đó là lý tưởng cao đẹp. Nó vừa là mục tiêu cao cả mà con người hướng tới, vừa
là động lực thôi thúc con người hành động, thiếu lý tưởng con người cảm thấy mất
phương hướng, mất niềm tin và cảm thấy cuộc đời tẻ nhạt. Chính lý tưởng khơi dậy
sự nỗ lực nhận thức, sự nồng nhiệt của tình cảm, sự mãnh liệt của ý chí và quyết
tâm trong hành động giúp con người vươn tới mục tiêu cao cả không quản gian khổ,
hy sinh. Lý tưởng cách mạng là sự thống nhất giữa tri thức, tình cảm, ý chí sẵn
sàng hoạt động, trong đó yếu tố tri thức khoa học đóng vai trò quan trọng nhất
bởi lý tưởng chỉ thật sự có tính hiện thực khi nó được xây dựng trên cơ sở niềm
tin vững chắc vào chân lý mà tri thức khoa học đem lại. Sống có lý tưởng, có
hoài bão ước mơ, con người sẽ nhân đôi ý nghĩa cuộc sống của chính mình, giúp
con người vươn lên làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân.
Tóm lại, thế giới quan duy vật biện chứng có ý nghĩa không chỉ thiên về mặt lý luận nhận thức mà còn có một ý nghĩa lớn lao về mặt thực tiễn. Sự thống nhất biện chứng của những yếu tố tri thức, niềm tin, lý tưởng, giúp cho con người nhận thức và cải tạo thế giới ngày càng hiệu quả hơn theo sự vận động của quy luật khách quan.
Monday, March 4, 2024
TRIẾT HỌC MÁC XÍT – HÌNH THỨC TƯ DUY LÝ LUẬN ĐÚNG ĐẮN ĐỂ TIẾP CẬN TÍNH TOÀN VẸN VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI CON NGƯỜI
Đỗ
Huy(*)
Con
người và thế giới của con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
khác nhau, như tâm lý học, xã hội học, lịch sử, văn hoá học... Song, theo chúng
tôi, chỉ có triết học và triết học mácxít chứ không phải triết học Cantơ,
Hêgen, Phoiơbắc hay những trào lưu triết học sau này như chủ nghĩa Tômát mới,
chủ nghĩa hiện sinh mới có cách giải quyết đúng đắn vấn đề này. Làm được điều
này, các nhà triết học mácxít đã dựa trên quan điểm thực tiễn vật chất
– tinh thần, trong đó, tâm điểm của nó là lao động của con người.
Con
người cùng với thế giới người mà nó tạo ra là cả một thiên hà các vấn đề. Vấn đề
con người từ đâu tới, các quan hệ của nó, sự tồn tại thế giới bên trong, thế giới
bên ngoài trong thực tiễn lịch sử - xã hội của con người; cá thể và cá tính của
con người, các hoạt động và khả năng sáng tạo của con người; con người đi đâu
và về đâu; các tổ chức xã hội của con người, các kiểu con người trong tiến
trình lịch sử v.v. và v.v. đã từng là cội nguồn tạo ra những khoa học nghiên
cứu con người và thế giới của con người.
Các
khoa học vật lý học, sinh học, y học, ưu sinh học... đã từng đạt được những
thành tựu to lớn trong quá trình lý giải bản chất tự nhiên của con
người. Các thành tựu của ưu sinh học người đã khám phá ra bộ gien người và đặc
biệt, đã tạo ra con người bằng sinh sản vô tính. Sau khi tạo ra được con người
từ trong các ống nghiệm, các cá thể người ấy sống như thế nào. Nó có gia đình
không? Nó có chuẩn mực đạo đức xã hội không? Nó có mỹ cảm bình thường không?...
rõ ràng chưa có khoa học nào nghiên cứu các con người ấy sẽ tồn tại như thế nào
và nó đi đâu, về đâu, ảnh hưởng của nó đến toàn bộ đạo đức xã hội ra sao?
Con
người đã tạo ra các khoa học tự nhiên để nghiên cứu mình. Ngoài khoa
học tự nhiên, con người còn tạo ra các khoa học xã hội và khoa học nhân
văn để lý giải bản chất xã hội, những tầng, những lớp, tâm linh, ứng xử,
giao tiếp và các khả năng tiềm ẩn của mình. Trong số các khoa học xã hội và khoa
học nhân văn nghiên cứu các hoạt động người, trước hết phải kể đến Khoa xã hội
học. Khoa xã hội học đã đạt được rất nhiều thành tựu khi giải quyết
và lý giải các vấn đề xã hội của con người. Mặc dù ngành khoa học này đã nghiên
cứu các hình thái ý thức và tồn tại xã hội, các tổ chức và cơ cấu xã hội của
con người, song nó lại không có khả năng xây dựng một hệ thống lý luận về mặt tự
nhiên trong bản chất của con người. Dù là xã hội học cổ điển hay xã hội học hiện
đại, xã hội học mácxít hay ngoài mácxít, mặt tự nhiên của con người đều nằm
ngoài hệ thống lý luận của nó. Bản chất toàn vẹn của con người là sự thống nhất
giữa cái tự nhiên và cái xã hội. Nếu xã hội học không bao chứa được mặt tự
nhiên trong con người thì nó không thể chứa đựng được việc nghiên cứu các hình
thức vận động tự nhiên của bản thân con người và các sáng tạo về mặt tự nhiên của
con người.
Monday, December 4, 2023
TRAU DỒI KIẾN THỨC TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN GÓP PHẦN BỒI DƯỠNG THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC CHO CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CƠ SỞ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Dương
Bá Tiến
Thế
giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người và
xã hội loài người. Tồn tại trong thế giới, con người phải nhận thức thế giới và
nhận thức bản thân mình. Những tri thức này dần dần hình thành nên thế giới
quan. Khi đã hình thành, thế giới quan lại trở thành nhân tố định hướng cho quá
trình con người tiếp tục nhận thức thế giới. Có thể ví thế giới quan như một
“thấu kính”, qua đó con người nhìn nhận thế giới xung quanh cũng như tự xem xét
chính bản thân mình để xác định cho mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn
cách thức hoạt động được mục đích, ý nghĩa đó. Như vậy, thế giới quan đúng đắn
là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực; trình độ phát triển của thế giới
quan là tiêu chí quan trọng đánh giá sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi
cộng đồng xã hội.
Thế
giới quan được cấu thành bởi nhiều yếu tố như tình cảm, lý trí, niềm tin, tri
thức, lý tưởng. Các yếu tố này liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời
nhau. Trong thế giới quan có sự hòa nhập giữa tri thức và niềm tin. Tri thức
là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song nó chỉ gia nhập thế giới
quan khi nó đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động thực tiễn của con
người.
Thế
giới quan được hình thành từ nhiều con đường khác nhau như văn học, nghệ thuật,
huyền thoại, thần thoại, tôn giáo, triết học,… Trong đó, triết học, với phương
pháp tư duy đặc thù đã tạo nên hệ thống lý luận bao gồm các khái niệm, phạm
trù, quy luật, … thể hiện những quan niệm chung nhất về thế giới với tư cách là
một chỉnh thể, nên, triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình
hình thành và phát triển thế giới quan. Triết học là hạt nhân lý luận của thế
giới quan; nó giữ vai trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới
quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.
Nước
ta đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế. Để thực hiện thành công sự nghiêp đổi mới, vai trò của đội
ngũ cán bộ, quản lý nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở nói
riêng là rất quan trọng. Bởi vì, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người trực tiếp
lãnh đạo và tổ chức thắng lợi mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật
của Đảng và Nhà nước tại cơ sở. Đồng thời, họ cũng là cầu nối giữa Đảng với
nhân dân, thường xuyên lắng nghe, giải quyết và đề đạt ý kiến, nguyện vọng
chính đáng của nhân dân với Đảng. Do đó, nhằm bồi dưỡng thế giới quan khoa học
để cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng và
năng lực lãnh, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ cần phải trang bị kiến thức triết
học Mác - Lênin.












