Tóm tắt: Báo cáo Thường niên năm 2026 của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam tiếp tục đưa ra những nhận định thiếu khách quan, chưa phản ánh đầy đủ tình hình thực tiễn. Trên cơ sở phân tích quan đểm, chính sách và đời sống tôn giáo sinh động ở Việt Nam, bài viết chỉ ra những sai lệch trong cách tiếp cận và đánh giá dẫn đến những nhận định này.
Từ khóa: Tự do tôn giáo, chính sách tôn giáo, USCIRF.
Nhận diện và phản bác các luận điệu sai lệch trong Báo cáo Thường niên năm 2026 của USCIRF về tự do tôn giáo ở Việt Nam
Trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, vấn đề dân tộc, tôn giáo luôn được xác định là một trong những nội dung trọng yếu, nhạy cảm mà các thế lực thù địch tập trung tấn công nhằm gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ và hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Việc đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái trong lĩnh vực này không chỉ là sự khẳng định về tính đúng đắn trong chính sách của Nhà nước Việt Nam, mà còn là nhiệm vụ bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tháng 3 năm 2026, USCIRF đã công bố Báo cáo Thường niên năm 2026, đưa ra những đánh giá về tình hình tự do tôn giáo trên thế giới trong năm 2025. Trong phần riêng về Việt Nam, bất chấp những chuyển biến tích cực trong thực tế, USCIRF vẫn tiếp tục đưa ra những nhận định thiếu khách quan, phiến diện khi đề nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách “Quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC)1. Những cáo buộc này dựa trên các nguồn thông tin sai lệch
1 U.S. Commission on International Religious Freedom (2026), Annual Report 2026, Washington, D.C., March 2026
từ các đối tượng cực đoan, cố tình bóp méo thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và nỗ lực bảo đảm quyền con người của Nhà nước Việt Nam.
Thứ nhất, các luận điệu và thông tin cáo buộc đã áp đặt hệ quy chiếu trong đánh giá
Một trong những đặc điểm dễ nhận thấy trong báo cáo của USCIRF là việc sử dụng các tiêu chí đánh giá dựa trên hệ thống quan điểm của Hoa Kỳ về tự do tôn giáo và tham chiếu Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights, viết tắt: ICCPR). Do đó, các đánh giá này thường thiên về cách tiếp cận coi mô hình thực thi của phương Tây như một chuẩn tham chiếu mà chưa xem xét đầy đủ sự khác biệt về bối cảnh lịch sử, thể chế chính trị cũng như đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc thù tôn giáo của từng quốc gia. Trên thực tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là giá trị mang tính phổ quát, song cách thức bảo đảm và thực thi quyền này ở mỗi quốc gia luôn gắn với điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển và yêu cầu bảo đảm ổn định xã hội riêng. Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, với nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng. Ở nước ta, tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là niềm tin cá nhân mà còn gắn liền với bản sắc văn hóa của từng dân tộc và truyền thống đại đoàn kết toàn dân.
Vì vậy, việc USCIRF đứng từ bên ngoài và áp đặt các tiêu chí đánh giá tình hình Việt Nam là thiếu khách quan, không phản ánh đúng đời sống tôn giáo đa dạng của người dân và vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế: Đó là tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Không một quốc gia nào có quyền tự cho mình đứng trên các quốc gia khác để phán xét và can thiệp vào công việc của họ.
Thứ hai, đồng nhất “tôn giáo chưa được đăng ký/ công nhận” với tình trạng “bị đàn áp”
Một điểm đáng chú ý trong báo cáo của USCIRF năm 2026 là xu hướng cố tình đồng nhất các nhóm tôn giáo chưa được đăng ký/ công nhận với tình trạng
“bị đàn áp”. USCIRF mặc nhiên coi việc các tổ chức chưa được cấp phép hoạt động là bằng chứng của việc chính quyền hạn chế tự do tôn giáo và cố tình phớt lờ những hậu quả về kinh tế, xã hội và con người mà một số tổ chức có liên quan đến tôn giáo bị cấm ở Việt Nam gây ra cho người dân.
Cách nhìn nhận phiến diện này đã cố tình bỏ qua một nguyên tắc cơ bản trong quản trị xã hội: Ở bất kỳ quốc gia nào, hoạt động của các tổ chức xã hội – bao gồm cả tổ chức tôn giáo – đều phải tuân thủ khuôn khổ pháp luật quốc gia đó. Việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 của Việt Nam hoàn toàn không nhằm kiểm soát hay hạn chế niềm tin của người dân. Mục đích cốt lõi của việc này là nhằm bảo đảm tính minh bạch, xác lập tư cách pháp nhân, xác định rõ trách nhiệm pháp lý và bảo hộ các hoạt động tôn giáo chính đáng trước pháp luật, đồng thời duy trì sự ổn định, hài hòa trong đời sống cộng đồng. Không phải mọi hoạt động mang danh nghĩa tôn giáo đều thuần túy xuất phát từ nhu cầu tâm linh chính đáng. Trên thực tế, nhiều trường hợp lợi dụng tôn giáo để trục lợi cá nhân hoặc thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự công cộng và an ninh quốc gia. Việc USCIRF không phân biệt rõ ranh giới này dẫn đến cách hiểu đơn giản hóa và thiếu khách quan: cứ “chưa được đăng ký/ công nhận” thì mặc nhiên là “bị đàn áp”. Bản chất vấn đề nằm ở tính thượng tôn pháp luật, không phải là sự hạn chế niềm tin tôn giáo của người dân.
Thứ ba, đánh tráo khái niệm giữa quyền tự do tôn giáo và các hành vi vi phạm pháp luật
Một sai lệch mang tính bản chất trong Báo cáo USCIRF 2026 là việc cố ý trộn lẫn giữa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo – vốn là quyền cơ bản của con người – với các hành vi vi phạm pháp luật diễn ra trong quá trình thực hành hoặc lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do dân chủ để chống phá an ninh quốc gia của một số tổ chức có liên quan đến tôn giáo.
Báo cáo của USCIRF liên tục viện dẫn một số điều khoản trong Bộ luật Hình sự Việt Nam như Điều 116 (Tội phá hoại chính sách đoàn kết), Điều 117 (Tội làm,
tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Điều 331 (Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân). USCIRF quy kết rằng Việt Nam sử dụng các điều khoản này để “bịt miệng” và “truy tố” những người bất đồng chính kiến tôn giáo1. Tuy nhiên, đây là sự đánh tráo khái niệm có chủ ý. Các điều luật này không phải là quy định điều chỉnh riêng đối với tôn giáo, mà là các điều luật bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội – những yếu tố sống còn tồn tại trong hệ thống pháp luật của mọi quốc gia trên thế giới.
Để viện dẫn cho những cáo buộc của mình, trong báo cáo năm 2026, USCIRF đã cá thể hóa và liệt kê một loạt trường hợp cụ thể để cáo buộc Việt Nam đàn áp tự do tôn giáo2 như:
Vụ việc tại Tây Nguyên: USCIRF bênh vực và đòi tự do cho các đối tượng như Ro Cham Grong3, Y Po Mlo4, Y Thinh Nie5 hay mục sư Y Nuen Ayun6. Thực tế, đây là các đối tượng lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị, kích động tư tưởng ly khai, tự trị dưới sự chỉ đạo của các tổ chức phản động lưu vong nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Vụ “Tịnh thất Bồng Lai” (tỉnh Long An): USCIRF cáo buộc Việt Nam quấy rối và gia tăng án phạt đối với đối tượng Lê Tùng Vân và Lê Thanh Nhất Nguyên7.
1 U.S. Commission on International Religious Freedom (2026), Annual Report 2026, Washington, D.C., March 2026, p.52.
2 U.S. Commission on International Religious Freedom (2026), Annual Report 2026, Washington, D.C., March 2026, p.52-53.
3 R'ô Hok (2025), “Gia Lai: Đối tượng phá hoại chính sách đoàn kết lãnh 7 năm tù”, Gia Lai Online. Truy cập tại https://baogialai.com.vn/gia-lai-doi-tuong-pha-hoai-chinh-sach-doan-ket-lanh-7-nam-tu-post313971.html tháng 05/2026.
4 Ban biên tập (2025), “Tuyên phạt bị cáo Y Pŏ Mlô 07 năm 06 tháng tù về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết””, Trang thông tin điện tử Công an tỉnh Đắk Lắk. Truy cập tại https://congan.daklak.gov.vn/tin-tuc-su-kien/tuyen- phat-bi-cao-y-po-mlo-07-nam-06-thang-tu-ve-toi-pha-hoai-chinh-sach-oan-ket-10474.html tháng 05/2026.
5 Nguyễn Hoài Bão (2025), “Đắk Lắk: Đối tượng hoạt động Fulro bị tuyên phạt 9 năm tù giam”, Báo Nhân dân. Truy cập tại https://nhandan.vn/dak-lak-doi-tuong-hoat-dong-fulro-bi-tuyen-phat-9-nam-tu-giam- post882009.html tháng 05/2026.
6 Nguyễn Hoài Bão (2025), “Khởi tố, bắt tạm giam đối tượng phá hoại chính sách đại đoàn kết ở Đắk Lắk”, Báo Nhân dân. Truy cập tại https://nhandan.vn/khoi-to-bat-tam-giam-doi-tuong-pha-hoai-chinh-sach-dai-doan-ket-o- dak-lak-post913705.html tháng 05/2026.
7 Xem thêm: Thu Tâm, Hà Long (2025), “Vụ "Tịnh thất Bồng Lai": Phạt Lê Tùng Vân 3 năm tù về tội loạn luân”, Báo Người lao động. Truy cập tại https://nld.com.vn/vu-tinh-that-bong-lai-phat-le-tung-van-3-nam-tu-ve- toi-loan-luan-196250521114539856.htm tháng 05/2026.
Thực chất, đây là vụ án lợi dụng quyền tự do dân chủ, giả sư, trục lợi từ thiện và có những hành vi vi phạm đạo đức xã hội nghiêm trọng, gây bức xúc lớn trong quần chúng nhân dân. Việc xử lý các đối tượng này hoàn toàn là xử lý hành vi vi phạm pháp luật hình sự, không liên quan đến việc đàn áp đức tin hay tôn giáo.
Thực tế, pháp luật của bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào, kể cả Hoa Kỳ, đều không bao giờ dung túng cho việc mượn danh nghĩa tôn giáo để hoạt động chính trị cực đoan, gây rối trật tự công cộng và xâm phạm an ninh quốc gia.
Thứ tư, cá thể hóa hiện tượng và sử dụng thông tin một chiều từ các tổ chức bất hợp pháp, đối tượng cực đoan
Một đặc điểm cố hữu trong phương pháp thu thập dữ liệu của USCIRF là xu hướng cá thể hóa hiện tượng để suy diễn thành bản chất. Báo cáo liệt kê dày đặc một số vụ việc cá biệt, mang tính cục bộ tại một số địa bàn rồi khái quát hóa thành nhận định mang tính hệ thống rằng tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam là “ở mức kém”. Mặt khác, phương pháp thu thập dữ liệu của USCIRF bộc lộ sự thiếu khách quan nghiêm trọng khi phụ thuộc gần như hoàn toàn vào các báo cáo từ các tổ chức phản động, lưu vong hoặc các tổ chức phi chính phủ mang nặng định kiến chính trị. Việc USCIRF trích dẫn và sử dụng thông tin từ tổ chức “Người Thượng vì Công lý” (MSFJ) hay “Ủy ban Cứu người vượt biển” (BPSOS) – những tổ chức đã bị các cơ quan chức năng Việt Nam xác định có hành vi khủng bố, kích động bạo loạn vũ trang tại Đắk Lắk là thiếu khách quan.
Rõ ràng rằng, việc sử dụng các nguồn tin một chiều, không được kiểm chứng để đánh giá và đưa ra các khuyến nghị chính sách đối với một quốc gia độc lập là hành vi can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ và vi phạm các quy tắc ngoại giao quốc tế.
Thứ năm, phớt lờ những nỗ lực trong hoàn thiện chính sách và thực tiễn sinh động của đời sống tôn giáo tại Việt Nam
Bắc Bình (2025), “Vụ án ở Tịnh thất Bồng Lai: Lê Thanh Nhất Nguyên nhận thêm 9 năm tù”, Báo Thanh niên. Truy cập tại https://thanhnien.vn/vu-an-o-tinh-that-bong-lai-le-thanh-nhat-nguyen-nhan-them-9-nam-tu- 185250528143233396.htm tháng 05/2026.
Một hạn chế đáng chú ý của Báo cáo thường niên năm 2026 của USCIRF là chưa phản ánh đầy đủ những nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng như thực tiễn đời sống tôn giáo đang diễn ra đa dạng và sinh động hiện nay. Báo cáo cố tình lờ đi tiến trình hoàn thiện thể chế và các chính sách an sinh xã hội mới của Việt Nam, gần đây nhất như Thông báo số 81-TB/TW năm 2025 của Bộ Chính trị về đầu tư xây dựng hệ thống trường học cho các xã biên giới. Việc Nhà nước Việt Nam chăm lo nâng cao dân trí, đầu tư hạ tầng giáo dục cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số (DTTS) chính là nền tảng căn cơ nhất để người dân nhận thức và thực hiện đầy đủ quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo chính đáng.
Tóm lại, những sai lệch nêu trên trong Báo cáo Thường niên năm 2026 của USCIRF cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở nội dung đánh giá, mà sâu xa hơn là ở cách tiếp cận mang tính áp đặt. Khi tự do tôn giáo được nhìn nhận tách rời khỏi bối cảnh pháp lý, lịch sử và thực tiễn cụ thể của đất nước Việt Nam, các kết luận đưa ra chắc chắn sẽ bị méo mó, phiến diện. Để có một cái nhìn khách quan, cần đối chiếu trực tiếp các luận điệu này với hệ thống quan điểm, chính sách nhất quán và thực tiễn sinh động đời sống tôn giáo ở Việt Nam.
Quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam
Để đánh giá một cách khách quan vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam, cần đặt nó trong một bức tranh tổng thể bao gồm: quan điểm chính trị, hệ thống pháp luật và thực tiễn đời sống tôn giáo, trên cơ sở đó, vạch trần những đánh giá sai lệch, áp đặt từ bên ngoài.
Tôn giáo là nhu cầu tinh thần và là thành tố của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn xác định vấn đề dân tộc và tôn giáo là nhiệm vụ chiến lược gắn liền với sự nghiệp cách mạng. Tư tưởng này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ vào ngày 3/9/1945: “Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”.
Không dừng lại ở một lời tuyên bố chính trị, quan điểm này đã nhanh chóng được cụ thể hóa thành các quy định pháp luật của Nhà nước.
Tinh thần tôn trọng tự do tín ngưỡng đã được ghi nhận ngay trong bản Hiến pháp năm 1946 – bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay từ Lời nói đầu, Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Tiếp nối tinh thần đó, các bản Hiến pháp sau này, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 tiếp tục nâng tầm và khẳng định mạnh mẽ tại Điều 24: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.
Xuyên suốt các giai đoạn lịch sử, quan điểm cốt lõi của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam vẫn trước sau như một: Tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân, và đồng bào có đạo là một lực lượng quan trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là điểm khác biệt rất lớn so với cách nhìn nhận của phương Tây và các báo cáo từ bên ngoài – những nơi thường chỉ coi tôn giáo đơn thuần là “quyền cá nhân” biệt lập, mà phớt lờ đi tính gắn kết cộng đồng và trách nhiệm xã hội của tôn giáo.
Từ “quản lý, ổn định” đến “phát huy nguồn lực tôn giáo”
Nếu nhìn lại tiến trình lịch sử, chúng ta sẽ thấy tư duy của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tôn giáo luôn vận động và ngày càng hoàn thiện để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Giai đoạn trước Đổi mới (1986), trọng tâm là bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc và ổn định chính trị. Trong bối cảnh đất nước có chiến tranh và các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết, các quy định pháp luật thời kỳ này vừa khẳng định quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, vừa nhấn mạnh nguyên tắc không được lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật và làm tổn hại đến nền độc lập của Tổ quốc.
Giai đoạn từ Đổi mới đến nay, tư duy của Đảng đã có một bước chuyển mình, từ việc “quản lý để ổn định” sang “bảo đảm quyền và chủ động phát huy vai trò tích cực của tôn giáo”. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chỉ thị số 37- CT/TW năm 1998 của Bộ Chính trị lần đầu tiên Đảng chính thức nhấn mạnh việc tôn trọng và khuyến khích phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo1. Tư duy này ngày càng được nâng tầm và thể hiện rõ nhất trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) khi xác định rõ nhiệm vụ: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực xã hội của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo tham gia phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.”
Trên cơ sở đó, Nhà nước từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý, tôn giáo không còn dừng lại ở việc “cho phép” hay “bảo đảm” quyền một cách thụ động. Thay vào đó, Nhà nước đang chủ động khuyến khích, tạo điều kiện để các tôn giáo đem nguồn lực của mình (về từ thiện, y tế, giáo dục, đạo đức) đóng góp chung vào sự phát triển thịnh vượng của đất nước.
Từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý
Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trước những luận điệu xuyên tạc, chúng ta cần nhìn thẳng vào sự thật lịch sử và tiến trình pháp lý. Hệ thống pháp luật về tôn giáo của Việt Nam là một dòng chảy liên tục, được bồi đắp và hoàn thiện qua từng giai đoạn nhằm phù hợp với tình hình đất nước và các chuẩn mực pháp quyền hiện đại.
Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, nhưng bối cảnh tình hình an ninh còn phức tạp, các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng tôn giáo để chống
1 Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, NXB Lao động – xã hội, tr. 139.
phá chính quyền non trẻ, Hiến pháp năm đã 1980 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật, chính sách của Nhà nước”. So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1980 đã bổ sung thêm vế phòng ngừa việc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật. Đây là bước đi cần thiết của bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào để bảo vệ sự bình yên của nhân dân, chứ hoàn toàn không phải là “hạn chế” như các báo cáo phương Tây thường xuyên bóp méo. Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng chủ thể thụ hưởng quyền quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Đáng chú ý, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 là văn bản chuyên ngành đầu tiên quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tôn giáo, các nguyên tắc đăng ký hoạt động và trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước. Tiếp đến, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đánh dấu bước tiến trong việc xây dựng thể chế pháp luật về tôn giáo tại Việt Nam với việc đơn giản hóa các thủ tục đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức, phong phẩm chức sắc và các hoạt động quốc tế. Lần đầu tiên ghi nhận quyền của các tổ chức tôn giáo được tham gia vào các lĩnh vực an sinh xã hội như giáo dục, y tế, từ thiện. Tiếp nối tiến trình đó, ngày 23/4/2026, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2026 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2027), tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý theo hướng minh bạch, đồng bộ và phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Có thể nói, hành lang pháp lý về tôn giáo ở Việt Nam luôn nhất quán, minh bạch và không ngừng phát triển, tiệm cận với chuẩn chung của quốc tế. Những đánh giá phiến diện từ các báo cáo bên ngoài như của USCIRF rõ ràng đã cố tình lờ đi tiến trình pháp lý tiến bộ này để áp đặt những định kiến sai lệch về Việt Nam.
Thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam
Nếu chỉ nhìn nhận tự do tôn giáo qua các văn bản pháp lý hoặc một số trường hợp cá biệt, bức tranh sẽ không đầy đủ. Trên thực tế, đời sống tôn giáo ở Việt
Nam đang diễn ra đa dạng, ổn định và ngày càng phát triển. Những minh chứng dưới đây không chỉ phản ánh thành tựu bảo đảm quyền con người mà còn là cơ sở thực tiễn vững chắc để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước các báo cáo sai lệch.
Số liệu thực tế tình hình tôn giáo ở Việt Nam chính là bằng chứng xác đáng nhất phản bác luận điệu cho rằng Việt Nam “hạn chế” hay “đàn áp” tôn giáo. Việt Nam hiện là một quốc gia có đời sống tôn giáo phong phú với nhiều tôn giáo lớn cùng tồn tại, như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài,… Theo số liệu công bố chính thức, Nhà nước đã công nhận hàng chục tổ chức tôn giáo thuộc nhiều hệ phái khác nhau, với hàng chục triệu tín đồ. Tính đến năm 2025, Nhà nước Việt Nam đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 16 tôn giáo với 43 tổ chức tôn giáo, với hơn 95% dân số theo tín ngưỡng, tôn giáo và trên 27,7 triệu tín đồ1. Trong vòng 20 năm từ năm 2003 đến năm 2023, từ 6 tôn giáo với 16 tổ chức được công nhận đã tăng lên 16 tôn giáo với 43 tổ chức được công nhận hoặc cấp đăng ký hoạt động; số lượng tín đồ tăng trưởng hơn 10 triệu người, số lượng chức sắc tăng từ 34.200 lên hơn 54.500; đội ngũ chức việc cũng tăng mạnh từ gần 79.000 lên gần 145.000 người; cơ sở thờ tự tăng gần 9.000 cơ sở, từ hơn 20.900 lên 29.890 cơ sở2. Những con số tăng trưởng là minh chứng cho một môi trường tự do thực chất. Nếu có sự “đàn áp” hay “ngăn cản”, đời sống tôn giáo không thể có sự phát triển bứt phá và liên tục như vậy trong suốt hai thập kỷ qua. Tại Việt Nam không có tôn giáo độc tôn, mọi niềm tin tôn giáo dù ngoại nhập hay nội sinh đều được Nhà nước bảo hộ bình đẳng trước pháp luật, đập tan luận điệu về việc phân biệt đối xử giữa các tôn giáo. Rõ ràng, sự gia tăng đồng bộ từ con người đến hạ tầng đã khẳng định chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo không
1 Hạ Anh (2025), “Việt Nam có 16 tôn giáo, gần 28 triệu tín đồ”. Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Truy cập tại https://dangcongsan.org.vn/uybandantoc/tin-tuc-hoat-dong/viet-nam- co-16-ton-giao-gan-28-trieu-tin-do.html ngày 05/5/2026.
2 Hạ Anh (2025), “Việt Nam có 16 tôn giáo, gần 28 triệu tín đồ”. Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Truy cập tại https://dangcongsan.org.vn/uybandantoc/tin-tuc-hoat-dong/viet-nam-co-16- ton-giao-gan-28-trieu-tin-do.html ngày 05/5/2026.
chỉ nằm trên văn bản mà đã thực sự đi vào đời sống, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để người dân thực hành quyền tự do của mình.
Cùng với đó, các lễ hội tôn giáo lớn diễn ra thường niên với quy mô ngày càng mở rộng, quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng là những minh chứng rõ ràng phản bác lại những cáo buộc về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Hàng năm, có khoảng 8.500 lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo quy mô lớn nhỏ được tổ chức trên toàn quốc. Các sự kiện trọng đại của tôn giáo như Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc (Việt Nam đã đăng cai tổ chức thành công 3 lần), lễ Giáng sinh của Công giáo và Tin lành, đại lễ Hội yến Diêu Trì Cung của đạo Cao Đài, các ngày lễ trọng của đồng bào Chăm Hồi giáo, Phật giáo Hòa Hảo,… được tổ chức công khai, trang trọng, thu hút hàng triệu tín đồ và quần chúng nhân dân tham gia trong không khí hòa hợp, an lành mà không có bất kỳ sự can thiệp hay cản trở nào từ chính quyền. Sự thành công của 3 kỳ Đại lễ Vesak hay các hội nghị giám mục Á Châu tại Việt Nam cho thấy năng lực quản trị và sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế vào môi trường tôn giáo của Việt Nam. Điều này khẳng định rằng Nhà nước không hề “kiểm soát niềm tin” mà đang hỗ trợ tích cực để các tôn giáo phát triển và hội nhập toàn cầu.
Mặt khác, tính nhân văn trong chính sách tôn giáo của Việt Nam còn được thể hiện rõ nét qua việc bảo đảm quyền lợi cho các nhóm thiểu số mà báo cáo của USCIRF thường cố tình phớt lờ. Đối với đồng bào DTTS, Nhà nước không chỉ tôn trọng tín ngưỡng truyền thống mà còn tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển lành mạnh. Tính đến hết năm 2021, cả nước đã cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho hơn 3.300 điểm nhóm Tin lành tại khu vực Tây Nguyên và miền núi phía Bắc. Kinh sách tôn giáo hiện nay không chỉ dừng lại ở tiếng phổ thông mà đã được biên dịch và xuất bản bằng 13 thứ tiếng DTTS1, giúp đồng bào tiếp cận giáo lý bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Việc xuất bản kinh sách bằng 13 thứ tiếng dân tộc và cấp phép hàng ngàn điểm nhóm sinh hoạt tập trung là câu trả
1 Ban Tôn giáo Chính phủ (2022), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, NXB Tôn giáo.
lời đanh thép nhất cho cáo buộc “đàn áp tôn giáo”. Nhà nước Việt Nam không chỉ tôn trọng đức tin mà còn tạo mọi điều kiện để đồng bào tiếp cận tôn giáo bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người trong thực hành tôn giáo.
Bên cạnh đó, việc duy trì liên tục hoạt động đào tạo chức sắc và xuất bản kinh sách cũng góp phần khẳng định Nhà nước luôn quan tâm đến nhu cầu tâm linh bền vững và lâu dài của nhân dân. Đây chính là nền tảng “thế trận lòng dân” vững chắc, bảo vệ tư tưởng của Đảng trước các âm mưu lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ, bất ổn. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn hướng tới những người bị quản lý, giam giữ thể hiện tư duy tiến bộ, coi tự do tôn giáo là quyền cơ bản không bị giới hạn bởi tư cách công dân hay tình trạng pháp lý. Điều này phản ánh rõ nét bản chất ưu việt của chế độ ta: luôn tôn trọng và bảo vệ giá trị con người trong mọi hoàn cảnh.
Đáng chú ý, trong quan điểm và chính sách của Việt Nam, tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ được nhìn nhận như nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân, mà còn được xem là nguồn lực xã hội quan trọng phục vụ phát triển đất nước. Trên thực tế, các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam đã và đang tham gia tích cực vào công tác an sinh xã hội thông qua việc vận hành khoảng 500 cơ sở y tế từ thiện và gần 800 cơ sở bảo trợ xã hội, chăm sóc, nuôi dưỡng hàng vạn người có hoàn cảnh khó khăn1. Điều này cho thấy các giá trị đạo đức, nhân văn của tôn giáo đang được phát huy như một nguồn lực tích cực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là thực tiễn cho thấy tôn giáo ở Việt Nam không tồn tại trong thế đối lập với Nhà nước, mà đang đồng hành cùng sự phát triển của xã hội.
Thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cho thấy một bức tranh đa dạng, ổn định và vai trò tích cực của tôn giáo trong đời sống xã hội. Trong khi đó, các cáo buộc Việt Nam vi phạm về tự do tôn giáo lại khai thác các trường hợp một số trường hợp cá biệt bị xử lý nhưng chưa đặt các vụ việc này trong đầy đủ bối cảnh cụ thể. Trên thực tế, việc xử lý các vụ việc này không xuất phát từ niềm
1 Ban Tôn giáo Chính phủ (2022), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, NXB Tôn giáo.
tin tôn giáo mà từ các hành vi vi phạm pháp luật cụ thể hoặc lợi dụng tôn giáo để phục vụ mục đích khác và không mâu thuẫn với việc bảo đảm tự do tôn giáo, mà ngược lại, là điều kiện để quyền này được thực thi một cách ổn định và bền vững.
Kết luận
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mọi người có quyền theo hoặc không theo bất kỳ tôn giáo nào theo quy định của pháp luật và không ai được xâm phạm quyền đó. Quyền tự do cá nhân luôn phải đi đôi với trách nhiệm xã hội và không được làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác hay an ninh quốc gia. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, lại nằm trong tầm ngắm phá hoại của các thế lực thù địch. Vì vậy, việc giữ gìn sự cân bằng giữa “tự do tôn giáo” và “trật tự xã hội” là điều vô cùng cần thiết. Sự kết hợp hài hòa giữa việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng với quản lý bằng pháp luật và định hướng phát huy các giá trị tốt đẹp của tôn giáo đã tạo nên một mô hình phát triển ổn định, đặc thù của Việt Nam. Vì vậy, những báo cáo từ bên ngoài nếu cố tình lờ đi bức tranh tổng thể này sẽ chỉ đưa ra những nhận định méo mó, phiến diện và hoàn toàn xa rời thực tế.
Tài liệu tham khảo
Hạ Anh (2025), “Việt Nam có 16 tôn giáo, gần 28 triệu tín đồ”. Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Truy cập tại https://dangcongsan.org.vn/uybandantoc/tin-tuc-hoat-dong/viet-nam-co-16- ton-giao-gan-28-trieu-tin-do.html ngày 05/5/2026.
Ban biên tập (2025), “Tuyên phạt bị cáo Y Pŏ Mlô 07 năm 06 tháng tù về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết””, Trang thông tin điện tử Công an tỉnh Đắk Lắk. Truy cập tại https://congan.daklak.gov.vn/tin-tuc-su-kien/tuyen-phat-bi- cao-y-po-mlo-07-nam-06-thang-tu-ve-toi-pha-hoai-chinh-sach-oan-ket- 10474.html tháng 05/2026
Ban Tôn giáo Chính phủ (2022), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, NXB Tôn giáo.
Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, NXB Lao động – xã hội, tr. 139.
Bắc Bình (2025), “Vụ án ở Tịnh thất Bồng Lai: Lê Thanh Nhất Nguyên nhận thêm 9 năm tù”, Báo Thanh niên. Truy cập tại https://thanhnien.vn/vu-an-o- tinh-that-bong-lai-le-thanh-nhat-nguyen-nhan-them-9-nam-tu- 185250528143233396.htm tháng 05/2026.
Nguyễn Hoài Bão (2025), “Đắk Lắk: Đối tượng hoạt động Fulro bị tuyên phạt 9 năm tù giam”, Báo Nhân dân. Truy cập tại https://nhandan.vn/dak-lak-doi- tuong-hoat-dong-fulro-bi-tuyen-phat-9-nam-tu-giam-post882009.html tháng 05/2026.
Nguyễn Hoài Bão (2025), “Khởi tố, bắt tạm giam đối tượng phá hoại chính sách đại đoàn kết ở Đắk Lắk”, Báo Nhân dân. Truy cập tại https://nhandan.vn/khoi-to-bat-tam-giam-doi-tuong-pha-hoai-chinh-sach-dai- doan-ket-o-dak-lak-post913705.html tháng 05/2026
R'ô Hok (2025), “Gia Lai: Đối tượng phá hoại chính sách đoàn kết lãnh 7 năm tù”, Gia Lai Online. Truy cập tại https://baogialai.com.vn/gia-lai-doi-tuong- pha-hoai-chinh-sach-doan-ket-lanh-7-nam-tu-post313971.html tháng 05/2026.
Thu Tâm, Hà Long (2025), “Vụ "Tịnh thất Bồng Lai": Phạt Lê Tùng Vân 3 năm tù về tội loạn luân”, Báo Người lao động. Truy cập tại https://nld.com.vn/vu-tinh-that-bong-lai-phat-le-tung-van-3-nam-tu-ve-toi- loan-luan-196250521114539856.htm tháng 05/2026.
U.S. Commission on International Religious Freedom (2026), Annual Report 2026, Washington, D.C., March 2026.