Tuesday, May 5, 2026

NHẬN DIỆN CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH NHẰM CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia đặc trưng bởi sự đa dạng về dân tộc và tôn giáo. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, đây luôn là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng. Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm công cụ chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Do đó, việc nhận diện một cách hệ thống, chính xác các thủ đoạn này đóng vai trò trọng yếu, mang tính quyết định trong việc hoạch định các chủ trương, giải pháp phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn hiệu quả.

Từ khóa: dân tộc; tôn giáo; thủ đoạn chống phá; an ninh quốc gia.

1. Khái quát đặc điểm tình hình dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 dân tộc anh em, trong đó người Kinh chiếm đa số, cùng 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2019, quy mô 53 DTTS đạt hơn 14,1 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước[i]. Sự phân bố dân cư mang tính đan xen, không đồng đều: có 6 dân tộc quy mô trên 1 triệu người, trong khi 16 dân tộc có quy mô dưới 10.000 người (đặc biệt 5 dân tộc rất ít người, dưới 1.000 người). Đồng bào DTTS cư trú chủ yếu ở vùng miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa thuộc 51 tỉnh, thành phố và 382 xã biên giới trọng yếu. Tuy nhiên, cũng có một số dân tộc (Khmer, Chăm, Hoa) sinh sống tập trung tại các vùng đồng bằng và đô thị[ii].

Về phương diện tôn giáo, Việt Nam sở hữu đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú với khoảng hơn 90% dân số có thực hành tín ngưỡng, tôn giáo. Tính đến hết năm 2023, Nhà nước đã công nhận và cấp phép hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, quản lý 29.890 cơ sở thờ tự với lực lượng hùng hậu gồm 54.500 chức sắc và 145.000 chức việc. Tỷ lệ tín đồ các tôn giáo đạt hơn 27% dân số cả nước (khoảng 27,7 triệu người)[iii]. Nổi bật là Phật giáo (hơn 14,3 triệu tín đồ), Công giáo (hơn 7 triệu tín đồ), Tin lành (hơn 1,1 triệu tín đồ, tập trung mạnh ở Tây Nguyên, Tây Bắc), cùng các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo phát triển mạnh ở phía Nam, và Hồi giáo với tín đồ chủ yếu là đồng bào Chăm[iv].

2. Nhận diện các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước của các thế lực thù địch

Thực tiễn cho thấy, các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Đảng và Nhà nước đang diễn ra trên nhiều lĩnh vực, với phương thức ngày càng tinh vi, đa tầng và khó nhận diện hơn. Các thủ đoạn này được bộc lộ qua những diện mạo chủ yếu sau:

Thứ nhất, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thế lực thù địch khoét sâu vào những khác biệt về tâm lý, văn hóa tộc người và chênh lệch trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng miền, giữa dân tộc đa số và thiểu số. Thông qua việc khai thác các vấn đề nhạy cảm như lịch sử tộc người, tranh chấp đất đai, hay bảo tồn văn hóa, các đối tượng này kích động mâu thuẫn, lôi kéo đồng bào tụ tập đông người, gây rối trật tự công cộng nhằm phá vỡ từ bên trong khối đại đoàn kết dân tộc. Điển hình cho thủ đoạn này là vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân tại Cư Kuin, Đắk Lắk (6/2023), cho thấy tính chất nguy hiểm của âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để gây bất ổn từ bên trong. Các tổ chức phản động FULRO lưu vong đã núp dưới vỏ bọc “đòi quyền lợi”, lợi dụng vấn đề dân tộc để lừa phỉnh, kích động một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số tham gia bạo loạn vũ trang có tổ chức, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về người và an ninh, trật tự xã hội. Vụ việc không chỉ phơi bày rõ âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn chính trị – xã hội, mà còn là lời cảnh báo về yêu cầu phải chủ động nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn và vô hiệu hóa từ sớm, từ xa mọi âm mưu, thủ đoạn kích động, chia rẽ của các thế lực thù địch[v].

Thứ hai, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa đồng bào các dân tộc, tín đồ tôn giáo với hệ thống chính trị. Phương thức chủ đạo là xuyên tạc nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời bóp méo chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Chúng lợi dụng, thổi phồng những hạn chế cục bộ trong thực thi chính sách ở cơ sở để bôi nhọ cán bộ, làm suy giảm niềm tin của quần chúng, qua đó âm mưu vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng và chính quyền địa phương. Song song với đó là việc kích động đồng bào đòi các "yêu sách" đặc thù, kết hợp các hình thức tuyên truyền ngầm qua thăm thân, hoạt động từ thiện hoặc qua các phương tiện truyền thông bằng ngôn ngữ bản địa.

Thứ ba, kích động tư tưởng ly khai, đòi thành lập nhà nước và tôn giáo tự trị. Bằng việc đánh tráo khái niệm "quyền dân tộc tự quyết" trong luật pháp quốc tế với "quyền của người bản địa", các phần tử cực đoan và tổ chức lưu vong ráo riết kích động đồng bào đòi tự trị. Các tổ chức phản động như "Hội người Mông thế giới", "Quỹ người Thượng", "Liên đoàn Khmer Campuchia Krôm" liên tục tổ chức hội thảo, lợi dụng các diễn đàn quốc tế để vu cáo Việt Nam đàn áp nhân quyền, từ đó kêu gọi thành lập các quốc gia độc lập như "Vương quốc Mông", "Cộng hòa Đề ga"[vi].

Thứ tư, thiết lập lực lượng ngầm và hợp pháp hóa các tổ chức phản động tại địa bàn trọng điểm. Các thế lực thù địch đẩy mạnh mua chuộc, lôi kéo một bộ phận quần chúng vượt biên nhằm đào tạo lực lượng nòng cốt. Từ bên ngoài, chúng rót tài chính để nuôi dưỡng, chỉ đạo các hội nhóm phản động hoạt động ẩn danh dưới vỏ bọc bảo tồn văn hóa hoặc phát triển cộng đồng. Các đài phát thanh (VOKK, RFA) và mạng lưới internet được sử dụng tối đa để phát tán tài liệu xuyên tạc, âm mưu "quốc tế hóa" vấn đề nội bộ của Việt Nam[vii]. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, không gian mạng trở thành địa bàn trọng điểm để các thế lực thù địch thúc đẩy chiến lược ‘diễn biến hòa bình’ với phương thức mềm, phân tán và khó truy vết hơn. Chúng triệt để lợi dụng không gian mạng (các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube, TikTok...) như một công cụ đắc lực để tiến hành "diễn biến hòa bình". Thông qua việc lập các hội nhóm kín, phát tán tin giả, bịa đặt để thao túng tâm lý, chúng âm mưu móc nối, xây dựng và điều hành lực lượng ngầm ngay trong lòng quần chúng mà không cần phải tiếp xúc trực tiếp.

Thứ năm, lợi dụng hoạt động tôn giáo và tín ngưỡng lệch chuẩn tại vùng sâu, vùng xa. Thông qua việc truyền đạo trái phép, các đối tượng xấu truyền bá tư tưởng cực đoan, khuyến khích đồng bào từ bỏ phong tục truyền thống để theo tà đạo, đẩy quần chúng vào sự mê muội và phụ thuộc tâm linh. Tại các địa bàn chiến lược như Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, núp bóng các tổ chức phi chính phủ quốc tế hoặc hoạt động thiện nguyện, các thế lực thù địch tìm cách thâm nhập, nắm bắt địa bàn, kích động biểu tình, bạo loạn nhằm gây bất ổn an ninh khu vực biên giới[viii].

Thứ sáu, tiến hành thủ đoạn an ninh phi truyền thống gắn với thao túng kinh tế. Lợi dụng những khó khăn nội tại của đồng bào miền núi, các đối tượng thù địch núp bóng dự án đầu tư, hợp tác kinh doanh để phá hoại sinh kế, đẩy đồng bào vào tình cảnh khó khăn, nợ nần. Từ sự phụ thuộc về tài chính, chúng ép buộc quần chúng tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật, di cư trái phép. Đặc biệt, chúng nhắm vào các khu vực địa hình phức tạp, giao thoa về giao thông nhằm phá vỡ các khu vực phòng thủ trọng điểm và thế trận an ninh nhân dân[ix].

3. Giải pháp phòng, chống các thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam thời gian tới

 Nhằm chủ động ứng phó và đập tan mọi âm mưu chống phá, hệ thống chính trị cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp chiến lược sau:

Một là, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục. Tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo đến toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Nội dung và phương pháp truyền thông cần linh hoạt, bám sát trình độ nhận thức, văn hóa và tâm lý đồng bào từng vùng miền. Trọng tâm là phổ biến pháp luật, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, và vạch trần bản chất các thủ đoạn lừa gạt, chia rẽ của thế lực thù địch để nhân dân tự nâng cao "sức đề kháng", cảnh giác trước các thủ đoạn lôi kéo.

Hai là, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Thường xuyên giáo dục nhận thức về sức mạnh của khối đại đoàn kết trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Triển khai thực chất, hiệu quả các chính sách dân tộc, tôn giáo dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng và tương trợ. Kiên quyết bài trừ mọi biểu hiện kỳ thị, tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi. Cấp ủy, chính quyền địa phương phải chủ động dự báo tình hình, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia từ cơ sở.

Ba là, tập trung nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào. Ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, triển khai lồng ghép và đồng bộ 3 Chương trình mục tiêu quốc gia cốt lõi: (1) Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; (2) Giảm nghèo bền vững; và (3) Xây dựng nông thôn mới. Yêu cầu cấp bách là giải quyết căn cơ bài toán sinh kế, cấp đất sản xuất, xử lý dứt điểm các tranh chấp đất đai, không để tồn đọng tạo thành "điểm nóng". Kiên quyết xử lý nghiêm minh các cán bộ, công chức có hành vi nhũng nhiễu, vi phạm chính sách của Đảng và Nhà nước.

Bốn là, phát huy vai trò tổng hợp của hệ thống chính trị và uy tín của lực lượng cốt cán cơ sở. Tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của hệ thống chính trị cơ sở tại các vùng trọng yếu. Đẩy mạnh chính sách quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức là người DTTS, chức sắc tôn giáo tiến bộ, bởi đây là lực lượng nòng cốt mang lợi thế đặc thù trong công tác thực tiễn. Đổi mới phương thức dân vận theo nguyên tắc "chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, vững chắc".

        Năm là, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc gắn với phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc". Tích cực tranh thủ sự ủng hộ của các chức sắc, người có uy tín để lan tỏa thông tin tích cực, phản bác các luận điệu xuyên tạc. Đồng thời, cần chú trọng mở rộng không gian bảo vệ an ninh Tổ quốc lên môi trường mạng; hướng dẫn và phát huy vai trò của các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, người có uy tín tham gia quản lý, nhận diện và trực tiếp đấu tranh, phản bác các thông tin xấu độc, vạch trần âm mưu "diễn biến hòa bình" trên internet ngay từ cơ sở. Lực lượng chức năng cần chủ động nắm chắc tình hình, phát hiện và vô hiệu hóa từ sớm, từ xa mọi mưu đồ kích động bạo loạn, ly khai. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa tính nghiêm minh của pháp luật với chính sách khoan hồng, nhân đạo, tạo cơ hội phục thiện cho những người nhẹ dạ, cả tin tái hòa nhập cộng đồng./.

                                                                                                     TS. Hoàng Mạnh Tưởng

                                            Khoa Lãnh đạo học và Hành chính công - Học viện Chính trị khu vực II


[i] Tổng cục Thống kê (2020), Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Hà Nội.

[ii] Học viện Dân tộc (2019), Tài liệu bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, tr.5

[iii] Ban Tôn giáo Chính phủ (2023), Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội.

[iv] Hà Ngọc Anh (2020), Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr.62-65.

[v] Bộ Công an (2023), Thông tin chính thức về vụ án khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân xảy ra tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023.

[vi] Lê Xuân Trình (2017), “Vạch trần âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số”, Báo Biên phòng điện tử, , ngày 28/03/2017

[vii] Báo Nhân Dân điện tử (2026), “VOA, RFA vẫn tiếp tục chống phá Việt Nam”

[viii] https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/nhan-dien-va-phong-ngua-cac-thu-doan-loi-dung-ton-giao-chong-pha-viet-nam-hien-nay-712975

[ix] Học viện Dân tộc, Tài liệu bồi dưỡng kiến thức đối với cán bộ công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, Hà Nội, 2019, tr.149