Showing posts with label Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Show all posts

Thursday, August 6, 2026

Một số giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong kỷ nguyên mới

 Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo cùng với sự phát triển mạnh mẽ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang đứng trước những yêu cầu mới ngày càng cao. Sự bùng nổ của không gian mạng, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số không chỉ làm thay đổi phương thức truyền bá, tiếp nhận thông tin, mà còn làm gia tăng sự cạnh tranh giữa các hệ giá trị, các quan điểm tư tưởng. Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, kịp thời, có tính chiến đấu và sức thuyết phục cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.


Nhận diện âm mưu, chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch trong giai đoạn hiện nay

Tổng kết công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời gian qua, Đại hội XIV nhận định: “Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được triển khai quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả”(). Đại hội XIV của Đảng khẳng định, đất nước đang vững bước tiến vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, với yêu cầu phải tiếp tục: “…nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng(). Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là yêu cầu thường xuyên mà còn là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự ổn định chính trị, phát triển bền vững của đất nước. Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ mục tiêu chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, linh hoạt và mang tính “phi truyền thống”. Những thủ đoạn trên, xét đến cùng, đều hướng tới mục tiêu tạo “khoảng trống ý thức hệ”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ - một trong những nguy cơ mà Đảng ta đã nhiều lần cảnh báo. 

Thứ nhất, lợi dụng không gian mạng và công nghệ số để tiến hành chiến tranh thông tin, thao túng nhận thức xã hội.

Không gian mạng với đặc trưng mở, tốc độ lan truyền nhanh và khó kiểm soát đã trở thành “mặt trận chính” trong hoạt động chống phá. Các thế lực thù địch không chỉ dừng lại ở việc đăng tải thông tin sai lệch mà đã tổ chức các chiến dịch truyền thông có chủ đích, có kịch bản, nội dung rõ ràng. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ deepfake, công nghệ AI… cho phép chúng tạo ra khối lượng lớn nội dung giả mạo nhưng có vẻ ngoài chân thực, từ đó gây nhiễu loạn thông tin, làm suy giảm khả năng phân biệt đúng - sai của người tiếp nhận.

Đáng chú ý, các thông tin sai trái hiện nay thường được “ngụy trang” dưới dạng phân tích, bình luận, phản biện, thậm chí mang danh nghĩa khoa học hoặc chia sẻ cá nhân, khiến mức độ thâm nhập sâu hơn, khó nhận diện hơn. Đây là bước chuyển từ chống phá đơn giản sang thao túng nhận thức một cách tinh vi, có hệ thống, hướng tới việc từng bước làm thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá của một bộ phận xã hội về các vấn đề chính trị - xã hội.

Thứ hai, đẩy mạnh xuyên tạc nền tảng lý luận, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Một trong những trọng tâm chống phá của các thế lực thù địch là tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng, đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chúng cố tình bóp méo, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước sau 40 năm đổi mới, đồng thời tuyệt đối hóa những khó khăn, hạn chế mang tính cục bộ, nhất thời để quy kết thành bản chất của chế độ.

Thủ đoạn phổ biến là so sánh phiến diện giữa Việt Nam với một số quốc gia tư bản phát triển, từ đó tạo ra nhận thức sai lệch về mô hình phát triển, kích thích tâm lý hoài nghi, dao động. Các luận điệu như “chủ nghĩa xã hội đã lỗi thời”, “Việt Nam cần đi theo con đường khác” được lặp đi lặp lại nhằm từng bước làm suy giảm niềm tin vào con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Nguy hiểm hơn, các quan điểm này thường được trình bày dưới vỏ bọc “đa chiều”, “khách quan”, “phản biện chính sách”, khiến không ít người, đặc biệt là giới trẻ, dễ bị tác động nếu thiếu nền tảng lý luận vững chắc và khả năng nhận diện.

Thứ ba, thúc đẩy “diễn biến hòa bình” theo hướng tác động từ bên trong, khoét sâu mâu thuẫn, gây chia rẽ nội bộ.

Nếu như trước đây chiến lược “diễn biến hòa bình” chủ yếu dựa vào sức ép từ bên ngoài thì hiện nay đã chuyển mạnh sang hướng “tự diễn biến từ bên trong”. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tai trong quản lý, những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên để khuếch đại, xuyên tạc, quy chụp bản chất chế độ.

Chúng tập trung khai thác các vấn đề nhạy cảm, dễ gây bức xúc trong xã hội như đất đai, môi trường, an sinh xã hội… để kích động tâm lý bất mãn, tạo ra sự đối lập giữa Nhân dân với chính quyền, giữa các nhóm xã hội với nhau. Mục tiêu sâu xa là làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đáng lưu ý, các hoạt động này thường được tiến hành theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, không gây bùng nổ ngay lập tức nhưng tích tụ dần dần, lâu dài, làm xói mòn nhận thức, niềm tin một cách âm thầm nhưng rất nguy hiểm.

Thứ tư, lợi dụng chiêu bài “đa chiều”, “phản biện xã hội” để hợp thức hóa quan điểm sai trái. 

Trong điều kiện xã hội ngày càng dân chủ, nhu cầu tiếp cận thông tin và tham gia phản biện của người dân ngày càng cao, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng xu hướng này để “hợp pháp hóa” các quan điểm sai trái. Chúng núp bóng các diễn đàn trao đổi học thuật, các hội nhóm xã hội, thậm chí cả các tổ chức mang danh nghĩa nghiên cứu, để đưa ra những “kiến nghị”, “góp ý” nhưng thực chất là nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ tiêu cực.

Khác với trước đây, các luận điệu chống phá không còn mang tính cực đoan, đối đầu trực diện mà được “mềm hóa”, “trung tính hóa”, sử dụng ngôn ngữ có vẻ khách quan, khoa học, từ đó làm giảm cảnh giác của người tiếp nhận. Việc cố tình đánh tráo khái niệm giữa phản biện mang tính xây dựng với xuyên tạc, phủ nhận đã tạo ra sự nhập nhằng trong nhận thức, gây khó khăn cho công tác đấu tranh.

Thứ năm, các âm mưu của thế lực thù địch tuy không mới nhưng phương thức tổ chức ngày càng đa dạng, tinh vi và có mang tính hệ thống.

Một đặc điểm nổi bật trong bối cảnh hiện nay là các âm mưu chống phá về cơ bản không thay đổi về mục tiêu, song lại được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, ngày càng tinh vi và linh hoạt hơn. Nếu trước đây chủ yếu là những hoạt động rời rạc, thì nay đã hình thành các “hệ thống chống phá” với sự phối hợp giữa nhiều lực lượng, nhiều nền tảng, nhiều hình thức truyền tải thông tin.

Các nội dung sai trái thường được cắt ghép, xuyên tạc có chủ đích, pha trộn giữa đúng và sai, giữa thật và giả nhằm tăng độ tin cậy. Một số trường hợp còn được dàn dựng thành các “chiến dịch truyền thông” có tính toán kỹ lưỡng về thời điểm, nội dung và đối tượng tác động, tạo hiệu ứng lan truyền rộng rãi, đặc biệt là trước những sự kiện quan trọng của đất nước. Chính sự “cũ về mục tiêu nhưng mới về phương thức” này đã làm gia tăng đáng kể mức độ nguy hiểm, đòi hỏi công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải không ngừng đổi mới, nâng cao tính chủ động và hiệu quả.

Tổng thể, những thủ đoạn nêu trên, dù biểu hiện dưới hình thức nào, đều hướng tới mục tiêu chung là tạo ra “khoảng trống ý thức hệ”, làm suy giảm niềm tin, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ - một trong những nguy cơ lớn mà Đảng ta đã nhiều lần cảnh báo. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện đúng, đầy đủ và kịp thời các âm mưu, thủ đoạn chống phá không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là cơ sở quan trọng để đề ra các giải pháp đấu tranh hiệu quả, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Yêu cầu mới đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng trong giai đoạn hiện nay

“Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. Vai trò, nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ngày càng được đổi mới và nâng cao; nền tảng tư tưởng, lý luận được bổ sung, phát triển toàn diện”(). Bối cảnh hiện nay, với những biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, cùng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, đã và đang đặt ra những yêu cầu mới toàn diện, sâu sắc và cấp thiết hơn đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây không chỉ là nhiệm vụ mang tính thường xuyên mà còn là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân và bảo đảm định hướng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Thứ nhất, yêu cầu chuyển từ tư duy “ứng phó” sang “chủ động” kiến tạo và dẫn dắt dòng thông tin chủ lưu.

Trong điều kiện không gian mạng trở thành môi trường lan tỏa thông tin chủ yếu, công tác tư tưởng không thể chỉ dừng lại ở việc phát hiện, xử lý các thông tin sai trái mà phải đi trước một bước, chủ động xây dựng, định hướng và chiếm lĩnh trận địa thông tin. Điều đó đòi hỏi phải hình thành các dòng thông tin chính thống mạnh, có sức lan tỏa, có khả năng dẫn dắt dư luận xã hội, qua đó củng cố niềm tin và tạo sự đồng thuận. Tính kịp thời, tính chính xác và tính định hướng trở thành những tiêu chí quan trọng hàng đầu.

Thứ hai, yêu cầu gắn chặt bảo vệ nền tảng tư tưởng với xây dựng Đảng vững mạnh từ bên trong.

“Sức đề kháng” của hệ thống chính trị trước các quan điểm sai trái trước hết phụ thuộc vào chất lượng, bản lĩnh và uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng không thể tách rời nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức. Một tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với Nhân dân chính là “lá chắn” vững chắc nhất trước mọi âm mưu chống phá. Ngược lại, nếu nội bộ xuất hiện những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì đó sẽ là điểm yếu để các thế lực thù địch khai thác, xuyên tạc.

Thứ ba, yêu cầu nâng cao tính khoa học, tính thuyết phục và năng lực đối thoại của công tác tư tưởng. 

Trong điều kiện xã hội thông tin phát triển, người dân có nhiều kênh tiếp cận thông tin khác nhau, đòi hỏi công tác tư tưởng phải thay đổi cách thức truyền tải, thông tin, tuyên truyền đến các tầng lớp nhân dân. Bên cạnh những phương thức tuyên truyền, vận động truyền thống, các cơ quan thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn sinh động, tăng cường lý giải nhằm làm rõ bản chất vấn đề, tạo cơ sở quan trọng để phản bác các quan điểm sai trái của thế lực thù địch. Tính thuyết phục không chỉ đến từ nội dung đúng mà còn từ cách thức truyền đạt phù hợp, gần gũi và dễ tiếp nhận.

Thứ tư, yêu cầu kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa “xây” và “chống”.

Trong bối cảnh hiện nay, hai nhiệm vụ này càng phải được triển khai đồng bộ, hài hòa. “Xây” là củng cố nền tảng tư tưởng, lan tỏa giá trị tích cực, bồi đắp niềm tin, hình thành “sức đề kháng” từ bên trong xã hội. “Chống” là nhận diện, đấu tranh, phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn tác động tiêu cực. Nếu chỉ chú trọng “chống” mà thiếu “xây” thì khó tạo nền tảng bền vững; ngược lại, nếu chỉ “xây” mà buông lỏng “chống” thì sẽ tạo khoảng trống cho các thông tin xấu độc lan rộng.

Thứ năm, yêu cầu hiện đại hóa công tác tư tưởng gắn với chuyển đổi số và phát triển công nghệ.

Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số đang làm thay đổi căn bản cách thức sản xuất, phân phối và tiếp nhận thông tin. Công tác tư tưởng vì vậy phải được tổ chức lại theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ để nâng cao hiệu quả truyền thông, dự báo và xử lý thông tin. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ làm công tác tư tưởng có năng lực số, có khả năng hoạt động hiệu quả trong môi trường truyền thông mới.

Những giải pháp trọng tâm trong thời gian tới

Trước những yêu cầu ngày càng cao và những thách thức phức tạp trong bối cảnh mới, việc nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi hỏi phải được triển khai đồng bộ, toàn diện với những giải pháp mang tính chiến lược, lâu dài, đồng thời bảo đảm tính linh hoạt, kịp thời trong tổ chức thực hiện.

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, củng cố nền tảng tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Đây là giải pháp mang tính gốc rễ, có ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng “sức đề kháng” trước các quan điểm sai trái, thù địch. Trong điều kiện hiện nay, việc học tập, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung và phương thức, bảo đảm tính thiết thực, dễ tiếp cận và phù hợp với từng đối tượng. Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu: “Đổi mới nội dung, phương pháp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức lý luận chính trị, quản lý nhà nước cho cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cấp chiến lược và cấp xã”(). Đồng thời, “Đổi mới giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại”(). Do đó, các cấp ủy đảng, tổ chức cần khắc phục tình trạng học tập lý luận mang tính hình thức, thiếu chiều sâu; chuyển mạnh từ truyền đạt một chiều sang tăng cường trao đổi, thảo luận, gắn lý luận với thực tiễn. Đồng thời, chú trọng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, làm rõ hơn những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển đất nước, qua đó nâng cao tính thuyết phục của nền tảng tư tưởng. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ - lực lượng dễ bị tác động bởi các luồng thông tin đa chiều. Việc hình thành bản lĩnh chính trị, năng lực nhận diện thông tin sai trái ngay từ sớm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng lâu dài.

Thứ hai, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Thực tiễn cho thấy, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng không chỉ được củng cố bằng tuyên truyền mà quan trọng hơn là bằng hiệu quả hoạt động và phẩm chất của đội ngũ cán bộ. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng phải gắn chặt với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. “Nêu cao tinh thần tự giác, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên”(). Đặc biệt, phải đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, nhất là người đứng đầu, phải thực sự là tấm gương về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Chính sự gương mẫu, liêm chính và tận tụy sẽ là minh chứng thuyết phục nhất, góp phần vô hiệu hóa các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ. Cần tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đồng thời xử lý nghiêm các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng, chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, công tác tư tưởng cần chuyển đổi toàn diện theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp. Không chỉ dừng ở việc phản bác thông tin sai trái, mà phải chủ động tạo ra các sản phẩm thông tin chính thống có chất lượng cao, hấp dẫn, phù hợp với đặc điểm của từng nền tảng truyền thông. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng ứng dụng công nghệ số và truyền thông đa phương tiện”(). Cần xây dựng các kênh truyền thông đa dạng, linh hoạt, kết hợp giữa báo chí truyền thống và truyền thông số; chú trọng sử dụng các hình thức mới như video ngắn, đồ họa thông tin, nền tảng mạng xã hội… để nâng cao khả năng tiếp cận, đặc biệt đối với giới trẻ.

Đồng thời, cần hình thành lực lượng nòng cốt trên không gian mạng có đủ bản lĩnh, trình độ và kỹ năng để kịp thời đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái. Việc nắm bắt, dự báo, định hướng dư luận xã hội phải được thực hiện nhanh nhạy, chính xác, tránh để bị động, bất ngờ.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng tinh nhuệ, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu mới.

Con người là yếu tố quyết định hiệu quả của công tác tư tưởng. Do đó, cần đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ lý luận vững vàng, tư duy sắc bén, khả năng phân tích, phản biện tốt và am hiểu công nghệ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cần được đổi mới theo hướng thực chất, gắn với yêu cầu thực tiễn, chú trọng kỹ năng truyền thông, kỹ năng xử lý thông tin, kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng. Đồng thời, cần có cơ chế thu hút, đãi ngộ phù hợp để phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo trong lĩnh vực tư tưởng - lý luận. “Củng cố, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, tập trung quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, trọng dụng chuyên gia đầu ngành”(). Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, lực lượng trong hệ thống chính trị, hình thành sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường bảo đảm tư tưởng, an ninh mạng.

Trong điều kiện mới, bảo vệ nền tảng tư tưởng gắn chặt với bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý thông tin, truyền thông, bảo vệ an ninh mạng. Đồng thời, đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ, xây dựng các hệ thống giám sát, phân tích, xử lý thông tin hiện đại nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hoạt động chống phá. Việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong xử lý thông tin xấu, độc cần được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả, bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa.

Thứ sáu, phát huy vai trò của Nhân dân và toàn xã hội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Cần phát huy vai trò của Nhân dân trong việc giám sát, phản biện, tham gia đấu tranh với các thông tin sai trái, thù địch.

Việc củng cố niềm tin của Nhân dân phải được thực hiện bằng những kết quả cụ thể trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội. Khi Nhân dân tin tưởng, đồng thuận, thì mọi âm mưu chống phá sẽ khó có điều kiện để phát huy tác dụng.

Đồng thời, cần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đề cao các giá trị chân - thiện - mỹ, tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho xã hội, qua đó nâng cao “sức đề kháng” trước các luồng tư tưởng tiêu cực.

Thứ bảy, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố thực tiễn sinh động làm cơ sở vững chắc để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thực tiễn luôn là tiêu chuẩn cao nhất để kiểm nghiệm tính đúng đắn của lý luận. Do đó, việc triển khai thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc củng cố niềm tin của Nhân dân, qua đó tạo “lá chắn” vững chắc trước các âm mưu chống phá về tư tưởng. Các thế lực thù địch thường lợi dụng những hạn chế, khó khăn trong phát triển để xuyên tạc, bóp méo bản chất chế độ. Vì vậy, khi kinh tế, xã hội phát triển ổn định, đời sống Nhân dân được nâng cao, an sinh xã hội được bảo đảm, quốc phòng - an ninh được giữ vững, thì những luận điệu sai trái sẽ tự mất đi “đất sống”. Đây chính là phương thức đấu tranh hiệu quả, mang tính căn cơ, lâu dài, không chỉ phản bác bằng lý lẽ mà còn bằng những thành tựu thực tiễn rõ ràng, thuyết phục. Để làm được điều đó, cần tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Đồng thời, phải chú trọng giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc nảy sinh trong thực tiễn, không để tích tụ thành “điểm nóng” mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng.

Thứ tám, tiếp tục hoàn thiện quy định, hướng dẫn về những biểu hiện suy thoái, những điều đảng viên không được làm phù hợp với tình hình mới.

Việc tiếp tục hoàn thiện quy định, hướng dẫn về những biểu hiện suy thoái và những điều đảng viên không được làm là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch gia tăng chống phá trên không gian mạng và đời sống xã hội. Thường xuyên sơ kết, tổng kết việc thực hiện các quy định, kịp thời phát hiện những bất cập, khoảng trống để bổ sung, hoàn thiện. Việc này phải gắn với đánh giá thực chất tình hình suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ đó đề ra các giải pháp phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Hoàn thiện quy định về những biểu hiện suy thoái và những điều đảng viên không được làm không chỉ là yêu cầu nội tại của công tác xây dựng Đảng mà còn là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng trước Nhân dân. 

Thứ chín, tăng cường kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là giám sát thường xuyên tại các Chi bộ, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là giám sát thường xuyên tại chi bộ, không chỉ giúp phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm mà còn góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, có ý nghĩa then chốt trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trong giai đoạn hiện nay.

Những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố niềm tin của Nhân dân, mà còn tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Đảng đã đề ra. Trong đó, việc kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời không ngừng nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong điều kiện mới sẽ trực tiếp góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước./.


TƯ DUY TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, XUYÊN TẠC

 Tóm tắt: 

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác lập “tự chủ chiến lược” như một điểm nhấn mới trong tư duy phát triển quốc gia. Đây không chỉ là sự tiếp nối tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc và của Đảng, mà còn là bước nâng tầm về nhận thức trước một thế giới phân mảnh, cạnh tranh chiến lược gay gắt và rủi ro ngày càng đan xen. Bài viết làm rõ nội hàm, điểm mới và giá trị định hướng của tư duy tự chủ chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIV; đồng thời nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc vấn đề này. Từ đó khẳng định: bảo vệ, lan tỏa đúng đắn tư duy tự chủ chiến lược cũng chính là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ đường lối phát triển đất nước và lợi ích quốc gia – dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: tự chủ chiến lược; Đại hội XIV; bảo vệ nền tảng tư tưởng; phản bác quan điểm sai trái; lợi ích quốc gia – dân tộc

I. MỞ ĐẦU

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đời sống tinh thần và thực tiễn hành động của dân tộc Việt Nam. Từ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” đến “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, từ tư tưởng “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc” đến chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, lịch sử dân tộc cho thấy một quy luật bền vững: chỉ khi giữ vững quyền tự quyết, bồi đắp nội lực và biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đất nước mới có thể trường tồn và phát triển. Truyền thống ấy được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, phát triển thành đường lối độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong thời kỳ đổi mới.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, thế giới đang vận động với tốc độ nhanh, tính bất định lớn và độ phức tạp ngày càng cao. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt hơn; xu thế toàn cầu hóa tiếp tục diễn ra nhưng đồng thời đi kèm phân mảnh chuỗi cung ứng, cạnh tranh công nghệ, áp lực an ninh năng lượng, an ninh mạng, biến đổi khí hậu và nhiều rủi ro phi truyền thống khác. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với mỗi quốc gia không còn chỉ là “không lệ thuộc”, mà cao hơn là phải có năng lực chủ động lựa chọn con đường phát triển, chủ động thiết kế quan hệ đối ngoại, chủ động làm chủ những điều kiện căn bản bảo đảm cho sự phát triển dài hạn, chủ động ứng phó với các cú sốc từ bên ngoài.

Chính trong bối cảnh ấy, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã đưa ra một điểm nhấn mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc: tự chủ chiến lược. Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV nêu rõ một trong những quan điểm chỉ đạo là “phát huy tự chủ chiến lược, xác lập mô hình phát triển mới”; Báo cáo chính trị và Nghị quyết Đại hội XIV đồng thời xác định mục tiêu phát triển đất nước gắn với “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc”. Đây không phải là sự thay đổi ngôn từ đơn thuần, mà phản ánh bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về độc lập, tự chủ, hội nhập, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, cũng như nhiều vấn đề lý luận – chính trị khác, ngay khi được nêu ra, “tự chủ chiến lược” đã trở thành đối tượng bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm cách xuyên tạc. Chúng cố tình bóp méo rằng đây là biểu hiện của tư duy khép kín, biệt lập; hoặc ngược lại, quy chụp đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam là “đu dây”, “nước đôi”, “thiếu nhất quán”. Sâu xa hơn, mục đích của các luận điệu này là gây hoài nghi về năng lực hoạch định đường lối của Đảng, làm suy giảm niềm tin xã hội, từng bước phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Vì vậy, làm sáng tỏ nội hàm, điểm mới và giá trị của tư duy tự chủ chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIV, đồng thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc vấn đề này là yêu cầu vừa cấp thiết, vừa lâu dài. Đó không chỉ là công việc của lý luận, của báo chí, của đội ngũ làm công tác tư tưởng, mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

II. NỘI DUNG

1. Tư duy tự chủ chiến lược trong văn kiện đại hội XIV của đảng – nội hàm, điểm mới và giá trị định hướng

1.1. Tính tất yếu của xu thế tự chủ chiến lược hiện nay

Trong bối cảnh hiện nay, xu thế đề cao tự chủ chiến lược đang nổi lên ngày càng rõ nét và trở thành một lựa chọn quan trọng của nhiều quốc gia. Điều này bắt nguồn từ những chuyển biến sâu sắc, phức tạp và khó dự báo của tình hình thế giới, làm cho môi trường an ninh và phát triển quốc tế ngày càng tiềm ẩn nhiều bất định.

Trước hết, cục diện thế giới đang trải qua sự điều chỉnh lớn về tương quan lực lượng giữa các trung tâm quyền lực. Nếu những năm đầu thế kỷ XXI chứng kiến dấu hiệu suy giảm tương đối của Mỹ và phương Tây, thì cùng với đó là sự trỗi dậy mạnh mẽ của nhiều quốc gia khác, nổi bật là Trung Quốc, Ấn Độ và một số cường quốc khu vực. Sự thay đổi này làm cho trật tự quốc tế sau Chiến tranh lạnh vốn mang tính đơn cực dần chuyển sang trạng thái đa trung tâm, đa tầng nấc và phân tán hơn về quyền lực. Trong bối cảnh ấy, cạnh tranh ảnh hưởng, điều chỉnh chiến lược, tập hợp lực lượng và phân hóa lợi ích giữa các quốc gia ngày càng diễn ra sâu sắc, nhất là tại các khu vực có vị trí địa chiến lược quan trọng như châu Á - Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Đông Bắc Á, Đông Nam Á hay Biển Đông. Những biến động đó đặt ra cho các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, yêu cầu phải chủ động hơn trong việc xác định vị thế, bảo vệ lợi ích và mở rộng không gian phát triển của mình.

Thứ hai, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng cả về mức độ, phạm vi và tính chất. Nếu trước đây cạnh tranh chủ yếu thể hiện trên các lĩnh vực quân sự, chính trị hay ý thức hệ, thì hiện nay đã mở rộng sang kinh tế, công nghệ, năng lượng, chuỗi cung ứng, dữ liệu, tài chính và cả các chuẩn mực quản trị toàn cầu. Cuộc cạnh tranh này không chỉ diễn ra trực tiếp giữa các cường quốc mà còn tác động mạnh tới các quốc gia khác, làm cho môi trường quốc tế trở nên phức tạp, dễ biến động và khó dự báo hơn. Trong điều kiện đó, nhiều nước buộc phải điều chỉnh chiến lược phát triển và đối ngoại nhằm hạn chế sự lệ thuộc, nâng cao sức chống chịu, giảm thiểu rủi ro và giữ vững khả năng tự quyết trước sức ép ngày càng lớn từ bên ngoài.

Thứ ba, thế giới đang phải đối mặt với hàng loạt thách thức an ninh phi truyền thống có quy mô ngày càng rộng và mức độ tác động ngày càng sâu. Xung đột vũ trang cục bộ, khủng hoảng năng lượng, mất an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng, ô nhiễm môi trường và đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu đang tác động trực tiếp đến ổn định và phát triển của nhiều quốc gia. Đặc biệt, các vấn đề liên quan đến năng lượng, công nghệ, tài nguyên và an ninh biển ngày càng cho thấy tính liên kết chặt chẽ giữa an ninh và phát triển. Trong bối cảnh đó, quốc gia nào phụ thuộc quá lớn vào bên ngoài sẽ dễ rơi vào thế bị động trước các cú sốc toàn cầu. Ngược lại, quốc gia nào có năng lực tự chủ cao hơn sẽ có điều kiện tốt hơn để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, duy trì ổn định và chủ động định hình chiến lược phát triển lâu dài.

Từ những chuyển biến nêu trên có thể thấy, tự chủ chiến lược không phải là một lựa chọn mang tính tình thế, mà là một xu thế tất yếu trong bối cảnh thế giới hiện đại. Đó là yêu cầu khách quan đặt ra đối với các quốc gia muốn vừa hội nhập sâu rộng, vừa giữ vững bản lĩnh độc lập, chủ động ứng phó với biến động và nâng cao năng lực kiến tạo tương lai phát triển của mình.

1.2. Tư duy tự chủ chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIV

Trước hết cần khẳng định rằng tư duy tự chủ chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIV không xuất hiện từ khoảng trống, mà được hình thành trên nền tảng lịch sử – tư tưởng bền vững của dân tộc và của Đảng. Từ truyền thống yêu nước, ý thức chủ quyền, bản lĩnh không khuất phục trước cường quyền ngoại bang của cha ông, đến tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với tự do, hạnh phúc của nhân dân; từ yêu cầu “tinh thần độc lập tự chủ, ý thức tự lực, tự cường, kết hợp với mở rộng hợp tác quốc tế” mà Đại hội VII nêu ra, đến tư duy xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế từ Đại hội IX, nhận thức của Đảng đã phát triển từng bước theo hướng ngày càng toàn diện hơn. Cương lĩnh năm 2011 xác định rõ cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh “ý chí tự cường dân tộc”, “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, phát huy nội lực, nhất là nguồn lực con người và đổi mới sáng tạo. Trên nền tảng phát triển đó, Đại hội XIV đã nâng tầm nhận thức thành “tự chủ chiến lược” – một phạm trù vừa kế thừa, vừa mở rộng đáng kể chiều sâu của tư duy phát triển quốc gia.

Từ góc nhìn đó, tư duy tự chủ chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIV có thể được hiểu là năng lực tổng hợp của quốc gia trong việc giữ vững quyền tự quyết về đường lối phát triển, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, nâng cao nội lực và sức chống chịu, đồng thời chủ động mở rộng không gian phát triển trong điều kiện hội nhập sâu rộng. Ở đây, “tự chủ” không đối lập với “mở cửa”; “chiến lược” không chỉ gắn với đối ngoại hay quốc phòng, mà bao trùm cả tư duy kinh tế, khoa học – công nghệ, thể chế, văn hóa, con người và quản trị phát triển.

Nội hàm thứ nhất của tư duy tự chủ chiến lược là chủ động lựa chọn con đường phát triển. Điều đó có nghĩa là Việt Nam phải giữ vững quyền tự quyết về mô hình phát triển, ưu tiên phát triển, trình tự phát triển, cách thức phân bổ nguồn lực và thiết kế thể chế phát triển của mình. Không một sức ép bên ngoài nào có thể thay thế quyền tự quyết ấy. Tự chủ chiến lược trước hết là tự chủ về tư duy, tự chủ về đường lối, tự chủ trong xác định lợi ích cốt lõi và mục tiêu lâu dài của quốc gia. Đây chính là sự phát triển cao hơn của tư duy độc lập, tự chủ trước đây: không chỉ dừng ở “không bị lệ thuộc”, mà nhấn mạnh năng lực “tự định hình” và “tự dẫn dắt” quá trình phát triển. Nghị quyết Đại hội XIV cũng nhấn mạnh: “tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Như vậy, tự chủ chiến lược không chỉ là yêu cầu phòng vệ trước rủi ro lệ thuộc, mà còn là yêu cầu chủ động kiến tạo tương lai phát triển của quốc gia.

Nội hàm thứ hai là chủ động thiết kế và xử lý quan hệ đối ngoại. Tư duy tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với thu mình, càng không phải là đứng ngoài thế giới. Trái lại, nó đòi hỏi một trình độ đối ngoại cao hơn: chủ động tạo lập thế đan xen lợi ích, đa dạng hóa đối tác, mở rộng hợp tác nhưng không để đánh mất nguyên tắc và lợi ích quốc gia – dân tộc. Trong điều kiện cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, bản lĩnh của một quốc gia không thể hiện ở chỗ lệ thuộc vào bên này để đối phó bên kia, mà ở năng lực giữ vững độc lập, chủ động cân bằng, tranh thủ thời cơ, giảm thiểu rủi ro và không để bị cuốn vào vòng xoáy đối đầu. Vì thế, tự chủ chiến lược là điều kiện để đối ngoại độc lập, tự chủ được thực hiện ở trình độ cao hơn, linh hoạt hơn và hiệu quả hơn. Văn kiện Đại hội XIV xác định rõ phải “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại”, đồng thời “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc”.

Nội hàm thứ ba là chủ động làm chủ công nghệ, nguồn lực và những điều kiện phát triển cốt lõi. Một quốc gia muốn tự chủ chiến lược phải có nền tảng nội sinh đủ mạnh. Nội sinh ấy không chỉ là quy mô kinh tế hay nguồn lực vật chất, mà còn là chất lượng thể chế, trình độ khoa học – công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, sức mạnh văn hóa và khả năng huy động nguồn lực xã hội cho mục tiêu phát triển. Đại hội XIII đã nhấn mạnh mạnh mẽ vai trò của nguồn lực nội sinh, nhất là con người, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo; đến Đại hội XIV, tinh thần đó được nâng lên một nấc mới, đặt trong yêu cầu tự chủ chiến lược quốc gia. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “Đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế”, đồng thời khẳng định phải “Xác lập mô hình tăng trưởng mới… lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính”. Như vậy, vấn đề không chỉ là tăng trưởng cao, mà là tăng trưởng đủ độc lập, đủ bền vững và đủ sức chống chịu.

Nội hàm thứ tư là chủ động ứng phó với các cú sốc bên ngoài. Trong thế giới đương đại, cú sốc không còn chỉ đến từ chiến tranh hay khủng hoảng tài chính, mà còn đến từ dịch bệnh, thiên tai cực đoan, tấn công mạng, gián đoạn chuỗi cung ứng, xung đột năng lượng, cạnh tranh công nghệ, biến động địa chính trị và nhiều nhân tố phi truyền thống khác. Vì vậy, tự chủ chiến lược đòi hỏi quốc gia không chỉ có năng lực “thích ứng” mà còn phải có năng lực “kiến tạo”: dự báo sớm, chuẩn bị trước, nâng cao sức chống chịu và tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng ít bị tổn thương hơn. Chính vì vậy, Đại hội XIV yêu cầu phải “Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu”.

Từ góc nhìn lý luận và thực tiễn, tư duy tự chủ chiến lược có giá trị định hướng rất quan trọng. Về lý luận, nó bổ sung cho nhận thức của Đảng về độc lập, tự chủ trong bối cảnh mới, làm phong phú thêm lý luận về đường lối đổi mới, về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, giữa nội lực và ngoại lực, giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững. Về thực tiễn, nó là cơ sở định hướng cho hoạch định chính sách quốc gia: từ phát triển kinh tế tư nhân, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh đến đối ngoại, quốc phòng, an ninh, văn hóa và xây dựng con người. Quan trọng hơn, nó cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng đang được nâng lên phù hợp với những chuyển biến lớn của thời đại.

2. Nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc tư duy tự chủ chiến lược

2.1. Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc tư duy tự chủ chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Một điểm cần thẳng thắn nhìn nhận là: bất cứ quan điểm mới nào có ý nghĩa định hướng lớn trong Văn kiện Đảng đều có thể trở thành mục tiêu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Tư duy tự chủ chiến lược cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Các luận điệu sai trái, thù địch thường tập trung vào mấy hướng chủ yếu.

Một là, cố tình xuyên tạc rằng “tự chủ chiến lược” là biểu hiện của tư duy khép kín, xa rời xu thế toàn cầu hóa, quay lại với mô hình phát triển tự cô lập. Đây là một sự bóp méo có chủ ý. Bởi lẽ, toàn bộ đường lối của Đảng từ nhiều kỳ Đại hội liên tiếp đều nhất quán ở nguyên tắc: độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Cương lĩnh 2011 đã xác định phải thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Đại hội XIII tiếp tục khẳng định phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đại hội XIV nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” không phải để đóng cửa, mà để mở cửa một cách chủ động, có bản lĩnh và có lợi nhất cho lợi ích quốc gia – dân tộc. Vì vậy, quy kết “tự chủ chiến lược” là khép kín thực chất là đánh tráo khái niệm nhằm gây ngộ nhận trong xã hội.

Hai là, có quan điểm xuyên tạc rằng nhấn mạnh tự chủ chiến lược tức là thừa nhận hội nhập trước đây đã sai, hoặc cho thấy Việt Nam đang từ bỏ hội nhập. Luận điệu này cũng hoàn toàn vô căn cứ. Tự chủ chiến lược không phủ định hội nhập; trái lại, nó là điều kiện để hội nhập hiệu quả hơn, an toàn hơn và bền vững hơn. Một quốc gia không có nội lực, không có sức chống chịu, không có năng lực dự báo và điều chỉnh chiến lược thì càng hội nhập sâu càng dễ tổn thương. Do đó, nhấn mạnh tự chủ chiến lược chính là để nâng cao chất lượng hội nhập, tránh rơi vào phụ thuộc một chiều, phụ thuộc công nghệ, phụ thuộc thị trường hoặc phụ thuộc thể chế.

Ba là, các thế lực thù địch thường bóp méo đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam thành “đu dây”, “nước đôi”, “không dứt khoát”. Đây là kiểu xuyên tạc quen thuộc, đánh vào tâm lý thích quy giản, thích nhìn thế giới theo logic đối đầu “bên này – bên kia”. Nhưng đối ngoại của Việt Nam không vận hành theo logic phụ thuộc phe phái, mà theo logic lợi ích quốc gia – dân tộc, trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau. Đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế không phải biểu hiện của dao động, mà là sự chủ động của một quốc gia biết xử lý mềm dẻo, linh hoạt và principled trong thế giới nhiều biến động. Tự chủ chiến lược càng đòi hỏi bản lĩnh đó ở trình độ cao hơn.

Bốn là, có quan điểm phủ nhận năng lực lãnh đạo của Đảng, cho rằng “tự chủ chiến lược” chỉ là khẩu hiệu, không có nội dung thực chất, hoặc Việt Nam không đủ nguồn lực để theo đuổi mục tiêu này. Đây là thủ pháp phủ định sạch trơn. Thực tế cho thấy trong gần bốn thập niên đổi mới, chính nhờ đường lối đúng đắn của Đảng về độc lập, tự chủ gắn với hội nhập, phát huy nội lực gắn với tranh thủ ngoại lực, Việt Nam đã tạo dựng được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao. Thành tựu về giữ vững ổn định chính trị – xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao đời sống nhân dân, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển khoa học – công nghệ và củng cố quốc phòng – an ninh là những bằng chứng rõ ràng cho thấy tư duy chiến lược của Đảng có cơ sở thực tiễn vững chắc.

2.2. Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc tư duy tự chủ chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Để phản bác hiệu quả các luận điệu sai trái, cần đặt vấn đề trên cả ba bình diện: lý luận, thực tiễn và giá trị.

Về lý luận, trước hết phải khẳng định rằng tự chủ chiến lược là sự phát triển phù hợp quy luật của tư duy độc lập, tự chủ trong bối cảnh mới. Khi điều kiện lịch sử thay đổi, nội hàm của những phạm trù cốt lõi cũng phải được phát triển tương ứng. Nếu trong điều kiện chiến tranh, độc lập, tự chủ chủ yếu gắn với chủ quyền lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết, thì trong điều kiện hòa bình và hội nhập sâu rộng, độc lập, tự chủ phải bao hàm cả an ninh kinh tế, an ninh công nghệ, an ninh năng lượng, an ninh dữ liệu, an ninh xã hội và năng lực chống chịu trước rủi ro bên ngoài. Do đó, tự chủ chiến lược là sự kế thừa và phát triển nội dung độc lập, tự chủ, chứ không phải là sự xa rời hay phủ định nó.

Về mặt khái niệm, cần làm rõ rằng “tự chủ chiến lược” khác hoàn toàn với “tự cô lập”. Tự cô lập là đóng kín, thu mình, giảm tương tác với thế giới; còn tự chủ chiến lược là mở cửa nhưng giữ được chủ quyền lựa chọn, bảo vệ được lợi ích cốt lõi và không đánh mất khả năng tự định đoạt tương lai phát triển. Một nước càng mở cửa, càng cần tự chủ chiến lược để không rơi vào lệ thuộc. Đây là một nguyên lý có tính phổ quát đối với mọi quốc gia đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa biến động hiện nay.

Về thực tiễn, đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam đã được kiểm nghiệm bằng những kết quả thực tế. Việt Nam không chỉ giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, mà còn từng bước mở rộng quan hệ với nhiều đối tác trên thế giới, tham gia tích cực vào các cơ chế khu vực và toàn cầu, đồng thời nâng cao vai trò, uy tín quốc tế. Trong nhiều giai đoạn khó khăn của khu vực và thế giới, Việt Nam vẫn kiên trì nguyên tắc độc lập, tự chủ, không chọn bên để chống bên kia, mà chọn công lý, luật pháp quốc tế, hòa bình, hợp tác và phát triển. Chính bản lĩnh đó giúp Việt Nam tránh được nhiều rủi ro chiến lược và giữ được không gian phát triển tương đối ổn định.

Ở phương diện phát triển, thực tiễn cũng cho thấy bài toán lớn không còn là “có hội nhập hay không”, mà là “hội nhập bằng năng lực nào, trên nền tảng nào, với mức tự chủ nào”. Nếu không nâng cao nội lực công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực thể chế, năng suất quốc gia và sức chống chịu của nền kinh tế, quá trình hội nhập có thể tạo ra tăng trưởng nhưng đồng thời cũng làm gia tăng phụ thuộc. Vì vậy, Đại hội XIV nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” chính là để xử lý thấu đáo hơn mối quan hệ giữa hội nhập và độc lập, giữa phát triển và an ninh, giữa thời cơ và thách thức. Đây là nhận thức rất thực tế chứ không phải khẩu hiệu trừu tượng.

Về giá trị, cần thấy rõ rằng các quan điểm xuyên tạc tự chủ chiến lược rốt cuộc đều hướng tới việc hạ thấp bản lĩnh quốc gia, phủ nhận quyền tự quyết phát triển của dân tộc Việt Nam và làm suy yếu niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Nếu chấp nhận cách hiểu sai lệch rằng “hội nhập” là phải phụ thuộc hoặc “mở cửa” là phải buông bỏ nguyên tắc, thì thực chất là chấp nhận từ bỏ chính quyền tự chủ trong lựa chọn con đường phát triển. Đó là điều đi ngược với toàn bộ lịch sử dựng nước, giữ nước và đường lối cách mạng Việt Nam.

Cũng cần nhấn mạnh rằng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái về tự chủ chiến lược không chỉ là phản bác một vài câu chữ xuyên tạc, mà là bảo vệ một định hướng phát triển lớn của đất nước. Bởi lẽ, một khi điểm mới của Văn kiện Đại hội XIV bị hiểu sai, bị phủ nhận hoặc bị làm cho méo mó, thì hệ quả không chỉ dừng ở nhận thức lý luận, mà có thể ảnh hưởng tới sự thống nhất tư tưởng, sự đồng thuận xã hội và niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với đường lối của Đảng. Trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh, tốc độ lan truyền thông tin rất nhanh, tính chất “nhiễu loạn nhận thức” càng trở nên nguy hiểm nếu không có sự định hướng tư tưởng kịp thời, đúng đắn và thuyết phục.

Bởi vậy, phản bác phải đi liền với làm sáng tỏ; “chống” phải gắn chặt với “xây”. Chỉ khi nội hàm và giá trị của tư duy tự chủ chiến lược được luận giải rõ ràng, có cơ sở lý luận vững vàng và được minh chứng bằng thực tiễn phát triển đất nước, việc đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc mới có sức thuyết phục. Nói cách khác, phương thức phản bác hiệu quả nhất không phải chỉ là bác bỏ bằng mệnh đề đối nghịch, mà là trình bày đầy đủ, sâu sắc và có căn cứ bản chất đúng đắn của vấn đề.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ, lan tỏa tư duy tự chủ chiến lược và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Để bảo vệ và lan tỏa đúng đắn tư duy tự chủ chiến lược, đồng thời nâng cao hiệu quả phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.

Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, quán triệt sâu sắc nội dung mới của Văn kiện Đại hội XIV. Đây là khâu có ý nghĩa nền tảng. Muốn phản bác xuyên tạc hiệu quả, trước hết phải làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu đúng “tự chủ chiến lược” là gì, vì sao Đảng nêu ra vấn đề này, và nó có ý nghĩa thế nào đối với tương lai phát triển đất nước. Công tác tuyên truyền không nên chỉ dừng ở việc nhắc lại câu chữ của Văn kiện, mà cần luận giải ngắn gọn, mạch lạc, gắn với những vấn đề thực tiễn như phát triển khoa học – công nghệ, bảo đảm an ninh năng lượng, xây dựng nền kinh tế có sức chống chịu, chủ động trong đối ngoại, giữ vững chủ quyền và lợi ích quốc gia – dân tộc.

Thứ hai, nâng cao chất lượng đấu tranh tư tưởng, lý luận trên báo chí, xuất bản, giáo dục chính trị và không gian mạng. Những vấn đề mới như tự chủ chiến lược cần được giải thích bằng thứ ngôn ngữ vừa chuẩn xác về lý luận, vừa gần với công chúng. Đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, nhà khoa học, báo cáo viên, nhà báo, cán bộ tuyên giáo, cán bộ làm công tác thông tin đối ngoại cần chủ động nghiên cứu, xây dựng luận cứ phản bác có chiều sâu, tránh lối phản bác cảm tính, nặng khẩu hiệu. Khi luận điệu xuyên tạc ngày càng tinh vi, núp dưới vỏ bọc “phân tích khách quan” hoặc “góp ý học thuật”, thì phản bác càng phải sắc sảo, có chứng cứ, có lập luận và có khả năng thuyết phục.

Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. “Xây” là làm sáng rõ giá trị của tư duy tự chủ chiến lược, lan tỏa niềm tin vào đường lối của Đảng, củng cố nhận thức đúng đắn trong xã hội. “Chống” là chủ động nhận diện, vạch rõ bản chất, phương thức và mục đích của các luận điệu sai trái, thù địch. Hai mặt này không tách rời nhau. Nếu chỉ “chống” mà không “xây”, công chúng dễ rơi vào cảm giác nặng nề, khô cứng, thiếu căn cứ tích cực để tin tưởng. Ngược lại, nếu chỉ “xây” mà thiếu sự tỉnh táo trước xuyên tạc, khoảng trống thông tin có thể bị lấp đầy bởi tin giả, thông tin độc hại.

Thứ tư, phát huy vai trò của mỗi cán bộ, đảng viên và công dân trên không gian mạng. Trong thời đại số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không còn là công việc riêng của các cơ quan chuyên trách. Mỗi người sử dụng mạng xã hội đều có thể trở thành chủ thể lan tỏa thông tin tích cực hoặc vô tình trở thành mắt xích tiếp tay cho xuyên tạc nếu thiếu bản lĩnh, thiếu kỹ năng kiểm chứng. Vì vậy, cần đẩy mạnh giáo dục ý thức công dân số, nâng cao kỹ năng nhận diện thông tin sai lệch, củng cố “sức đề kháng” trước các luận điệu bóp méo về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ năm, quan trọng nhất, phải gắn việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV. Xét đến cùng, thành tựu thực tiễn là minh chứng thuyết phục nhất để phản bác các luận điệu xuyên tạc. Khi đất nước phát triển ổn định, nội lực được tăng cường, khoa học – công nghệ trở thành động lực mạnh mẽ hơn, quan hệ đối ngoại được mở rộng nhưng vẫn giữ vững độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia – dân tộc, thì bản thân thực tiễn ấy đã trả lời dứt khoát cho những ai cố tình bóp méo “tự chủ chiến lược”. Nói cách khác, càng cụ thể hóa hiệu quả tư duy tự chủ chiến lược trong chính sách và hành động, chúng ta càng củng cố sức sống của nó trong đời sống xã hội.

Thứ sáu, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về nội hàm lý luận và phương thức hiện thực hóa tự chủ chiến lược trong từng lĩnh vực. Đây là vấn đề mới, có tính chiến lược, nên cần được làm rõ thêm ở các phương diện: tự chủ chiến lược về kinh tế; tự chủ chiến lược về khoa học – công nghệ; tự chủ chiến lược về đối ngoại; tự chủ chiến lược về văn hóa; tự chủ chiến lược trong bảo đảm an ninh con người và phát triển bền vững. Càng được nghiên cứu sâu, tư duy này càng có cơ sở để đi vào đời sống chính sách và càng khó bị xuyên tạc, bóp méo.

III. KẾT LUẬN

Tự chủ chiến lược là một trong những điểm mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nổi bật của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Trên nền tảng truyền thống độc lập, tự lực, tự cường của dân tộc và sự phát triển nhất quán trong tư duy của Đảng qua các kỳ Đại hội, Đại hội XIV đã nâng tầm nhận thức về độc lập, tự chủ lên một trình độ mới: không chỉ giữ vững quyền tự quyết, mà còn chủ động định hình con đường phát triển, mở rộng không gian chiến lược, nâng cao nội lực và sức chống chịu của quốc gia trong một thế giới biến động sâu sắc.

Bởi vậy, xuyên tạc tư duy tự chủ chiến lược thực chất là xuyên tạc đường lối đúng đắn của Đảng về phát triển đất nước, về độc lập, tự chủ, về hội nhập quốc tế và về bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc. Các luận điệu cho rằng tự chủ chiến lược là khép kín, là biệt lập, là “đu dây”, là không khả thi, xét đến cùng, đều nhằm gây hoài nghi, làm suy giảm niềm tin xã hội và từng bước phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong tình hình hiện nay, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc tư duy tự chủ chiến lược không chỉ là yêu cầu của công tác tư tưởng – lý luận, mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng gắn với việc bảo vệ, lan tỏa giá trị và điểm mới của Văn kiện Đại hội XIV. Bảo vệ đúng đắn tư duy tự chủ chiến lược cũng chính là bảo vệ đường lối phát triển đất nước, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, bảo vệ bản lĩnh, niềm tin và khát vọng vươn lên của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.


















TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Văn kiện Đảng.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Cổng Thông tin điện tử Văn kiện Đảng.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Cổng Thông tin điện tử Văn kiện Đảng.

9. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

10. Bộ Tư pháp (2024), Từ Bản “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn về nguồn gốc, giá trị văn hóa – pháp lý trường tồn của dân tộc Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp.

11. Đỗ Minh Hùng, Phát huy tinh thần yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Cộng sản (2017) https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/42895/phat-huy-tinh-than-yeu-nuoc-theo-tu-tuong-ho-chi-minh-trong-giai-doan-hien-nay.aspx.

12. Nguyễn Trọng Thường, Tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế quốc gia, Tạp chí Cộng sản (2025), https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1167002/tu-chu-chien-luoc%2C-nang-cao-vi-the-quoc-gia.aspx.

13. PGS.TS Dương Trung Ý, Đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào thực tiễn cuộc sống, Tạp chí Cộng sản (2026a),  https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/dua-tinh-than-moi-cua-van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-vao-thuc-tien-cuoc-song.

14. Trịnh Văn Quyết, Chuyên đề “Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng”, Báo Nhân dân điện tử,   https://nhandan.vn/special/Motsovandemoi_cotloi_va_kinhnghiem_40namdoimoi_trong_vankien_DaihoiXIV_cua_Dang/index.html

15. Hà Phương, Những giải pháp đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống, Tạp chí Cộng sản (2026), https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/1213002/nhung-giai-phap-dua-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang-vao-cuoc-song.aspx.

16. Hà Phương, Bế mạc Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Cộng sản (2026) https://www.tapchicongsan.org.vn/en_US/web/guest/quan-triet-va-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang/-/2018/1209603/view_content.

17. Nghiêm Thị Thanh Thúy – TS Vũ Thái Hoàng, Kinh nghiệm tự chủ chiến lược của một số quốc gia trên thế giới và hàm ý chính sách đối với Việt Nam, Tạp chí Cộng Sản điện tử, số ra ngày 27/2/2024, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/894702/kinh-nghiem-tu-chu-chien-luoc-cua-mot-so-quoc-gia-tren-the-gioi-va-ham-y-chinh-sach-doi-voi-viet-nam.aspx