Showing posts with label Nhà nước và pháp luật. Show all posts
Showing posts with label Nhà nước và pháp luật. Show all posts

Sunday, March 15, 2026

CHUNG TAY XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VỮNG MẠNH THÔNG QUA BẦU CỬ

 

Bầu cử đại biểu Quốc hội Việt Nam và Hội đồng nhân dân các cấp là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước. Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp lựa chọn những người tiêu biểu, có phẩm chất đạo đức, năng lực và uy tín để đại diện cho ý chí, nguyện vọng của người dân trong các cơ quan quyền lực nhà nước.

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nguyên tắc này được khẳng định trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua các cơ quan đại diện do mình bầu ra, trong đó có Quốc hội Việt Nam và Hội đồng nhân dân các cấp. Các cơ quan này có vai trò quan trọng trong việc ban hành pháp luật, quyết định các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Chính vì vậy, mỗi lá phiếu của cử tri đều mang ý nghĩa rất lớn. Khi tham gia bầu cử, cử tri không chỉ thực hiện quyền lợi của mình mà còn thể hiện trách nhiệm đối với đất nước. Việc lựa chọn đúng đại biểu sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, từ đó thúc đẩy sự phát triển của địa phương và của cả quốc gia. Để cuộc bầu cử đạt hiệu quả, mỗi cử tri cần tìm hiểu kỹ thông tin về các ứng cử viên trước khi bỏ phiếu. Việc lựa chọn đại biểu cần dựa trên các tiêu chí như phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và khả năng đại diện cho lợi ích của nhân dân. Những đại biểu được bầu phải là những người thực sự tiêu biểu, có khả năng lắng nghe ý kiến của cử tri và tích cực đóng góp vào quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách và pháp luật. Bên cạnh đó, sau khi các đại biểu được bầu, nhân dân cũng cần tiếp tục phát huy vai trò giám sát thông qua các hoạt động tiếp xúc cử tri và phản ánh ý kiến của mình đối với các vấn đề của đời sống xã hội. Sự tham gia tích cực của nhân dân sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Có thể khẳng định rằng bầu cử là một trong những hình thức quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Khi mỗi công dân tích cực tham gia bầu cử và sáng suốt lựa chọn những đại biểu xứng đáng, bộ máy nhà nước sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh và hoạt động hiệu quả hơn. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để xây dựng một Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

PGS, TS. Nguyễn Hoàng Phương - Học Viện Chính trị Khu vực II


Saturday, March 14, 2026

BẦU CỬ QUỐC HỘI – LÁ PHIẾU CỦA NIỀM TIN VÀ HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG DÂN TỘC


Lịch sử của Quốc hội Việt Nam là một bản anh hùng ca về ý chí độc lập, tự chủ và khát vọng tự do mãnh liệt của dân tộc. Mỗi lá phiếu mà người dân Việt Nam cầm trên tay qua các thời kỳ không đơn thuần chỉ là một tờ giấy, mà là sự kết tinh của máu xương, của lòng yêu nước và niềm tin sắt son vào con đường dân chủ của nước nhà. Nhìn lại hành trình 80 năm kể từ ngày Tổng tuyển cử đầu tiên, chúng ta không khỏi tự hào về một thiết chế đại diện cao nhất của nhân dân luôn đồng hành cùng vận mệnh đất nước, từ những ngày ngàn cân treo sợi tóc đến kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ hôm nay.

Sự khởi đầu của nền dân chủ Việt Nam được đánh dấu bằng mốc son chói lọi vào ngày 6 tháng 1 năm 1946. Trong bối cảnh chính quyền cách mạng non trẻ vừa ra đời đã phải đối mặt với muôn vàn thử thách từ nạn đói, nạn dốt đến thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có quyết sách thiên tài là tổ chức Tổng tuyển cử để khẳng định tính chính danh của Nhà nước Việt Nam mới. Lời kêu gọi của Người: Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn đã khơi dậy ý thức trách nhiệm công dân một cách sâu sắc. Tại miền Nam, dưới bom đạn ác liệt của thực dân Pháp, cử tri vẫn bất chấp nguy hiểm để đi bỏ phiếu, thậm chí có những nơi phải đổi bằng máu để bảo vệ hòm phiếu. Kết quả 89% cử tri đi bầu và sự ra đời của 333 đại biểu Quốc hội Khóa I là lời khẳng định đanh thép với thế giới về quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.

Tiếp sau những ngày đầu lập nước, Quốc hội Việt Nam đã trải qua những năm tháng kháng chiến trường kỳ và gian khổ. Các kỳ bầu cử Khóa II, III, IV và V được tổ chức trong điều kiện miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Dù trong khói lửa chiến tranh, quyền làm chủ của nhân dân vẫn luôn được tôn trọng với tỷ lệ cử tri đi bầu luôn duy trì ở mức cao kỷ lục, thường trên 97%. Đặc biệt, hình ảnh các đại biểu miền Nam lưu nhiệm trong Quốc hội miền Bắc là biểu tượng không thể lay chuyển của khát vọng thống nhất non sông, khẳng định một chân lý: Nhân dân hai miền Nam - Bắc là con một nhà”.

Mốc son chói lọi tiếp theo chính là cuộc Tổng tuyển cử ngày 25 tháng 4 năm 1976 – kỳ bầu cử đầu tiên của nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất. Sau đại thắng mùa Xuân 1975, hơn 23 triệu cử tri từ địa đầu Móng Cái đến chót mũi Cà Mau đã nô nức làm nghĩa vụ công dân với tư thế của người làm chủ hoàn toàn đất nước. Tại Sài Gòn và các tỉnh phía Nam, không khí ngày hội non sông diễn ra vô cùng náo nức, đánh dấu bước thắng lợi quyết định trên con đường thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Quốc hội Khóa VI ra đời đã đưa ra những quyết định lịch sử: đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đặt tên Thành phố Hồ Chí Minh, chính thức mở ra một chương mới cho dân tộc.

Bước vào thời kỳ Đổi mới từ năm 1986, Quốc hội Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Các bản Hiến pháp năm 1992 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 đã hiến định những giá trị dân chủ mới, đề cao quyền con người và quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân. Hoạt động của Quốc hội ngày càng trở nên minh bạch và thực chất hơn với những phiên chất vấn sôi nổi, truyền hình trực tiếp để cử tri cả nước cùng giám sát. Niềm tin của nhân dân vào lá phiếu ngày càng được củng cố khi họ thấy được những người đại diện do mình bầu ra đang thực sự trăn trở và quyết sách những vấn đề đại sự của quốc gia.

Gần đây nhất, cuộc bầu cử Quốc hội Khóa XV vào năm 2021 diễn ra trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bùng phát đã trở thành một minh chứng hào hùng cho sức mạnh của lòng dân. Dù đối mặt với hiểm họa dịch bệnh, tỷ lệ cử tri đi bầu vẫn đạt con số kỷ lục 99,60%, gửi đi thông điệp mạnh mẽ về sự ổn định chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân. Quốc hội Khóa XV đã chứng tỏ bản lĩnh khi tổ chức nhiều kỳ họp bất thường nhất trong lịch sử để kịp thời ban hành những chính sách đặc thù, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và nhân dân. Những lá phiếu trong đại dịch không chỉ là sự lựa chọn người đại diện, mà còn là cam kết của mỗi công dân đồng hành cùng Đảng và Nhà nước vượt qua nghịch cảnh.

Hướng tới ngày 15 tháng 3 năm 2026, cuộc bầu cử Quốc hội Khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đang đến gần, mang theo kỳ vọng về một bước đột phá trong kỷ nguyên số. Đây là sự kiện kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên, một cột mốc nhắc nhở chúng ta về truyền thống dân chủ quý báu của dân tộc. Với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại, việc ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và VNeID sẽ giúp quy trình bầu cử trở nên thuận tiện, minh bạch và chính xác hơn bao giờ hết, đảm bảo quyền lợi cho hơn 78 triệu cử tri trên khắp mọi miền Tổ quốc. Tổng Bí thư Tô Lâm đã xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là dịp để toàn dân thể hiện khát vọng vươn mình của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Mỗi công dân Việt Nam hôm nay cần nhận thức sâu sắc rằng, đi bầu cử không chỉ là thực hiện một quyền lợi pháp lý mà là thực thi một trách nhiệm thiêng liêng với Tổ quốc. Lá phiếu của chúng ta chính là viên gạch xây dựng nên bộ máy nhà nước pháp quyền vững mạnh, là công cụ để cử tri gửi gắm niềm tin và kỳ vọng vào những đại biểu đủ đức, đủ tài. Là thế hệ tiếp nối cha ông, chúng ta không được phép để những câu chuyện cảm động của các bậc tiền bối, những người đã đi bầu giữa bom đạn hay những cụ già gần 100 tuổi vẫn hăng hái tự tay bỏ phiếu, trở nên xa vời, lạc điệu trong đời sống mới, mà chúng ta hãy để mỗi lá phiếu là một lời cam kết về sự dấn thân và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tương lai của chính mình và của cả dân tộc.

Sức mạnh của Việt Nam nằm ở sự đồng thuận và đoàn kết. Khi mỗi người dân đều ý thức được giá trị của lá phiếu, chúng ta đang trực tiếp tham gia vào việc hoạch định những chính sách lớn về kinh tế, giáo dục, y tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước. Sự thành công của mỗi kỳ bầu cử chính là thắng lợi của nhân dân, khẳng định bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế. Hãy cùng nhau biến ngày bầu cử sắp tới thành một ngày hội non sông thực sự, nơi mỗi cử tri đều tự hào thốt lên rằng mình là người làm chủ đất nước, là người kiến tạo nên kỷ nguyên hùng cường và thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam.

Hành trình 80 năm lịch sử đã chứng minh một chân lý giản dị nhưng sâu sắc: khi lòng dân đã thuận, khi mỗi lá phiếu đều mang theo hơi thở của thực tiễn và khát vọng của nhân dân, thì không khó khăn nào có thể cản bước dân tộc Việt Nam đi đến vinh quang. Hãy trân trọng quyền thiêng liêng ấy, hãy để mỗi lá phiếu trở thành ngọn lửa sưởi ấm niềm tin và khát vọng vươn tầm thế giới của một Việt Nam độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó chính là cách chúng ta tri ân quá khứ, trân trọng hiện tại và mở lối cho tương lai rạng rỡ của muôn đời con cháu mai sau.

                                  
                            PGS. TS. Võ Hữu Phước - Học viện Chính trị khu vực II

Monday, April 3, 2023

THỂ CHẾ HÓA MỐI QUAN HỆ “ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ

 

Nguyễn Bá Dương

QĐND - Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là phương thức vận hành của hệ thống chính trị ở nước ta. Lần đầu tiên, tại Đại hội VI (1986), Đảng ta khẳng định: "Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội".

Kể từ đó đến nay, sự vận hành của cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ ngày càng được cụ thể hóa và hoạt động hiệu quả, thể hiện rõ tính ưu việt mối quan hệ Đảng-Nhà nước-Nhân dân trong chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Kế thừa kinh nghiệm và kết quả 30 năm thực hiện đường lối đổi mới; trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Văn kiện và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng khẳng định: Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, nhất là nội dung “nhân dân làm chủ” và phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát"; coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu để đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống.

Trước hết, về Đảng lãnh đạo: Nhất quán với quan điểm, chủ trương, đường lối mà Đảng ta đã nêu ra qua các kỳ đại hội, tại Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Đảng lãnh đạo là yếu tố tiên quyết bảo đảm sự vận hành của cơ chế, làm cho cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ đạt hiệu quả, thực sự đi vào cuộc sống. Sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội và cách mạng Việt Nam là vấn đề có tính nguyên tắc. Đây là quy luật khách quan, không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được. Bởi lẽ, sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam đã được nhân dân thừa nhận từ sự kiểm nghiệm của thực tiễn lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đem lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Ảnh minh họa / qdnd.vn 

Để Đảng ta hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đáp ứng sự kỳ vọng, mong muốn của nhân dân, Đảng phải “đoàn kết, đổi mới, dân chủ, trí tuệ, kỷ cương”, có đường lối lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt; có biện pháp nhân lên sức mạnh nội sinh, phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thời đại; tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân làm chủ xã hội và phát huy tốt vai trò quản lý của Nhà nước ngay từng địa phương, cơ sở. Cùng với đó, Đảng phải đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống nguy cơ thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Không để đất nước bị động, bất ngờ. Điều đó chỉ có thể thực hiện tốt khi cơ chế vận hành: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ được tiếp tục phát huy cao nhất; trong đó, Đảng phải thật sự là nhân tố lãnh đạo có trí tuệ, là đạo đức, là văn minh. Đại hội XII của Đảng nêu rõ nhiệm vụ và giải pháp trên 15 vấn đề lớn, trong đó “đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” được xác định là: “Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân về những quyết định của mình”.

Thứ hai, về Nhà nước quản lý: Đây là yếu tố quyết định trực tiếp sự thành công, tính hiệu quả trong vận hành cơ chế. Đại hội XII chỉ rõ: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam; một mặt, Đảng đề cao vị trí, vai trò tối thượng của Hiến pháp, pháp luật đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Mặt khác, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội thông qua cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, bởi nó được thể chế hóa qua hoạt động của Nhà nước; đặc biệt là thông qua công tác tổ chức cán bộ, Đảng thống nhất lãnh đạo, quản lý công tác này của cả hệ thống chính trị, trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và làm cho bộ máy Nhà nước hoạt động có hiệu quả nhất. Điều đó là hoàn toàn phù hợp với điều kiện nước ta, được khẳng định trong Điều lệ Đảng và hiến định trong Hiến pháp năm 2013. Bởi lẽ, Đảng ta là đảng cầm quyền, là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị. Khâu then chốt có ý nghĩa quyết định làm cho cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ vận hành thông suốt, có hiệu quả là Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức và đạo đức, gắn bó máu thịt với nhân dân vì nhân dân là yếu tố trung tâm của mọi quyền lực, là cội nguồn sức mạnh, bí quyết của mọi thành công. Vì vậy, mọi biểu hiện xa dân, coi thường dân, ức hiếp dân, gây phiền phức cho dân... đều làm cho Đảng tự suy yếu, lỏng lẻo, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ bị phá vỡ. 

Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, Nhà nước mạnh thì Đảng cầm quyền mới mạnh; Nhà nước vững mạnh thì quyền làm chủ của nhân dân mới được bảo đảm và phát huy cao nhất. Nhà nước và hoạt động của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở ngày càng nhận được sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân thì hiệu quả hoạt động của Nhà nước ngày càng cao, xã hội càng dân chủ; mục tiêu, lý tưởng của Đảng mới được thực hiện. Vì vậy, để tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện”. Đây là một trong những giải pháp nhằm thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân ngay từ địa phương.

Thứ ba, về nhân dân làm chủ: Đây là yếu tố trung tâm của cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Tầm quan trọng đặc biệt của yếu tố này biểu hiện ở chỗ: Quyền lực của Đảng và Nhà nước đều từ quyền lực của nhân dân. Trong lịch sử Việt Nam, ông cha ta luôn đề cao và đặt lên hàng đầu vai trò của nhân dân trong cấu tạo quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội. Đảng ta ra đời, tồn tại, phát triển không vì mục đích tự thân mà vì hạnh phúc của nhân dân. Điều này được thể hiện nhất quán hơn 86 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, từ quan điểm lý luận đến thực tiễn cuộc sống. Vì vậy, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Mục đích duy nhất của Đảng ta là đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, đồng bào được sống trong tự do, ấm no, hạnh phúc. Nhờ vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn phát huy được sức mạnh của nhân dân để tiến hành đấu tranh giành và giữ vững độc lập, tự do và tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, trong thực tế, có lúc, có nơi vai trò làm chủ của nhân dân vẫn còn mờ nhạt. Ở một số nơi, quyền làm chủ của nhân dân vẫn bị vi phạm... Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ, có lúc, có nơi chưa phát huy được vai trò, sức mạnh của nhân dân” và “Quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm. Có lúc, có nơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế, hoặc mang tính hình thức”. Đây chính là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta cần phải nghiên cứu, giải quyết, nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò làm chủ của nhân dân trong thời kỳ mới.

Wednesday, February 1, 2023

NHÀ NƯỚC TA LÀ NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN

 

Hà Nguyên Cát

Trước hết, phải khẳng định ngay rằng: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân (GCCN) với giai cấp nông dân (GCND) và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”1. Vấn đề đó đã được ghi rõ ở Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (1992). Nhà nước mà nhân dân ta đang xây dựng là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn phát triển của cách mạng Việt Nam.

Trong lịch sử nhân loại, đến nay đã tồn tại 04 kiểu nhà nước: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản và Nhà nước XHCN. Sự thay thế các kiểu nhà nước là “quá trình lịch sử - tự nhiên”, do sự chi phối trước hết và chủ yếu bởi quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng của xã hội. Trong xã hội có giai cấp, sự ra đời, thay thế các kiểu nhà nước phải thông qua cuộc đấu tranh giai cấp, đỉnh cao là cách mạng xã hội. V.I. Lê-nin đã nhấn mạnh: chính quyền là vấn đề căn bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Nhà nước XHCN ra đời, tồn tại và phát triển là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giữa GCCN và nhân dân lao động với giai cấp thống trị, bóc lột, đỉnh cao là cách mạng vô sản.

Đối với Việt Nam, để giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm con đường cứu nước và mô hình nhà nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành được độc lập. Trong cuộc hành trình lịch sử đó, Hồ Chí Minh đã khảo sát các mô hình nhà nước trên thế giới, điển hình là nhà nước tư sản Mỹ và Pháp. Người phát hiện ra, đằng sau khẩu hiệu đầy hoa mỹ, tốt đẹp về các quyền tự do,

bình đẳng, bác ái và quyền mưu cầu hạnh phúc được ghi đậm trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ (1776) và trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1791), thực chất chỉ là giả hiệu. Xã hội TBCN là xã hội mà ở đó sự bất bình đẳng, nghèo đói, phân biệt chủng tộc và biết bao sự tàn bạo, bất công khác đang hằng ngày, hằng giờ đè nặng lên vai giai cấp cần lao. Người kết luận: đó là những cuộc cách mệnh không đến nơi, bởi ở đó chính quyền vẫn ở trong tay một số ít người; vì thế, “cách mệnh  thành công đã trên 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”2. Khi đến nước Nga (1923), Người nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về Cách mạng Tháng Mười và mô hình Nhà nước Xô Viết - một mô hình nhà nước kiểu mới: “...phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền,... ra sức tổ chức kinh tế mới để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng”3. Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga và mô hình Nhà nước Xô Viết để từng bước nghiên cứu, xác lập mô hình về một kiểu nhà nước tương lai - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sẽ được thiết lập sau khi cách mạng Việt Nam thành công.

Monday, May 9, 2022

HIỂU ĐÚNG VỀ BẢN CHẤT CỦA CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM

 Nguyễn Vĩnh Thắng

Một trong những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" được Nghị quyết Trung ương khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ ra là “cổ xúy cho tư tưởng dân chủ cực đoan”. Một nguyên nhân dẫn đến biểu hiện ấy là hiểu không đúng về bản chất chế độ dân chủ của ta. Đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện sai trái và những nhận thức lệch lạc ấy là việc làm không thể xem nhẹ trong tình hình hiện nay.

Ảnh minh họa. Nguồn: baodatviet.vn

Sinh thời, vận dụng lý luận Mác-Lênin về dân chủ vào điều kiện cụ thể của nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết, bài nói về vấn đề dân chủ, về xây dựng nền dân chủ nhân dân ở nước ta. Trong đó, đã thể hiện nhất quán, sâu sắc, toàn diện những tư tưởng của Người về dân chủ, về bản chất của chế độ dân chủ, về xây dựng nền dân chủ ở nước ta. Người coi “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân"(1) và Người đã gắn chặt độc lập dân tộc với dân chủ, với tự do, hạnh phúc của nhân dân. Người nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2).

Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân phải được thể hiện ở địa vị làm chủ, quyền được làm chủ và quyền lợi của nhân dân trong nền dân chủ nhân dân. Hồ Chí Minh cho rằng, “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”(3). “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(4).

Dân chủ nghĩa là mọi lợi ích về vật chất và tinh thần mà Đảng và Nhà nước đem lại phải phục vụ cuộc sống của nhân dân. Dân là chủ còn được thể hiện trong quyền hạn của nhân dân. Dân là người có quyền hạn và trách nhiệm trong công cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dân là người cử ra chính quyền, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương. Địa vị và quyền lợi của nhân dân trong nền dân chủ nhân dân phải được bảo đảm trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội và phải được thể hiện ở mọi tầng lớp nhân dân, công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ và ở các dân tộc, tôn giáo… Muốn bảo đảm địa vị và quyền lợi của nhân dân, muốn nhân dân thực sự được dân chủ và được làm chủ thì phải chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.