Monday, June 8, 2026
Thursday, January 8, 2026
Monday, December 8, 2025
Tuesday, November 4, 2025
Wednesday, July 2, 2025
Wednesday, May 7, 2025
Monday, March 10, 2025
Monday, December 2, 2024
Friday, October 4, 2024
Monday, August 5, 2024
Wednesday, May 1, 2024
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA TRONG CƯƠNG LĨNH 2011 VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN NAY
ThS. Trương Văn Khanh
Bàn về chủ nghĩa tư
bản (CNTB) ngày nay là một trong những nội dung được Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đề cập tới.
Với vai trò là nền tảng lý luận, tư tưởng và chính trị, Cương lĩnh định hướng
cho việc xem xét, đánh giá về CNTB hiện đại, qua đó thấy được đằng sau sự phát
triển của CNTB đương đại là những mặt trái và bản chất của phương thức sản xuất
này.
Các nhà kinh điển C.Mác và Ph.Ăngghen khi phân tích về CNTB đã chỉ ra: từ khi mới ra đời, CNTB đã cho thấy tính ưu việt của nó. Đó là một bước tiến vĩ đại về phía trước trên con đường phát triển của xã hội loài người. Nó giải phóng lực lượng sản xuất khỏi “gông xiềng” trói buộc của quan hệ sản xuất cũ, tạo ra khả năng to lớn để phát triển nền sản xuất xã hội. Nó mở đường thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đưa con người tiến tới những thành tựu vĩ đại mà toàn bộ sự phát triển của lịch sử loài người hàng nghìn năm trước đó chưa bao giờ có. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN) đóng vai trò công cụ lịch sử làm cho tiến trình văn minh công nghiệp thay thế văn minh nông nghiệp, đã có tác dụng tiến bộ to lớn. Nhưng CNTB không phải là hình thái xã hội vĩnh hằng, khi nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội hóa sẽ bị hình thái xã hội thích ứng với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất mới thay thế. Sự phát triển của đại công nghiệp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất TBCN sẽ phát triển nhanh chóng, tuy nhiên không thể biết được lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ nào, với công nghệ gì thì sẽ chín muồi để xóa bỏ phương thức sản xuất TBCN. Tuy vậy, với bản chất của CNTB là bóc lột giá trị thặng dư, theo đuổi lợi nhuận cao là tác nhân kinh tế chủ yếu dẫn đến sự khẳng định và phủ định chính CNTB. Chủ nghĩa tư bản làm cho lực lượng sản xuất phát triển cao chưa từng thấy trong lịch sử, song quá trình đó không tránh khỏi những khuyết tật như khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát… Sự phát triển của các mâu thuẫn đối kháng trong xã hội là tất yếu và đây là tiền đề cho một cuộc cách mạng mới ra đời.
Monday, March 4, 2024
Monday, January 1, 2024
PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY ĐÃ THAY ĐỔI BẢN CHẤT?
Trịnh Xuân Việt
Trong thời gian
qua, cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, xã hội
loài người đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với một loạt các
công nghệ tự động hóa hiện đại.
Lợi dụng vấn đề
này, một số phần tử lớn tiếng rêu rao rằng: chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về
chất nhờ việc ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ vào trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo đó, trong phương thức sản xuất tư bản ngày
nay không còn hiện tượng người bóc lột người, xã hội tư bản là xã hội tiến bộ
nhất trong lịch sự nhân loại mà loài người cần hướng đến.
Thực ra, những
giọng điệu tuyên truyền đó vẫn không có gì mới và xa lạ đối với chúng ta. Về
bản chất chúng vẫn theo những lối mòn cũ muốn phủ định giá trị vĩnh hằng của
chủ nghĩa Mác - Lênin, và tạo cảm giác mơ hồ cho những người cộng sản trong
cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng.
Nhìn nhận về
vấn đề này, Đảng ta khi bàn về chủ nghĩa tư bản ngày nay, đã khẳng định “Hiện
tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một
chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa
tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng
sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải
quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội
vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc
đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư
bản.”[1] Những nhận định trên của Đảng ta được dựa trên một nền tảng vững chắc
là chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời xuất phát từ tình hình thực tiễn phát triển
của chủ nghĩa tư bản để Đảng đưa ra những đánh giá hết sức khoa học về chủ nghĩa
tư bản trong giai đoạn hiện nay.
Các nhà kinh điển C.Mác và Ăng ghen khi phân tích về chủ nghĩa tư bản đã chỉ ra: từ khi mới ra đời, chủ nghĩa tư bản đã cho con người thấy tính ưu việt của nó. Theo C.Mác, Ăng ghen, đó là một bước tiến vĩ đại về phía trước trên những con đường phát triển của xã hội loài người. Nhưng chủ nghĩa tư bản không phải là hình thái xã hội vĩnh hằng, khi nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội hóa thì sẽ bị hình thái xã hội thích ứng được với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất mới thay thế. Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen, nghiên cứu CNTB từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độc quyền, Lênin đã chỉ ra bản chất kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Trên cơ sở nghiên cứu chủ nghĩa tư bản độc quyền, Lênin còn khẳng định sự phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Theo cách nói của Lênin, hiện nay trong chủ nghĩa tư bản khuynh hướng “phát triển vô cùng nhanh” nổi trội hơn so với khuynh hướng ngừng trệ, thối nát vốn có của nó. Lênin cũng chỉ ra, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước vẫn còn nhiều tiền năng phát triển, song đó là sự phát triển trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản và tiềm năng phát triển đó không phải là vô hạn[2]. Càng phát triển, mâu thuẫn càng sâu sắc phức tạp.
Monday, October 2, 2023
NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI
Khoa Lý luận chính trị - Đại học Duy Tân
Xét về mặt
lịch sử CNTB được hình thành từ thế kỷ 15, 16 được đánh dấu bằng cuộc cách mạng
tư sản Anh và đến thế kỷ XVII, XVIII thì khẳng định rõ vai trò của phương
thức sản xuất TBCN. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX thế giới nổ ra cuộc cách
mạng kỹ thuật lần lần thứ nhất, lao động chân tay được thay thế bằng máy móc.
Vì vậy, năng suất lao động tăng cao, làm cho LLSX phát triển nhanh chóng trong
khi quan hệ sản xuất vẫn dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất. Do đó, mâu thuẫn trong phương thức sản xuất TBCN có dấu hiệu
bùng nổ mạnh mẽ. Vì vậy, bắt buộc CNTB phải có sự thay đổi trong quan hệ sản
xuất sao cho phù hợp với lực lượng sản xuất. Do đó, CNTB chuyển từ tự do cạnh
tranh sang giai đoạn mới – CNTB độc quyền.
Trong giai
đoạn độc quyền, CNTB có những biểu hiện mới như: độc quyền, độc quyền nhà nước,
độc quyền xuyên quốc gia. Vì vậy người ta gọi chung giai đoạn mới này là CNTB
độc quyền hay CNTB hiện đại để phân biệt với giai đoạn tự do cạnh tranh.
Tuesday, August 1, 2023
LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC CỦA LÊNIN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC
CỦA LÊNIN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
|
VI.Lênin – Lãnh tụ
thiên tài của giai cấp vô sản Nga và toàn thế giới (Ảnh Internet) |
(ĐCSVN)- Nhân kỷ niệm 140 năm ngày sinh của VI. Lênin (22.4.1870 –
22.4.2010), chúng ta lại nhớ về kho tàng di sản lý luận mác-xít của Người,
trong đó có lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước (CNTBNN) là một bộ phận quan
trọng trong toàn bộ hệ thống lý luận về chính sách kinh tế mới (New Economy
Policy - NEP) đã được Lênin đề ra và trực tiếp chỉ đạo vào công cuộc xây dựng
CNXH ở nước Nga Xô viết đầu những năm 20 thế kỷ XX. Lý luận này nhiều năm qua
đã và đang được vận dụng vào thực tiễn nước ta.
Lý
luận về CNTBNN của Lênin và sự vận dụng ở nước Nga Xô viết
Từ
cuối năm 1917, ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, chính quyền Xô
viết được thành lập, Lênin – Nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước đó đã có những
tư tưởng đầu tiên về sử dụng thành phần kinh tế TBCN như là một hình thức kinh
tế đặc thù của thời kỳ quá độ lên CNXH. Tuy nhiên, khi ấy quan niệm của Người
về việc sử dụng CNTBNN còn ở những nét phác thảo và mang nặng tính chất là một
biện pháp chính trị nhằm củng cố sự độc quyền nhà nước trong lưu thông hàng
hoá, đặc biệt trong việc chống đầu cơ lúa mì của bọn địa chủ, culắc và thương
nhân tư bản bấy giờ. Tiếc rằng, do những diễn biến phức tạp của tình hình nước
Nga Xô viết những năm 1918-1920, đã buộc Nhà nước Xô viết phải thực hiện chính
sách cộng sản thời chiến, tiến hành quốc hữu
hoá ngay những tài sản, tư liệu sản xuất quan trọng nhất của bọn tư bản độc
quyền, đại địa chủ và các thế lực phản động, chống phá cách mạng khác. Những
hành động đó là kịp thời và đúng đắn với tình
hình bấy giờ song cũng vì đó đã làm hạn chế các khả năng sử dụng CNTBNN, điều mà trước đó Lênin đã từng dự liệu.
Tháng
3/1921, sau khi nội chiến kết thúc, tại Đại hội X Đảng Cộng sản (b) Nga với
việc đề ra chính sách kinh tế mới (NEP), Lênin đã chỉ
rõ trong những điều kiện mới này, việc sử dụng những hình thức kinh tế
quá độ của CNTBNN là một bộ phận rất quan trọng của chính sách này. Thời kỳ
chính sách cộng sản thời chiến đã kết thúc, giờ đây với việc thực thi NEP thì
CNTBNN là một trong những hình thức rất thích hợp để giúp nước Nga Xô viết
nhanh chóng khắc phục tình trạng suy sụp kinh tế sau chiến tranh và ngăn chặn
những nảy sinh tự phát của nền sản xuất hàng hoá nhỏ - mầm mống của sự phục hồi
CNTB. Sở dĩ CNTBNN dưới điều kiện chuyên chính vô sản có ý nghĩa quan trọng và
tác dụng to lớn như vậy vì như định nghĩa của Lênin - đó là một thứ CNTB có
liên quan với nhà nước. Nhà nước đó là nhà nước của giai cấp vô sản, là đội
tiền phong của chúng ta. Thông qua
việc sử dụng CNTBNN, giai cấp vô sản có thể học tập, kế thừa và phát huy có
chọn lọc tất cả những tài sản vật chất - kỹ thuật và tinh hoa chất xám trong
kinh nghiệm sản xuất kinh doanh của các nhà tư bản cũng như tri thức khoa học -
kỹ thuật và trình độ khoa học quản lý kinh tế của các chuyên gia tư sản. Nhà
nước vô sản có thể sử dụng CNTBNN như là một hệ thống các chính sách, công cụ,
biện pháp nhằm điều tiết mọi hoạt động của các xí
nghiệp tư bản còn tồn tại trong thời kỳ quá độ, nhằm hướng tới mục đích vừa sử
dụng vừa cải tạo bằng phương pháp hoà bình đối với các thành phần kinh tế TBCN
và sản xuất nhỏ. Với ý nghĩa đó, CNTBNN còn có thể coi là một trong những
phương thức, phương tiện, con đường có hiệu quả trong việc thúc đẩy xã hội hoá
và làm tăng nhanh lực lượng sản xuất của CNXH mà kết quả căn bản của sự xã hội
hoá này là thể hiện bởi việc phát triển ngày càng mạnh mẽ một nền sản xuất hàng
hoá quá độ XHCN - giai đoạn trung gian của nền sản xuất hàng hoá XHCN trong
tương lai.
Thursday, May 4, 2023
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
Nguyễn Hoàng Giáp
TCCS
- Chủ nghĩa tư bản thực hiện được một bước phát triển thì cũng tạo ra những gì
không dung được với chính nó. Từ góc nhìn này, chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa
thực sự là "chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa tư bản", là "chủ
nghĩa tư bản hướng tới hậu tư bản, phi tư bản".
Chủ
nghĩa tư bản độc quyền quốc tế
Từ
đầu thập niên 80 thế kỷ XX đến nay, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của xu thế
toàn cầu hóa thúc đẩy chủ nghĩa tư bản hiện đại chuyển sang giai đoạn độc quyền
quốc tế (độc quyền xuyên quốc gia). Nó triệt để tận dụng ưu thế về thực lực mọi
mặt nhằm bành trướng thế lực trên quy mô toàn cầu với mục đích cố hữu là thu
lợi nhuận độc quyền cao. Thực tế cho thấy, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi
nhuận trong các nước tư bản phát triển là 300%, cá biệt có những nơi lên tới
700% - 800%. Do đó về thực chất, "nhà nước phúc lợi", "chủ nghĩa
tư bản nhân dân", "chủ nghĩa tư bản xã hội"... không phải là
biện pháp đổi mới triệt để chất lượng cuộc sống người lao động, xóa bỏ nghèo
khổ, mà là để duy trì sự nghèo khổ trong trật tự. Xã hội tư bản hiện đại luôn
có từ 15% - 20% dân cư nghèo khổ, cho dù chính phủ luôn tuyên bố "tấn
công" vào nghèo đói. Đây là một mô hình cơ cấu tự nhiên của xã hội tư bản
chứ không phải là điều nhất thời. Chương trình phúc lợi không phải để giảm
nghèo túng mà để chịu được cảnh nghèo túng(1).
Trào
lưu chủ nghĩa tự do mới ra đời (các đại diện tiêu biểu là R. Ri-gân và M.
Thát-chơ), trở thành căn cứ lý luận để chủ nghĩa tư bản (CNTB) lũng đoạn quốc
tế bành trướng ra toàn cầu. Sự bùng nổ mạng lưới các công ty xuyên quốc gia và
internet làm cho thị trường toàn cầu trở thành công xưởng toàn cầu, tạo cơ sở
vật chất to lớn để CNTB thực hiện tham vọng lũng đoạn, khống chế toàn cầu. Chủ
trương cơ bản của chủ nghĩa tự do mới là tư nhân hóa mạnh mẽ tất cả những gì tư
nhân làm có lợi hơn là chính phủ làm; giảm thuế, tài trợ kích thích tư nhân đầu
tư; giảm mạnh chi tiêu phúc lợi xã hội, tạo điều kiện tăng lợi nhuận cho giới
tư nhân kinh doanh. Qua đó, đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ mới, tạo ra sự
nhảy vọt của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức ở
các nước tư bản phát triển. Sự bành trướng của CNTB độc quyền quốc tế ra phạm
vi toàn cầu càng được đẩy mạnh sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan vỡ. Khái
niệm chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa xuất hiện để chỉ sự phát triển CNTB trong
điều kiện toàn cầu hóa và nó được biểu hiện trên các mặt chủ yếu sau:
Thứ
nhất, làn
sóng tư bản hóa lan khắp toàn cầu, đẩy chủ nghĩa tư bản chuyển nhanh sang giai
đoạn lũng đoạn quốc tế và toàn cầu.
Thứ
hai, kinh tế thị trường
hóa lan ra toàn cầu, các nước phương Tây ra sức hoàn thiện cơ chế kinh tế thị
trường, các nước khác đua nhau xác lập nền kinh tế thị trường.
Thứ
ba, trong tiến trình
tự do hóa kinh tế thì tự do hóa tài chính được chú ý nhất, trở thành đòn bẩy để
tư bản lũng đoạn quốc tế khống chế kinh tế toàn cầu. Tự do hóa về tài chính bao
gồm những vấn đề như: thực hiện tự do hóa hoàn toàn về lãi suất, đa nguyên hóa
nghiệp vụ ngân hàng, mở cửa thị trường tài chính đối ngoại, tự do hóa giao dịch
ngoại hối...
Thứ
tư, nhất thể hóa toàn
cầu nhằm thống nhất toàn cầu của tư bản về thể chế kinh tế, chính trị và văn
hóa, mà thực chất có người coi đó là Mỹ hóa và phương Tây hóa.
Các chủ trương của chủ nghĩa tự do mới được thực hiện mạnh mẽ đem lại một bước phát triển mới trong CNTB, song những mâu thuẫn vốn có của nó lại bộc lộ trầm trọng thêm. Chẳng hạn, chi phí của Chính phủ Mỹ không giảm mà tăng lên nhiều, R. Ri-gân chưa lên cầm quyền thì Nhà nước Mỹ nợ mấy trăm tỉ USD, nhưng kết thúc nhiệm kỳ thì nợ hơn 4 nghìn tỉ. Ngân sách quân sự từ 192 tỉ năm 1981 tăng lên 370 tỉ năm 1988, đến thời G.W Bu-sơ (con) tăng lên gần 600 tỉ USD năm 2008, cùng với việc Mỹ sa lầy trong cuộc chiến ở I-rắc, Áp-ga-ni-xtan... Điều này đã làm "méo mó" nền kinh tế và đời sống xã hội Mỹ. Giảm phúc lợi công cộng đi đôi với tăng đóng góp của người lao động, gây ra bất bình lớn trong xã hội. Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính trầm trọng bắt đầu từ nước Mỹ (từ tháng 8-2007) lan rộng ra toàn cầu trong mấy năm qua làm nổi rõ những bất ổn trong cấu trúc kinh tế tư bản và những nan giải mà các định chế kinh tế toàn cầu đang phải đối mặt. Nó cho thấy sự phá sản của chủ nghĩa tự do mới, khi quá nhấn mạnh "bàn tay vô hình, vạn năng" điều tiết của thị trường tự do, đồng thời phản ánh sự bất cập không chỉ trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, mà cả lĩnh vực sản xuất của CNTB. Hầu như tất cả các nước tư bản phát triển từ năm 2008 đến nay đều quay trở lại nhấn mạnh vai trò điều tiết của nhà nước, tung ra hàng loạt gói kích cầu rất lớn để giải cứu, vực dậy nền kinh tế. Điều đó thực chất không thể nào khác là cứu nguy cho giới chủ tư bản, bằng cách chủ yếu dùng ngân sách từ nguồn thu thuế của người dân lao động. Đây là điểm thuộc bản chất không thay đổi của nhà nước trong CNTB nói chung, CNTB toàn cầu hóa nói riêng.
Wednesday, March 1, 2023
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chủ nghĩa tư bản
độc quyền nhà nước (cũng được
gọi là stamocap)[1] là một hình thức cực đoan của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong đó nhà nước được coi là một doanh nghiệp độc quyền duy
nhất chi phối hầu hết các hoạt động sản xuất và phân phối hàng hóa trong nền
kinh tế. Nhà nước sẽ kiểm soát mọi hoạt động kinh tế, thương mại và các cơ sở
sản xuất được tổ chức và quản lý như doanh nghiệp nhà nước (bao gồm cả quá
trình tích lũy vốn, lao động tiền lương và quản lý tập trung). Các hoạt động
trong nền kinh tế được hoạch định và điều phối bởi các cơ quan lập kế hoạch
kinh tế và các cơ quan chính phủ được tập trung hóa (các cơ quan được tổ chức
theo thực tiễn quản lý kinh doanh).
Chủ nghĩa tư bản
độc quyền nhà nước là một học thuyết Leninist được
phổ biến sau Thế chiến II. Lenin đã tuyên bố vào năm 1916
rằng Chiến tranh thế giới thứ nhất đã biến
đổi chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa tư
bản độc quyền, nhưng ông đã không xuất bản bất kỳ học thuyết mở rộng
nào về chủ đề này. Thuật ngữ chủ nghĩa tư bản độc quyền đề cập đến một môi
trường mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để bảo
vệ các doanh nghiệp độc quyền hoặc độc quyền lớn hơn khỏi các mối đe dọa. Lenin
trong cuốn sách nhỏ của ông cùng tên nhằm mục đích mô tả chủ nghĩa đế quốc như
là giai đoạn lịch sử cuối cùng của chủ nghĩa tư bản, trong đó ông tin rằng chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn cao nhất của chủ nghĩa tư bản mà chủ nghĩa tư
bản đã biến thành chủ nghĩa tư bản độc quyền.[2] Chiến
tranh thế giới thứ I đã chuyển hóa chủ nghĩa tư bản độc quyền thành chủ nghĩa
tư bản độc quyền nhà nước. Sau cách mạng tháng 10, Lenin chủ trương áp dụng chủ
nghĩa tư bản độc quyền nhà nước vào nước Nga như là "sự chuẩn bị vật
chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội, là
nấc thang lịch sử mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là chủ nghĩa
xã hội thì không có một nấc thang nào ở giữa cả"[3]. Sau thế chiến thứ II do ảnh hưởng của
Liên Xô với tư cách một nước thắng trận khiến lý luận về chủ nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước được phổ biến ra toàn thế giới.
Đôi khi khái niệm này cũng xuất hiện trong lý thuyết Chủ nghĩa tân Trotsky của chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng như trong các lý thuyết chống nhà nước tự do chủ nghĩa. Các phân tích được thực hiện thường là giống hệt nhau trong ở các đặc điểm chính, nhưng kết luận chính trị rất khác nhau được rút ra từ nó.












