Thursday, December 16, 2021

MỘT SỐ TRỤC QUAN HỆ QUỐC TẾ NỔI BẬT NĂM 2017

Hồng Vân


(VOV5) - Trung Quốc cho rằng Mỹ cần thích ứng với sự phát triển của Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh hợp tác là sự lựa chọn đúng đắn cho cả hai bên.

Năm 2017 chứng kiến những thay đổi nhanh chóng trong đời sống chính trị thế giới. Các trục quan hệ chủ chốt đều những diễn biến bất ngờ, thậm chí đảo chiều, gây ra không ít xáo trộn trong quan hệ quốc tế, phần nào định hình tương lai của thế giới.



Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình Tổng thống Mỹ Donald Trump - Ảnh: Sky

 

Năm 2017 là một trong số ít năm có các mối quan hệ quốc tế biến động nhanh, khó lường khi những diễn biến 6 tháng cuối năm trái ngược với 6 tháng đầu năm. Đáng chú ý trong những biến động đó phải kể đến trục quan hệ Mỹ - Nga, Mỹ - Trung và Mỹ - EU.

Đảo chiều trong quan hệ Mỹ - Nga, Mỹ - Trung

Những tưởng quan hệ Nga - Mỹ năm 2017 sẽ có nhiều khởi sắc sau khi ông Donald Trump đắc cử Tổng thống nhưng những gì diễn ra trên thực tế lại cho thấy quan hệ giữa hai nước đang rơi vào một vòng xoáy đối đầu chưa có điểm dừng. Trong suốt chiến dịch tranh cử Tổng thống, ông Trump nhiều lần phát đi thông điệp và cam kết sẽ nỗ lực cải thiện quan hệ với Nga nhưng những tuyên bố này đã nhanh chóng bị cuộc điều tra về cái gọi “Nga can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016” phủ bóng đen.



Tổng thống Nga Vladimir Putin và người đồng cấp Mỹ Donald Trump nói chuyện bên lề hội nghị cấp cao APEC ở Đà Nẵng - Ảnh: Reuters


Tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng và Bác Hồ về giành, giữ chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay


Cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nguy cơ của đảng cầm quyền

 


"Quan hệ tam giác Việt Nam - Liên Xô - Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)"


KIÊN ĐỊNH NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG VÀ KIM CHỈ NAM HÀNH ĐỘNG: CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

PGS,TS Nguyễn Vĩnh Thắng

(LLCT)- Tại Đại hội XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là một luận điểm quan trọng được khái quát từ thực tiễn phong phú, sinh động của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc cách mạng XHCN ở nước ta; chỉ ra nguồn gốc sâu xa mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo được lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối. 

Vào giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành cuộc xâm lược và đặt ách thống trị của chúng đối với dân tộc ta. Chúng đã câu kết với giai cấp phong kiến, địa chủ thống trị nước ta vô cùng tàn bạo. Trong lúc vua quan nhà Nguyễn đầu hàng, thì nhân dân ta đã anh dũng đứng lên chống xâm lược. Một số nhà nho yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh... đã đi tìm đường cứu nước, nhưng không thành công, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra đều lần lượt thất bại và bị đàn áp khốc liệt. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cho đến đầu thế kỷ XX gặp bế tắc về đường lối cứu nước.)

Trong bối cảnh đó, ngày 5-6-1911, từ bến Cảng Sài Gòn, với hoài bão lớn lao, Hồ Chí Minh đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Người đã đi đến rất nhiều nơi, từ Pháp, Người đã đến nhiều nước khác ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. Và Người đã đến quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với bản Luận cương của Lênin và như Người đã nói “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(1). Trong quá trình vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta giành được những thắng lợi to lớn, Người tiếp tục khẳng định: chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là “cẩm nang” thần kỳ, không những là kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới CNXH và CNCS.

Từ thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và trong công cuộc xây dựng đất nước, nhất là từ thực tiễn phong phú, sinh động và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được trong công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và CNXH, Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(2). Đây là một luận điểm cực kỳ quan trọng được khái quát rút ra từ thực tiễn phong phú, sinh động của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc cách mạng XHCN ở nước ta, nó chỉ ra nguồn gốc sâu xa của mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo được lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối. 

QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VỀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA LỊCH SỬ TRONG “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG

 

Phạm Văn Đức

 

Trên cơ sở trình bày và phân tích quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về năm tiền đề của lịch sử, tác giả khẳng định rằng: thứ nhất, cả năm tiền đề là những tiêu chí quan trọng để phân biệt con người với con vật, trong đó bốn tiền đề ban đầu là nhu cầu cơ bản và sản xuất, sự xuất hiện nhu cầu mới, việc tái tạo ra người khác, phương thức sản xuất và hợp tác thuộc về những yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội; thứ hai, nhu cầu không chỉ là động lực mà còn là nguồn gốc, tức là cái khởi nguồn của sự biến đổi và phát triển của lịch sử và thứ ba, ý thức là một trong những nhân tố không thể thiếu được của lịch sử. Với ý nghĩa đó, có thể nói, “Hệ tư tưởng Đức” là tác phẩm đánh dấu sự chuyển biến một cách căn bản từ lập trường duy tâm sang lập trường duy vật khi xem xét lĩnh vực xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen.


Ảnh minh họa

 

Hệ tư tưởng Đức là một tác phẩm quan trọng đánh dấu sự chuyển biến của C.Mác và Ph.Ăngghen từ lập trường duy tâm sang lập trường duy vật và là mốc đánh dấu sự chín muồi của quan niệm duy vật về lịch sử. Điều đó được thể hiện trước hết ở cách chọn đối tượng nghiên cứu của các ông, đó là con người.

Mấy nét về chủ nghĩa tư bản các cổ đông hiện đại

 


Cá nhân và xã hội: Cách tiếp cận mácxít và cách tiếp cận nhân học văn hóa

 


Monday, November 22, 2021

Giảng viên Trường Đảng "Tự học" theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh

                                                                                     TS Nguyễn Thị Hoa Phượng

                                                                                    TS Trần Thị Kim Ninh

                                                                                Học viện Chính trị khu vực II

 

Tóm tắt: Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình nhà Nho yêu nước, chịu ảnh hưởng tư tưởng tiến bộ của cụ thân sinh phó bảng Nguyễn Sinh Sắc “Ái quốc là ái dân”, sớm trăn trở tìm con đường cứu nước cứu dân. Vì những lý do đó, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành gác lại sự nghiệp học hành, ra đi tìm đường cứu nước. Trong quá trình bôn ba năm châu, bốn bể, tìm tòi, khảo nghiệm, Người vừa lao động, vừa tự học để có hiểu biết, có tri thức làm cách mạng; đồng thời, đó cũng là quá trình tự học. Tìm hiểu tấm gương tự học Hồ Chí Minh có giá trị to lớn đối với việc học tập, rèn luyện của đội ngũ giảng viên Trường Đảng hiện nay.

Từ khóa: Đội ngũ giảng viên trường Đảng; tự học; Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Người thanh niên Nguyễn Tất Thành sinh ra ở thời điểm dân tộc Việt Nam đang bị đắm chìm trong cảnh nước mất nhà tan, cả dân tộc đang trăn trở tìm lời đáp cho câu hỏi: Làm thế nào để giải phóng dân tộc giành độc lập dân tộc? Để tìm ra câu trả lời, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã không chọn con đường học hành theo lối cổ truyền để trở thành một nhà Nho học hay một viên quan lại dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, mà đã có một quyết định táo bạo: “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”[1]. Từ đây, con đường hoạt động cách mạng thực tiễn của Hồ Chí Minh chính là con đường tự học, chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức của nhân loại.

Wednesday, November 10, 2021

Chính sách phát triển giảng viên chính trị ở Việt Nam hiện nay


 Chính sách phát triển giảng viên chính trị ở Việt Nam hiện nay / Nguyễn Thị Hoa, Bùi Nghĩa. - Tp. Hồ Chí Minh : Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, 2019. - 112 tr. ; 21 cm.

Nội dung cuốn sách trình bày lịch sử nghiên cứu về giảng viên chính trị, lý luận chung về chính sách phát triển giảng viên chính trị ở Việt Nam hiện nay, thực trạng chính sách phát triển giảng viên chính trị ở Việt Nam hiện nay và một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển giảng viên chính trị ở Việt Nam.

1. Chính sách       2. Phát triển       3. Giảng viên         4. Chính trị       5. Việt Nam      6. Hiện nay

Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 2016 - 2020


 Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 2016 - 2020: Lưu hành nội bộ / Đảng Cộng sản Việt Nam. - H. : Chính trị Quốc gia, 2021. - 1031 tr. ; 24 cm.

Cuốn sách trình bày có hệ thống các nghị quyết, chỉ thị, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban bí thư khóa XII, được ban chấp hành từ năm 2016 đến năm 2020 trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Nội dung cuốn sách gồm có 3 phần: 

- Phần thứ nhất: Các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Ban ban chấp hành Trung ương Đảng 2016 - 2020.

- Phần thứ hai: Các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị và Ban bí thư 2016 - 2020.

- Phần thứ ba: Các kết luận của Bộ Chính trị và ban bí thư 2016 - 2020.

1. Nghị quyết     2. Trung ương Đảng       3. Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng của Đảng cộng sản Việt Nam thời kỳ 1930 - 1975


 Các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng của Đảng cộng sản Việt Nam thời kỳ 1930 - 1975 /  Nguyễn Ngọc Hà, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Biện Thị Hoàng Ngọc,…- H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 946 tr. ; 22 cm.

Phân tích bối cảnh lịch sử, nội dung, cách thức, kết quả, ý nghĩa tác động của các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng từ khi Đảng được thành lập năm 1930 đến năm 1975, từ đó bước đầu đưa ra một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử quý báu

1. Vận động          2. Chỉnh đốn           3. Đảng của Đảng cộng sản Việt Nam         4. 1930 - 1975

Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 1: Khu ủy I, khu ủy X, khu ủy XII, khu ủy XIV, liên khu ủy X (1946 - 1948)


 Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 1: Khu ủy I, khu ủy X, khu ủy XII, khu ủy XIV, liên khu ủy X (1946 - 1948) / Nguyễn Thị Thu Hương (ch.b), Nguyễn Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Hải. - H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 946 tr. ; 22 cm.

Giới thiệu 155 tài liệu, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, thông cáo, báo cáo, biên bản, đề án của các tổ chức tiền thân của Liên khu uỷ Việt Bắc như: Khu uỷ I, Khu uỷ X, Khu uỷ XII, Khu uỷ XIV và Liên khu uỷ X từ năm 1946 đến năm 1948 phản ánh hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo đối với các địa phương trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội, xây dựng Đảng...

1. Văn kiện      2. Liên khu ủy Việt Bắc         3. 1946 - 1956        4. Tập 1      5. 1946 - 1948

Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 3: Liên khu ủy I (1948)


 Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 3: Liên khu ủy I (1948) / Đinh Hữu Long (ch.b), Vũ Thúy Mai, Vũ Thị Duyên,…. -  H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 828 tr. ; 22 cm.

Giới thiệu 59 tài liệu, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, thông cáo, báo cáo, công văn... phản ánh hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Liên khu uỷ I đối với cuộc kháng chiến ở Liên khu trong năm 1949 trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, an ninh, công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng Đảng...

1. Văn kiện       2. Liên khu ủy Việt Bắc       3. 1946 - 1956        4. Tập 3            5. 1948

Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 4: Liên khu ủy I (1949)


Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 4: Liên khu ủy I (1949) / Huỳnh Thị Mai Hoa (trưởng nhóm), Phan Thị Hải, Hà Thị Hương . - H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 836 tr. ; 22 cm.

Giới thiệu 78 tài liệu, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, thông cáo, báo cáo, công văn... phản ánh hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Liên khu uỷ I đối với cuộc kháng chiến ở Liên khu trong năm 1949 trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, an ninh, công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng Đảng...

1. Văn kiện           2. Liên khu ủy Việt Bắc        3. 1946 - 1956         4. Tập 4        5. 1949

 

Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 5: Liên khu ủy Việt Bắc (1949 - 1950)


Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 5: Liên khu ủy Việt Bắc (1949 - 1950) / Phạm Thị Thu Hiền (ch.b), Nguyễn Văn Quang, Ngô Tú Quyên,… . - H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 828 tr. ; 22 cm.

Giới thiệu 150 tài liệu, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, thông cáo, báo cáo, công văn... phản ánh hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Liên khu uỷ Việt Bắc trong hai năm 1949 - 1950 trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, an ninh, công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng 

Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 6: Liên khu ủy Việt Bắc (1951 - 1952)


 

Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 6: Liên khu ủy Việt Bắc (1951 - 1952) / Phạm Thị Thinh (trưởng nhóm), Trịnh Thị Hương, Phan Thị Hải. - H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 948 tr. ; 22 cm.

Giới thiệu 173 tài liệu, bao gồm toàn bộ các văn kiện Đại hội đại biểu Liên khu uỷ Việt Bắc lần thứ I; các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, báo cáo, công văn chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Liên khu uỷ Việt Bắc trong hai năm 1951 - 1952 trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, an ninh, công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng Đảng...

1. Văn kiện               2.  Liên khu ủy Việt Bắc        3. 1946 - 1956          4. Tập 6             5. 1951 - 1952

Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 7: Liên khu ủy Việt Bắc (1953)


 Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 7: Liên khu ủy Việt Bắc (1953) / Nguyễn Thị Hồng Phượng (trưởng nhóm), Nguyễn Thị Hải, Hà Thị Hương.- H. : Chính trị Quốc gia, 2020.- 946 tr.; 22cm.

Giới thiệu 111 tài liệu, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, thông cáo, báo cáo, kế hoạch, đề án của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Liên khu uỷ Việt Bắc ban hành trong năm 1953 trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, an ninh, công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng Đảng...

1. Văn kiện         2. Liên khu ủy Việt Bắc             3. 1946 - 1956       4. Tập 7         5. 1953

Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 8: Liên khu ủy Việt Bắc (1954)


Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 8: Liên khu ủy Việt Bắc (1954) / Nguyễn Thị Hạnh (trưởng nhóm), Trần Ngọc Lan, Nông Thị Ánh Phượng. - H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 924 tr. ; 22 cm.
Giới thiệu 146 tài liệu, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, quyết nghị, thông cáo, báo cáo, công văn, điện... của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Liên khu uỷ Việt Bắc ban hành trong năm 1954 trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, an ninh, công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng Đảng...
1. Văn kiện                  2. Liên khu ủy Việt Bắc            3. 1946 - 1956           4. Tập 8                 5. 1954


Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 9: Liên khu ủy Việt Bắc (1955-1956)





 

Thursday, November 4, 2021

GIÁ TRỊ VỮNG BỀN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

 PGS, TS Đặng Quang Định

(LLCT) - Trong toàn bộ lịch sử tư tưởng nhân loại, không một tư tưởng nào, học thuyết nào về lịch sử có thể sánh kịp với chủ nghĩa Mác về phương diện khoa học và cách mạng. Bằng việc phát hiện ra những quy luật khách quan của sự vận động, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất và lịch sử loài người, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác đã chỉ ra cho giai cấp vô sản và nhân loại tiến bộ toàn thế giới con đường và biện pháp hiện thực để tự giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công và xây dựng một chế độ xã hội mới hướng đến sự giải phóng triệt để và phát triển toàn diện con người. 

Nói một cách khái quát, chủ nghĩa Máclà học thuyết về sự giải phóng và phát triển. Chủ nghĩa ấy hướng đến sự giải phóng triệt để con người khỏi mọi sự nô dịch, áp bức bóc lột, sự hạn chế trong các quan hệ xã hội và hướng đến sự giải phóng triệt để con người. Chủ nghĩa ấy được xây dựng trên cơ sở kế thừa các thành tựu nhận thức khoa học của lịch sử tư tưởng nhân loại vàchỉ ra được những quy luật chi phối toàn bộ sự vận động và phát triển của thế giới vật chất nói chung và lịch sử xã hội nói riêng, chấm dứt mọi sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, chủ nghĩa duy vật siêu hình trong giải thích các hiện tượng xã hội và lịch sử. Chủ nghĩa Máccũng đóng góp vô cùng quý giá vào sự phát triển củatriết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa cộng sản khoa học và nhiều khoa học khác, trở thành nền tảng lý luận có ý nghĩa phương pháp luận to lớn trong việc phát triển tư duy và nhận thức của nhân loại. Lần đầu tiên chủ nghĩa ấy cung cấp phương pháp luận khoa học trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Nó góp phần thay đổi căn bản tư duy của nhân loại trong việc thay đổi, cải tạo thế giới, hướng đến việc xây dựng một thế giới của con người, cho con người, vì con người. Ở đó, sự phát triển của mỗi người là tiền đề cho sự phát triển và tự do của tất cả mọi người. Vì vậy, chủ nghĩa ấy, đồng thời bao hàm tính cách mạng. Tính khoa học và cách mạng đã làm nên những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mácvà sức sống mạnh mẽ trong thời đại của chúng ta. Có thể khái quát những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác ở những nội dung sau:

Wednesday, November 3, 2021

BÀI HỌC LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ TỪ CÁCH ỨNG XỬ CỦA BÁC HỒ

 Nguyễn Nhâm

(HCM.VN) - Không chỉ tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, thương dân, trí tuệ và nhãn quan chính trị nhạy bén, năng lực thực tiễn và dự báo thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là hiện thân của phong cách ứng xử chứa đựng nhiều nét văn hóa đặc sắc, để lại bài học quý giá trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ của Đảng hôm nay.


Bác Hồ thăm bà con nông dân xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (1954). Ảnh tư liệu

Từ những câu chuyện về cách ứng xử của Bác...

Có rất nhiều câu chuyện về phong cách ứng xử của Bác Hồ, chứa đựng những nét văn hóa đặc sắc, lưu lại cho bao thế hệ người Việt Nam và nhân dân trên thế giới. Dưới đây chỉ là một vài câu chuyện về cách ứng xử của Bác, để lại nhiều bài học quý giá cho hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ.

Câu chuyện mời Bác cưỡi ngựa: Năm 1950, Bác Hồ đi chiến dịch Biên giới. Anh em cảnh vệ kiếm được con ngựa, mời Bác cưỡi. Bác bảo: Chúng ta có bảy người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện. Anh em cố nài Bác: Chúng cháu còn trẻ, Bác đã nhiều tuổi, đường xa, công việc nhiều xin Bác lên ngựa cho. Bác nói: Các chú đều khỏe, còn trẻ cả, để đi đường xem các chú có theo kịp Bác không. Anh em khẩn khoản mãi, không nỡ từ chối, Bác trả lời: Thôi được, các chú cứ mang ngựa theo để nó đỡ hộ balô, gạo nước và thức ăn. Trên đường đi, ai mệt thì cưỡi. Bác mệt, Bác cũng sẽ cưỡi[1].

“Chú ngã có đau không?”: Vào đầu năm 1954, tiết trời đã sang xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét, Bác vẫn làm việc rất khuya. Một lần, đồng chí bảo vệ Bác bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy bay. Đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng hỏi: Chú nào ngã đấy? Bác tới rồi luồn tay vào hai nách, vừa kéo, vừa hỏi: Chú ngã có đau không? Bác sờ khắp người, nắn chân, nắn tay. Bác nói: Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống! Thưa Bác, cháu không việc gì ạ. Bác cười hiền hậu và căn dặn: “Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận”[2].

Tuesday, November 2, 2021

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và những vấn đề đặt ra

 Hoàng Phương

(VNTV). Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã mang lại những hiệu quả nhất định, góp phần giữ vững an ninh chính trị, ổn định xã hội, củng cố nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, từ khi Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được ban hành, công tác này đã được triển khai một cách đồng bộ, thống nhất và toàn diện trên mọi mặt. Dù vậy, trước những yêu cầu của bối cảnh mới, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đối với công tác bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng phủ định, xuyên tạc học thuyết Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa ra các luận điểm thúc đẩy bạo lực, chiến tranh, gây tác động tiêu cực đến hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị; chống lại chính trị và pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Các thế lực thù địch chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam, ngấm ngầm truyền bá tư tưởng đi ngược lại với chủ trương và đường lối của Đảng. Lợi dụng những hạn chế trong quản lý nhà nước để kích động biểu tình trái phép và xuyên tạc đường lối; tổ chức các hội thảo đòi xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử. Hơn nữa, chúng còn đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013, đòi đa nguyên, đa đảng; phá bỏ nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; vu cáo Đảng chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán", "đảng trị”; đối lập Đảng với Nhà nước và đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân... Chúng tận dụng tối đa hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài, các kênh facebook, youtube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Chúng dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống như của Đài Truyền hình Việt Nam và một số báo, đài chính thống để đưa tin. Mánh lới của chúng là "giật tít", “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn lôi kéo, kích động một bộ phận người dân và cả một số cán bộ hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vào các mục đích sai trái, bất hợp pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... Đây cũng là những vấn đề cần được nhận diện đầy đủ để có biện pháp, phương hướng xử lý, đấu tranh phù hợp, hiệu quả.

Monday, November 1, 2021

Biến đổi giá trị văn hóa làng xã trong quá trình đô thị hóa

 


VĂN HÓA - SỨC MẠNH NỘI SINH CỦA DÂN TỘC

 

Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững - Xu thế chung của thế giới và Việt Nam


Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển thị trường khoa học - công nghệ ở Việt Nam

 


NHẬN DIỆN, PHẢN BÁC MỘT SỐ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VÀ YÊU CẦU RÚT RA TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG TA

                                                                                         TS. Nguyễn Văn Điển

                                                                             Học viện Chính trị khu vực II

Tóm tắt

Bài báo nêu lên việc nhận diện một số luận điệu sai trái về đường lối, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và đề xuất luận cứ phản bác khoa học, phù hợp. Qua đây, cũng cho thấy vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền lý luận chính trị của Đảng ta nhằm lan tỏa những luận cứ đúng đắn, phản bác các luận điệu sai trái. Trên cơ sở đó, đặt ra các yêu cầu trong công tác tuyên truyền lý luận chính trị gắn với phản bác các luận điệu sai trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay.

Từ khóa: nhận diện, phản bác, luận điệu sai trái, tuyên truyền lý luận…

1. Nhận diện và phản bác một số luận điệu sai trái về đường lối, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trước hết, cần thống nhất quan niệm về các luận điệu sai trái: là cách nhìn nhận sai lệch, phiến diện, không đúng với sự thật, thậm chí là “tha hóa”, đi ngược với đường lối, chủ trương, chính sách và sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta, trái với đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc… Đôi khi những quan niệm, luận điểm sai này được “nâng cấp lên”, ngụy biện thành “lý luận” để chống phá Đảng, Nhà nước ta - đó chính là các luận điệu, quan điểm xuyên tạc, thù địch! Trong quá trình tuyên truyền lý luận chính trị hiện nay chúng ta thường gặp những luận điệu sai trái, thậm chí thù địch nhằm chống phá nền tảng tư tưởng và đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta. Chúng ta có thể nhận diện một số luận điệu xuyên tạc và nêu luận cứ phản bác như sau.

1.1. Về luận điệu đòi phủ nhận đường lối phát triển của Đảng ta hơn 90 năm qua và thành tựu kinh tế, hội nhập hơn 35 năm đổi mới của Việt Nam

Hiện có một số cá nhân, tổ chức thù địch luôn rêu rao luận điệu: những thành quả đổi mới mà nước ta có được là “ăn may”, là nhờ các nước tư bản phát triển mở rộng đầu tư, hỗ trợ trong bối cảnh toàn cầu hóa… Đây là những điều sai trái, muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo và những thành tựu, nỗ lực to lớn của Đảng, Nhà nước & nhân dân ta. Tuy nhiên thực tiễn lại hoàn toàn phủ nhận điều đó! Chính nhờ đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo tài tình, toàn diện và hợp lý của Đảng mà “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”1.

Monday, October 25, 2021

CHỦ QUYỀN VIỆT NAM TRÊN VÙNG NAM BỘ

  

                                                                             TS. Vũ Trung Kiên

Học viện Chính trị khu vực II

         Những năm vừa qua, một số phần tử quá khích người Campuchia có quan hệ với Đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia đã có nhiều hành động tụ tập biểu tình trước đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia cũng như gây rối tại một số vùng biên giới Việt Nam - Campuchia. Luận điệu là những người quá khích này đưa ra là đòi vùng đất đòi đất Nam Bộ, nhất là Tây Nam Bộ. Họ cho rằng Nam Bộ là lãnh thổ của Campuchia nên nó phải được trả về cho Campuchia. Những chứng cứ lịch sử và pháp lý về vùng đất này đều khẳng định đây là một phần lãnh thổ thiêng liêng của nước Việt Nam.

Kỳ 1Phù Nam - cư dân và Nhà nước đầu tiên trên vùng đất Nam Bộ

Ai là những chủ nhân đầu tiên của vùng đất Nam Bộ là một câu hỏi lớn của lịch sử và không dễ giải đáp, bởi văn tự và những dữ kiện lịch sử mới chỉ được ghi chép cách đây mấy nghìn năm. Tuy nhiên, từ những thư tịch cổ còn giữ lại đến hôm nay thì vùng đất Nam Bộ là lãnh thổ xưa của một vương quốc có tên gọi Phù Nam. Người Phù Nam chính là những chủ nhân đầu tiên đã thiết lập nên nhà nước ở vùng đất Nam Bộ hiện nay.

Các thư tịch cổ của Trung Quốc còn giữ lại đến hôm nay đã ghi chép rất nhiều các dữ kiện về vương quốc Phù Nam. Các sách có chép về Phù Nam bao gồm: 1) Tấn Thư, 2)Tống thư, 3) Nam Tề thư, 4) Lương Thư, 5) Tùy thư. 6) Cựu Đường thư, 7) Tân Đường thư, 8) Tân ngũ, 9) Tống sử và 10) Nguyên sử.

Tấn thư chép: “Phù Nam, cách phía Tây Lâm Ấp (tức Chiêm Thành - NV) hơn ba ngàng dặm, ở trong vịnh biển lớn, địa giới nước ấy dài rộng ba ngàn dặm, có thành ấp cung thất. Người (nước ấy) đều đen xấu, tóc quăn, cởi trần, đi đất. Tính cách thật thà, không làm việc trộm cướp, lấy trồng cấy làm nghề chính, trồng một lần, thu hoạch trong ba năm…[1]”.

Tống thư, quyển 97 chép: “Nước Phù Nam, các năm Nguyên Gia thứ mười một (434), Mười hai (435), Mười lăm (438), đời Thái tổ, quốc vương là Trì Lê Bạt Ma (tức Sri Indravacman) đều sai sứ sang phụng cống[2]”.

Saturday, October 23, 2021

ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN - KỲ TÍCH LỊCH SỬ VÀ BIỂU TƯỢNG SÁNG NGỜI CỦA Ý CHÍ VÀ KHÁT VỌNG GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

                                                             TS. NGUYỄN THỊ HOA PHƯỢNG

                                                Học viện Chính trị Khu vực II

                                  

TCCS - Đường Hồ Chí Minh trên biển là tuyến vận tải chiến lược nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sáu mươi năm đã trôi qua (1961 - 2021), nhưng những kỳ tích năm xưa về tuyến đường huyền thoại trên biển vẫn là biểu tượng của sức mạnh đại đoàn kết và khát vọng độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc của dân tộc Việt Nam.


Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt thân mật Đoàn đại biểu cựu chiến binh Đường Hồ Chí Minh trên biển và đại diện, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam_Ảnh: TTXVN

Tuesday, October 5, 2021

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ BÁC HỒ VỚI THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ

 Ái Nhi

Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tâm tới sự hy sinh cao cả của các anh hùng, thương binh, liệt sĩ. Đó là những con người dũng cảm xả thân cho Tổ quốc được độc lập, tự do; cống hiến cả tuổi xanh của mình cho tương lai đất nước. Người nêu rõ: “Máu đào của các thương binh, liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết trái tự do”. Cảm thông với những thiệt thòi của thương binh, liệt sĩ và gia đình họ trong cuộc sống hoà bình, Bác đã kêu gọi đồng bào chia sẻ với những tâm tư, mất mát lớn của thương binh, liệt sĩ. 

Bác Hồ với anh hùng và chiến sĩ thi đua miền Nam (tháng 11/1965). Ảnh: TL

SỨC MẠNH CỦA CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG CUỘC CHIẾN CHỐNG “GIẶC” COVID-19

                                                                                                             NHƯ QUỲNH

(VNTV). Thế giới vẫn đang đối mặt với đại dịch Covid-19 cùng nhiều thách thức đặt ra cho nền kinh tế toàn cầu. Trong khi đó, Việt Nam cũng trải qua 3 đợt “sóng” Covid, và đang phải căng mình chống lại đợt “sóng” thứ tư với sự phức tạp và hiểm nguy tăng lên rất nhiều do chủng Delta gây nên. Theo thông tin của Bộ Y tế, tính từ đầu đợt “sóng” thứ tư (24/4) đến sáng ngày 30/7, Việt Nam đã ghi nhận 129.571 ca nhiễm Covid-19 ở 62 tỉnh, thành phố; tổng số ca được điều trị khỏi là 31.780.

          Cho đến nay, dịch bệnh Covid-19 đã gây nên những tổn thất nặng nề về kinh tế, xã hội và sinh mạng người dân; song, không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong cuộc chiến chống Covid-19. Những thành tựu đó đã được thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Để có được kết quả đó là do rất nhiều yếu tố như:sự ưu việt của thể chế chính trị, năng lực của ngành y tế, hiệu quả của công tác truyền thông, tinh thần đoàn kết, đồng lòng của các tầng lớp nhân dân… Trong đó, không thể không nhắc đến chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã tạo sức mạnh to lớn trong cuộc chiến này.

GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH QUA DI CHÚC

 Thiếu tướng, PGS.TS, NGƯT Nguyễn Văn Thế

(TG)- Sáng rõ tầm nhìn thời đại và vẹn nguyên giá trị định hướng, 50 năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, Di chúc của Người vẫn là những chỉ dẫn quý báu, động lực tinh thần vô giá giúp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vượt qua khó khăn, tận dụng thời cơ, đối diện thách thức để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phát triển bền vững.


Cách đây 50 năm, trước khi từ biệt thế giới này để “đi gặp Cụ Các Mác, Cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta một văn kiện lịch sử vô giá; kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách của một vĩ nhân, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - đó là bản Di chúc mà Người gọi là Tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh qua Di chúc của Người mang giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

TƯ TƯỞNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN TRONG DI CHÚC

Tư tưởng lớn có giá trị và ý nghĩa thời sự được đặt lên hàng đầu thể hiện trong Di chúc của Người là tư tưởng về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Tài sản quý giá nhất về xây dựng tổ chức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân ta, dân tộc ta đó là Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng cách mạng, chân chính do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Để xứng đáng với vai trò tiền phong, với vị thế cầm quyền, Đảng phải luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình và phải đoàn kết thống nhất, thường xuyện tự phê bình và phê bình, gắn bó mật thiết với nhân dân…

Friday, October 1, 2021

QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN

 

Phạm Ngọc Anh

Những thành tựu nổi bật trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người

Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chính thức tuyên bố đường lối đổi mới, với nội dung cơ bản là chuyển nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; dân chủ hóa đời sống xã hội trên cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; mở cửa tăng cường giao lưu hợp tác với bên ngoài trên tinh thần Việt Nam sẵn sàng làm bạn với các nước, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển.

Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua.

Về mặt nhận thức, cùng với việc coi trọng vị thế và vai trò của con người, vấn đề quyền con người cũng được coi trọng và đánh giá tương ứng. Hiến pháp năm 1992 (Điều 50) lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ quyền con người và khẳng định: “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Cùng với khái niệm quyền con người, các khái niệm có liên quan khác như quyền bình đẳng của phụ nữ, quyền trẻ em… cũng được chính thức đề cập trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật, pháp quy của Nhà nước. Điều đó cũng đã tạo nên sự chuyển biến về nhận thức: từ sự đồng nhất một cách ấu trĩ khái niệm quyền con người, như là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân hoặc như là một thứ công cụ chính trị, mà các thế lực tư bản chủ nghĩa ở phương Tây sử dụng để chống phá các nước XHCN đến cách nhìn nhận khách quan hơn, coi nhân quyền là sản phẩm chung, là sự kết tinh của nền văn minh nhân loại; tuy mang tính phức tạp và nhạy cảm, nhưng vẫn là một yếu tố không thể bỏ qua trong đời sống chính trị hiện đại. Xét riêng trên lĩnh vực lập pháp, chỉ tính từ năm 1996 đến năm 2002, Nhà nước đã ban hành 13.000 văn bản pháp luật các loại, trong đó có hơn 40 Bộ Luật và Luật, trên 120 Pháp lệnh, gần 850 văn bản pháp luật của Chính phủ và trên 3.000 văn bản pháp quy của các bộ, ngành, trong đó đã “nội luật hóa” một cách toàn diện những công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã phê chuẩn hoặc gia nhập từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX và trong thời kỳ này. Đây là điều mà trong giai đoạn trước hầu như chúng ta chưa làm được.

BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC

 Đào Lộc Bình

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định:“Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”. Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là yêu cầu tất yếu của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng các phương thức sau: Đảng đề ra Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, kế hoạch về các vấn đề kinh tế, xã hội… Đảng lãnh đạo thông qua công tác tổ chức, cán bộ và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đảng lãnh đạo xã hội bằng công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và vận động nhân dân, Đảng lãnh đạo bằng sự nêu gương, làm gương, đi đầu trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội.

(Trích Cương lĩnh chính trị)

1. Quan niệm về bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền XHCN

Bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là bảo đảm môi trường, điều kiện pháp lý giữ vững vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Những bảo đảm này bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về địa vị pháp lý của các tổ chức đảng trong các cơ quan nhà nước; quy định những điều kiện pháp lý cần thiết cho tổ chức và hoạt động lãnh đạo của Đảng; bảo đảm nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước luôn được các cơ quan nhà nước và mọi cán bộ, công chức tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh.