Monday, November 1, 2021

NHẬN DIỆN, PHẢN BÁC MỘT SỐ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VÀ YÊU CẦU RÚT RA TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG TA

                                                                                         TS. Nguyễn Văn Điển

                                                                             Học viện Chính trị khu vực II

Tóm tắt

Bài báo nêu lên việc nhận diện một số luận điệu sai trái về đường lối, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và đề xuất luận cứ phản bác khoa học, phù hợp. Qua đây, cũng cho thấy vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền lý luận chính trị của Đảng ta nhằm lan tỏa những luận cứ đúng đắn, phản bác các luận điệu sai trái. Trên cơ sở đó, đặt ra các yêu cầu trong công tác tuyên truyền lý luận chính trị gắn với phản bác các luận điệu sai trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay.

Từ khóa: nhận diện, phản bác, luận điệu sai trái, tuyên truyền lý luận…

1. Nhận diện và phản bác một số luận điệu sai trái về đường lối, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trước hết, cần thống nhất quan niệm về các luận điệu sai trái: là cách nhìn nhận sai lệch, phiến diện, không đúng với sự thật, thậm chí là “tha hóa”, đi ngược với đường lối, chủ trương, chính sách và sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta, trái với đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc… Đôi khi những quan niệm, luận điểm sai này được “nâng cấp lên”, ngụy biện thành “lý luận” để chống phá Đảng, Nhà nước ta - đó chính là các luận điệu, quan điểm xuyên tạc, thù địch! Trong quá trình tuyên truyền lý luận chính trị hiện nay chúng ta thường gặp những luận điệu sai trái, thậm chí thù địch nhằm chống phá nền tảng tư tưởng và đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta. Chúng ta có thể nhận diện một số luận điệu xuyên tạc và nêu luận cứ phản bác như sau.

1.1. Về luận điệu đòi phủ nhận đường lối phát triển của Đảng ta hơn 90 năm qua và thành tựu kinh tế, hội nhập hơn 35 năm đổi mới của Việt Nam

Hiện có một số cá nhân, tổ chức thù địch luôn rêu rao luận điệu: những thành quả đổi mới mà nước ta có được là “ăn may”, là nhờ các nước tư bản phát triển mở rộng đầu tư, hỗ trợ trong bối cảnh toàn cầu hóa… Đây là những điều sai trái, muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo và những thành tựu, nỗ lực to lớn của Đảng, Nhà nước & nhân dân ta. Tuy nhiên thực tiễn lại hoàn toàn phủ nhận điều đó! Chính nhờ đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo tài tình, toàn diện và hợp lý của Đảng mà “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”1.

Monday, October 25, 2021

CHỦ QUYỀN VIỆT NAM TRÊN VÙNG NAM BỘ

  

                                                                             TS. Vũ Trung Kiên

Học viện Chính trị khu vực II

         Những năm vừa qua, một số phần tử quá khích người Campuchia có quan hệ với Đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia đã có nhiều hành động tụ tập biểu tình trước đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia cũng như gây rối tại một số vùng biên giới Việt Nam - Campuchia. Luận điệu là những người quá khích này đưa ra là đòi vùng đất đòi đất Nam Bộ, nhất là Tây Nam Bộ. Họ cho rằng Nam Bộ là lãnh thổ của Campuchia nên nó phải được trả về cho Campuchia. Những chứng cứ lịch sử và pháp lý về vùng đất này đều khẳng định đây là một phần lãnh thổ thiêng liêng của nước Việt Nam.

Kỳ 1Phù Nam - cư dân và Nhà nước đầu tiên trên vùng đất Nam Bộ

Ai là những chủ nhân đầu tiên của vùng đất Nam Bộ là một câu hỏi lớn của lịch sử và không dễ giải đáp, bởi văn tự và những dữ kiện lịch sử mới chỉ được ghi chép cách đây mấy nghìn năm. Tuy nhiên, từ những thư tịch cổ còn giữ lại đến hôm nay thì vùng đất Nam Bộ là lãnh thổ xưa của một vương quốc có tên gọi Phù Nam. Người Phù Nam chính là những chủ nhân đầu tiên đã thiết lập nên nhà nước ở vùng đất Nam Bộ hiện nay.

Các thư tịch cổ của Trung Quốc còn giữ lại đến hôm nay đã ghi chép rất nhiều các dữ kiện về vương quốc Phù Nam. Các sách có chép về Phù Nam bao gồm: 1) Tấn Thư, 2)Tống thư, 3) Nam Tề thư, 4) Lương Thư, 5) Tùy thư. 6) Cựu Đường thư, 7) Tân Đường thư, 8) Tân ngũ, 9) Tống sử và 10) Nguyên sử.

Tấn thư chép: “Phù Nam, cách phía Tây Lâm Ấp (tức Chiêm Thành - NV) hơn ba ngàng dặm, ở trong vịnh biển lớn, địa giới nước ấy dài rộng ba ngàn dặm, có thành ấp cung thất. Người (nước ấy) đều đen xấu, tóc quăn, cởi trần, đi đất. Tính cách thật thà, không làm việc trộm cướp, lấy trồng cấy làm nghề chính, trồng một lần, thu hoạch trong ba năm…[1]”.

Tống thư, quyển 97 chép: “Nước Phù Nam, các năm Nguyên Gia thứ mười một (434), Mười hai (435), Mười lăm (438), đời Thái tổ, quốc vương là Trì Lê Bạt Ma (tức Sri Indravacman) đều sai sứ sang phụng cống[2]”.

Saturday, October 23, 2021

ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN - KỲ TÍCH LỊCH SỬ VÀ BIỂU TƯỢNG SÁNG NGỜI CỦA Ý CHÍ VÀ KHÁT VỌNG GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

                                                             TS. NGUYỄN THỊ HOA PHƯỢNG

                                                Học viện Chính trị Khu vực II

                                  

TCCS - Đường Hồ Chí Minh trên biển là tuyến vận tải chiến lược nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sáu mươi năm đã trôi qua (1961 - 2021), nhưng những kỳ tích năm xưa về tuyến đường huyền thoại trên biển vẫn là biểu tượng của sức mạnh đại đoàn kết và khát vọng độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc của dân tộc Việt Nam.


Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt thân mật Đoàn đại biểu cựu chiến binh Đường Hồ Chí Minh trên biển và đại diện, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam_Ảnh: TTXVN

Tuesday, October 5, 2021

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ BÁC HỒ VỚI THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ

 Ái Nhi

Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tâm tới sự hy sinh cao cả của các anh hùng, thương binh, liệt sĩ. Đó là những con người dũng cảm xả thân cho Tổ quốc được độc lập, tự do; cống hiến cả tuổi xanh của mình cho tương lai đất nước. Người nêu rõ: “Máu đào của các thương binh, liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết trái tự do”. Cảm thông với những thiệt thòi của thương binh, liệt sĩ và gia đình họ trong cuộc sống hoà bình, Bác đã kêu gọi đồng bào chia sẻ với những tâm tư, mất mát lớn của thương binh, liệt sĩ. 

Bác Hồ với anh hùng và chiến sĩ thi đua miền Nam (tháng 11/1965). Ảnh: TL

SỨC MẠNH CỦA CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG CUỘC CHIẾN CHỐNG “GIẶC” COVID-19

                                                                                                             NHƯ QUỲNH

(VNTV). Thế giới vẫn đang đối mặt với đại dịch Covid-19 cùng nhiều thách thức đặt ra cho nền kinh tế toàn cầu. Trong khi đó, Việt Nam cũng trải qua 3 đợt “sóng” Covid, và đang phải căng mình chống lại đợt “sóng” thứ tư với sự phức tạp và hiểm nguy tăng lên rất nhiều do chủng Delta gây nên. Theo thông tin của Bộ Y tế, tính từ đầu đợt “sóng” thứ tư (24/4) đến sáng ngày 30/7, Việt Nam đã ghi nhận 129.571 ca nhiễm Covid-19 ở 62 tỉnh, thành phố; tổng số ca được điều trị khỏi là 31.780.

          Cho đến nay, dịch bệnh Covid-19 đã gây nên những tổn thất nặng nề về kinh tế, xã hội và sinh mạng người dân; song, không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong cuộc chiến chống Covid-19. Những thành tựu đó đã được thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Để có được kết quả đó là do rất nhiều yếu tố như:sự ưu việt của thể chế chính trị, năng lực của ngành y tế, hiệu quả của công tác truyền thông, tinh thần đoàn kết, đồng lòng của các tầng lớp nhân dân… Trong đó, không thể không nhắc đến chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã tạo sức mạnh to lớn trong cuộc chiến này.

GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH QUA DI CHÚC

 Thiếu tướng, PGS.TS, NGƯT Nguyễn Văn Thế

(TG)- Sáng rõ tầm nhìn thời đại và vẹn nguyên giá trị định hướng, 50 năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, Di chúc của Người vẫn là những chỉ dẫn quý báu, động lực tinh thần vô giá giúp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vượt qua khó khăn, tận dụng thời cơ, đối diện thách thức để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phát triển bền vững.


Cách đây 50 năm, trước khi từ biệt thế giới này để “đi gặp Cụ Các Mác, Cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta một văn kiện lịch sử vô giá; kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách của một vĩ nhân, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - đó là bản Di chúc mà Người gọi là Tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh qua Di chúc của Người mang giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

TƯ TƯỞNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN TRONG DI CHÚC

Tư tưởng lớn có giá trị và ý nghĩa thời sự được đặt lên hàng đầu thể hiện trong Di chúc của Người là tư tưởng về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Tài sản quý giá nhất về xây dựng tổ chức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân ta, dân tộc ta đó là Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng cách mạng, chân chính do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Để xứng đáng với vai trò tiền phong, với vị thế cầm quyền, Đảng phải luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình và phải đoàn kết thống nhất, thường xuyện tự phê bình và phê bình, gắn bó mật thiết với nhân dân…

Friday, October 1, 2021

QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN

 

Phạm Ngọc Anh

Những thành tựu nổi bật trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người

Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chính thức tuyên bố đường lối đổi mới, với nội dung cơ bản là chuyển nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; dân chủ hóa đời sống xã hội trên cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; mở cửa tăng cường giao lưu hợp tác với bên ngoài trên tinh thần Việt Nam sẵn sàng làm bạn với các nước, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển.

Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua.

Về mặt nhận thức, cùng với việc coi trọng vị thế và vai trò của con người, vấn đề quyền con người cũng được coi trọng và đánh giá tương ứng. Hiến pháp năm 1992 (Điều 50) lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ quyền con người và khẳng định: “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Cùng với khái niệm quyền con người, các khái niệm có liên quan khác như quyền bình đẳng của phụ nữ, quyền trẻ em… cũng được chính thức đề cập trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật, pháp quy của Nhà nước. Điều đó cũng đã tạo nên sự chuyển biến về nhận thức: từ sự đồng nhất một cách ấu trĩ khái niệm quyền con người, như là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân hoặc như là một thứ công cụ chính trị, mà các thế lực tư bản chủ nghĩa ở phương Tây sử dụng để chống phá các nước XHCN đến cách nhìn nhận khách quan hơn, coi nhân quyền là sản phẩm chung, là sự kết tinh của nền văn minh nhân loại; tuy mang tính phức tạp và nhạy cảm, nhưng vẫn là một yếu tố không thể bỏ qua trong đời sống chính trị hiện đại. Xét riêng trên lĩnh vực lập pháp, chỉ tính từ năm 1996 đến năm 2002, Nhà nước đã ban hành 13.000 văn bản pháp luật các loại, trong đó có hơn 40 Bộ Luật và Luật, trên 120 Pháp lệnh, gần 850 văn bản pháp luật của Chính phủ và trên 3.000 văn bản pháp quy của các bộ, ngành, trong đó đã “nội luật hóa” một cách toàn diện những công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã phê chuẩn hoặc gia nhập từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX và trong thời kỳ này. Đây là điều mà trong giai đoạn trước hầu như chúng ta chưa làm được.

BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC

 Đào Lộc Bình

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định:“Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”. Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là yêu cầu tất yếu của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng các phương thức sau: Đảng đề ra Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, kế hoạch về các vấn đề kinh tế, xã hội… Đảng lãnh đạo thông qua công tác tổ chức, cán bộ và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đảng lãnh đạo xã hội bằng công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và vận động nhân dân, Đảng lãnh đạo bằng sự nêu gương, làm gương, đi đầu trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội.

(Trích Cương lĩnh chính trị)

1. Quan niệm về bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền XHCN

Bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là bảo đảm môi trường, điều kiện pháp lý giữ vững vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Những bảo đảm này bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về địa vị pháp lý của các tổ chức đảng trong các cơ quan nhà nước; quy định những điều kiện pháp lý cần thiết cho tổ chức và hoạt động lãnh đạo của Đảng; bảo đảm nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước luôn được các cơ quan nhà nước và mọi cán bộ, công chức tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh.

TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐẾN CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH ĐẤT NƯỚC

 


KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG THỰC HIỆN CƠ CHẾ “ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ”: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

 Nguyễn Minh Tuấn

TCCS - Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” với vấn đề kiểm soát quyền lực hiện nay đã có những quy định, quy phạm để thực hiện, tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn những vấn đề mới, phức tạp, cần tiếp tục làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền, nhằm kiểm soát tốt quyền lực, phục vụ sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Bất cứ thể chế chính trị nào trên thế giới hiện nay đều xác định trung tâm quyền lực chính trị của hệ thống chính trị là nhà nước. Sự chi phối mọi hoạt động đối với nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) của các đảng phái trong xã hội thể hiện bằng các hình thức khác nhau và mức độ khác nhau vì lợi ích của các giai cấp mà đảng phái đó đại diện. Cho dù là nhà nước “tam quyền phân lập” hay nhà nước trong các thể chế chính trị khác thì cũng đều chú trọng đặc biệt đến việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế nhằm kiểm soát quyền lực đối với từng chủ thể trong hệ thống chính trị và đối với toàn bộ hệ thống chính trị. 

Lịch sử cách mạng Việt Nam 89 năm qua đã khẳng định những thắng lợi vĩ đại trong cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân ta giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội đều gắn liền với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, minh chứng mối quan hệ mật thiết của nhân dân đối với Đảng. Hiến pháp năm 2013 xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền, các quyết định của Đảng đều liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội và đảng viên của Đảng nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Điều đó dễ dẫn đến phát sinh tiêu cực nếu không có cơ chế kiểm tra, giám sát khả thi. 

Khác với các chính thể “tam quyền phân lập”, nước ta lựa chọn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo. 

Nét đặc thù của thể chế chính trị này là việc xác lập mối quan hệ mật thiết giữa các chủ thể trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Cơ chế này phản ánh những mối quan hệ cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trong đó mỗi chủ thể có vai trò, vị trí khác nhau, phối hợp với nhau, phát huy tính hiệu quả của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được chế định trong Hiến pháp, pháp luật. Việc kiểm soát quyền lực giữa các chủ thể là tất yếu nhằm bảo đảm và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước trong quản lý xã hội, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Kiểm soát quyền lực trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” không chỉ với từng tổ chức mà còn ở quan hệ giữa các tổ chức với nhau trong hệ thống chính trị.

HỘI THẢO QUAN HỆ QUỐC TẾ: “TRẬT TỰ THẾ GIỚI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2012” (TỔNG THUẬT)

ThS. Đỗ Thị Thảo

 TCCSĐT - Sau Chiến tranh lạnh, trật tự thế giới thế hai cực (Liên - Mỹ) bị tan vỡ, các xu thế tập hợp lực lượng mới nảy sinh, hình thành cục diện quốc tế đa cấp độ, đa màu sắc. Bức tranh đó cho thấy thế giới đang trong quá trình vận động quá độ sang một trật tự thế giới mới, vô cùng phức tạp. Nhằm góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên, ngày 7-12-2012, Viện Quan hệ quốc tế thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề Trật tự thế giới từ năm 2001 đến năm 2012. Hội thảo đã thu hút được 28 bài viết của các nhà khoa học trong và ngoài đơn vị tham gia.

Nội dung các chuyên đề tham luận tại Hội thảo rất phong phú, tập trung làm nổi bật những vấn đề về trật tự và cục diện thế giới trong thời gian hơn một thập niên đầu thế kỷ XXI, như: thuyết về trật tự thế giới cục diện thế giới, về quyền lực cạnh tranh quyền lực trong quan hệ quốc tế; Cục diện mới trong quan hệ giữa các nước lớn và tác động của những sự cạnh tranh này đối với Việt Nam; Cục diện quan hệ quốc tế ở một số khu vực, giữa các cường quốc; Tập hợp lực lượng và tương quan lực lượng trên thế giới. Ngoài ra, một số tham luận còn đề cập những vấn đề về Chủ nghĩa tư bản trong quá trình hình thành trật tự thế giới mới, về vai trò của các nước đang phát triển trong xu thế thiết lập lại trật tự thế giới mới,… Có thể khái quát các đề tài tham gia Hội thảo thành 5 nhóm vấn đề lớn sau đây:

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước tình hình mới - Thực tiễn và kinh nghiệm ở Bình Thuận

 


Wednesday, September 8, 2021

Cán bộ tổ chức với việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

 


Biết địch, biết ta điều kiện tiên quyết trong nhận thức thời cơ, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)

 


KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG

 Lê Hữu Nghĩa

TCCS - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và được bổ sung, phát triển năm 2011 và các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc thời kỳ đổi mới đều khẳng định: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Đồng thời Đảng yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải “kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(1). Kiên định và sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hai mặt của một vấn đề thống nhất với nhau; kiên định phải trên cơ sở sáng tạo và sáng tạo phải trên cơ sở kiên định, nếu không sẽ sa vào sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, máy móc hoặc chủ nghĩa cơ hội, xét lại.

Trong hơn 88 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại; nhờ đó đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, vượt qua mọi thác ghềnh, vượt qua những thời điểm hiểm nghèo của cách mạng.

PH.ĂNGGHEN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH QUAN NIỆM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ

 Hoàng Hải Bằng (*)

 

Từ nửa đầu những năm 40 của thế kỷ XIX, Ph.Ăngghen đã có những nghiên cứu độc lập và tiến dần đến quan niệm duy vật về lịch sử. Ông đã đưa ra một số kết luận quan trọng về vai trò của các quan hệ kinh tế trong đời sống xã hội, chỉ ra nguồn gốc và tính tất yếu của cách mạng xã hội, giải thích sự tiếp nối của hệ thống các yếu tố lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng chính trị, vạch rõ tính giai cấp của ý thức xã hội… Với những đóng góp này, công lao của Ph.Ăngghen trong việc xây dựng chủ nghĩa duy vật lịch sử là đặc biệt quan trọng, mặc dù ông luôn coi thành tựu ấy là kết quả do sự lao động sáng tạo của riêng C.Mác. Đó là sự khiêm nhường của một nhân cách lớn.

 

  

 Ph.Ăngghen (1820 - 1895)


MÂU THUẪN CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN NAY

 


VỀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG GIAI ĐOẠN TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY

Nguyễn Ngọc Chuẩn

Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, cái giúp cho con người vượt qua những khó khăn, thử thách, giải thoát con người khỏi những thách đố và vướng mắc của cuộc sống, đáp ứng nhu cầu thường nhật và lâu dài của nhân loại không chỉ là kinh tế, kỹ thuật hiện đại và công nghệ cao, mà còn là triết học. Triết học giúp cho con người tìm ra lời giải không chỉ cho những thách đố muôn thuở, mà còn cho những vấn đề hoàn toàn mới do quá trình toàn cầu hoá đặt ra. Triết học không chỉ giúp con người nhận thức rõ địa vị của mình, lối sống xứng đáng với con người, mà còn giúp họ xác định mục tiêu và lý tưởng sống để từ đó, góp phần biến đổi hiện thực nhằm phục vụ cho chính mình. Không chỉ thế, trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, triết học còn giúp cho con người có được sự định hướng đúng đắn trong hành động và củng cố quyết tâm hành động, đánh giá đúng những biến động đang diễn ra, gợi mở cách đi, hướng giải quyết các vấn đề  mà cuộc sống đang đặt ra. Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, triết học cũng đang thực hiện chính những vai trò to lớn đó.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đồng hành cùng dân tộc và chủ nghĩa xã hội


DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI GIÁ TRỊ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 TS. Cao Đức Thái

QĐND - Giá trị của một dân tộc là nền tảng tinh thần được hình thành trong lịch sử lâu dài trong một cộng đồng, đó là truyền thống dựng nước, giữ nước, đó là những phương châm về đạo lý, lẽ sống của xã hội… Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển những giá trị dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay...

QĐND - Giá trị của một dân tộc là nền tảng tinh thần được hình thành trong lịch sử lâu dài trong một cộng đồng, đó là truyền thống dựng nước, giữ nước, đó là những phương châm về đạo lý, lẽ sống của xã hội… Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển những giá trị dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay. Những giá trị cơ bản đó có thể được khái quát như sau:

Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước, là ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống các thế lực xâm lược. Cho dù sức mạnh của chúng lớn đến đâu, sự tàn bạo của chúng như thế nào và âm mưu thâm hiểm ra sao…, cũng không thể khuất phục được dân tộc ta. Phát triển chủ nghĩa yêu nước, ý thức về độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh đã gắn truyền thống đó với khái niệm về bình đẳng và quyền của mỗi dân tộc. Trong Tuyên ngôn độc lập, Người viết: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Một trong những tư tưởng lớn của Người là gắn liền độc lập dân tộc với tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân. Người nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra ác liệt, Người nói: “ Không có gì quý hơn độc, lập tự do”. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh đến mục tiêu của Đảng ta là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh…”

Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đôi điều góp bàn thêm







Thử phân tích khái niệm và đề xuất bộ chỉ báo nhận diện bình đẳng giới ở Việt Nam

 


Biến đổi giá trị đạo đức trong bối cảnh kinh tế thị trường


Vận dụng văn hóa hòa bình và khoan dung của Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế về văn hóa


Tăng trưởng xanh - "Chìa khóa" để phát triển bền vững, thịnh vượng

 


Tăng cường hoạt động thông tin và dự báo thị trường phục vụ chiến lược xuất khẩu của Việt Nam hiện nay

 


Monday, September 6, 2021

HỌC TẬP BÁC NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM

 Nguyễn Thắm

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng “nói đi đôi với làm”, cho mọi thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo, đặc biệt là thế hệ trẻ - lực lượng góp phần quyết định sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc hiện tại cũng như trong tương lai.

Nói đi đôi với làm là một trong những phẩm chất sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mọi thế hệ người Việt Nam học tập và làm theo. Trong suốt cuộc đời, Bác đã thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ nói đi đôi với làm. Nhiều câu chuyện cảm động về việc nêu gương, nói đi đôi với làm của Bác để cho chúng ta học tập, từ đôi dép lốp Bác đi, áo vá vai Bác mặc đến cái ô tô cũ Bác dùng, việc nhịn bữa ăn để cứu dân nghèo... đã thể hiện tấm lòng nhân ái, tấm gương đạo đức, tư tưởng vì nước vì dân, Người nói: cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi , nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân.


KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN NHỮNG PHÁT NGÔN LỆCH LẠC, PHIẾN DIỆN VỀ PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID -19 !

                                                                                                           LÊ NGUYỄN

Trên cơ sở phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, thời gian qua chúng ta đã từng bước ngăn chặn có hiệu quả dịch bệnh Covid-19. Tuy vậy, với góc nhìn phiến diện, thiển cận, thiên kiến, một số cá nhân, tổ chức đang cố tình phủ nhận những thành quả trong phòng, chống dịch Covid-19 của nước ta. Nhận thức của những cá nhân, tổ chức này là không thể chấp nhận được và đáng bị xã hội lên án.

1. Cố tình phủ nhận những thành quả trong phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam, một số tổ chức, cá nhân cho rằng “Việt Nam chống dịch thành công là nhờ may mắn”(?). Gần đây (vào tối 3/8/2021), trên mạng xã hội xuất hiện một video dài 3 phút 59 giây ghi lại cuộc hội thoại diễn ra trong một tiết học online giữa một sinh viên và giảng viên của Trường Đại học ở Đà Nẵng - trong phần tranh luận, giảng viên T.T.T đã có những phát ngôn phủ nhận những thành quả chống dịch của Đảng, Nhà nước, chính quyền các địa phương, các tầng lớp nhân dân: “Từ đầu mùa dịch tới giờ Chính phủ đã hỗ trợ cho em cái gì chưa?”, “Có dân nước nào chạy 1.500 km về quê, như vậy hệ thống an sinh xã hội của chúng ta quá kém đúng không?... Cô cảm thấy rất nhục nhã vì đều đó. Khi dịch đến, những quốc gia trên thế giới người ta được hỗ trợ rất nhiều,… còn chúng ta thì thế nào? Em lên thử đèo Hải Vân coi, đó mới là sự nhục nhã...”.

HAI LỜI KÊU GỌI - MỘT QUYẾT TÂM CHÍNH TRỊ

                                                                                                           NGUYỄN CÔNG

Trong hơn một năm người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam đã hai lần ra Lời kêu gọi nhằm hiệu triệu sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cùng chung sức chống lại sự bùng phát của dịch bệnh Covid -19 ở Việt Nam. Hai lời kêu gọi ở hai thời điểm khác nhau nhưng với một quyết tâm chính trị cao nhất: nhanh chóng ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân, giữ vững thành quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh mới.

Đại dịch Covid-19 khởi nguồn từ Thành phố Vũ Hán (Trung Quốc) từ cuối năm 2019 và nhanh chóng lan rộng sang các nước châu Âu như Italy, Tây Ban Nha, Pháp, Anh vào tháng 3-2020. Sau đó, tâm dịch chuyển sang Ấn Độ, Iran ở châu Á, rồi đến Mỹ, Brazil ở châu Mỹ và đến nay dịch bệnh đã tấn công ở tất cả các quốc gia và châu lục trên toàn thế giới. Hiện nay, thế giới đang đối mặt với làn sóng bùng phát dịch Covid-19 mới với sự gia tăng nhanh chóng các ca nhiễm trên phạm vi toàn cầu. Thống kê mới nhất cho thấy, tổng số người nhiễm bệnh trên thế giới đến nay là 198.905.983, trong đó có 4.238.566 người tử vong, cụ thể số người nhiễm bệnh ở các châu lục: Châu Á: 62.273.770; Châu Âu: 51.584.509; Bắc Mỹ: 42.607.425; Nam Mỹ 35.539.924; Châu Phi: 6.793.591.

DÂN CHỦ VÀ KỶ CƯƠNG - NHÌN TỪ ĐẠI DỊCH COVID-19

                                                              HÀ SƠN

Covid-19 xuất hiện và tồn tại đến nay đã hơn một năm rưỡi và chắc chắn sẽ còn tồn tại trong một khoảng thời gian không ngắn. Sức tàn phá khủng khiếp cả về tính mạng và tài sản do con virut này gây ra đã biến nó trở thành một đại dịch toàn cầu. Không chỉ có thế, Covid-19 còn như “một chất thử liều cao” đối với các thể chế chính trị, các chính phủ trong việc nhìn nhận, đánh giá và xử lý các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội có liên quan mật thiết đến đời sống người dân.

Quả thực, nhìn vào thực tế những gì đã và đang diễn ra ở các nước đứng đầu thế giới về số người chết và số ca nhiễm, nghi nhiễm Covid-19 từ khi dịch bệnh này xuất hiện cho đến nay, chúng ta thấy được sự khác biệt rất rõ nét về cách thức các chính phủ nhìn nhận và giải quyết các thách thức do đại dịch Covid gây ra trong rất nhiều mối quan hệ, như: giữa tăng trưởng kinh tế và sức khỏe nhân dân; giữa lợi ích quốc gia dân tộc và trách nhiệm quốc tế; giữa nhà nước và thị trường trong cung ứng một số dịch vụ công thiết yếu; giữa bảo đảm dân chủ và tăng cường kỷ cương, kỷ luật…