Thursday, February 10, 2022
VẤN ĐỀ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ VÀ THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA V.I.LÊNIN
Lê Thị Thục
TCCSĐT - Trong xã hội hiện đại, quyền lực và
quyền lực chính trị là những vấn đề được nhắc đến ngày càng nhiều. Cùng với sự
ra đời và phát triển của các loại hình tổ chức xã hội, vấn đề thực thi quyền lực
nhằm đạt tới hiệu quả quản lý cao nhất trong các tổ chức ngày càng được các nhà
lãnh đạo, quản lý quan tâm. Tuy nhiên, nhận thức như thế nào là đúng về quyền lực
chính trị và thực thi quyền lực chính trị lại là một vấn đề còn gây tranh cãi.
Xu hướng
mơ hồ về quyền lực chính trị và nguồn gốc của nó là nguyên nhân của hàng loạt sự
chệch hướng, thậm chí sai lầm trong hoạt động thực tiễn hiện nay. Để có thể lý
giải cặn kẽ, từ đó có thái độ đúng đắn, khoa học về vấn đề này, việc trở lại
nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về quyền lực chính trị và các phương
thức thực thi quyền lực chính trị trong kho tàng lý luận Mác-xít nói chung,
trong các tác phẩm kinh điển của V.I.Lênin nói riêng là việc làm có ý nghĩa rất
quan trọng.
Về quyền lực chính trị trong thời đại
mới
Trong lịch sử xuất hiện giai cấp,
chính trị và nhà nước, quyền lực bao giờ cũng thể hiện cao nhất ở quyền lực
chính trị, quyền lực nhà nước của một giai cấp nào đó. Do vậy, quyền lực chính
trị, quyền lực nhà nước luôn mang tính giai cấp. Về vấn đề này, V.I.Lênin chia
sẻ quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước, về bộ máy quyền lực của các
giai cấp. Hơn nữa, ông cũng tiếp tục phát triển quan niệm của C.Mác và
Ph.Ăngghen về quyền lực chính trị với tư cách là bạo lực có tổ chức của một
giai cấp để trấn áp một giai cấp khác, đã phân tích sâu sắc thêm với sự bổ sung
những dữ kiện của tình hình mới và chỉ rõ quyền lực của giai cấp thống trị nào
phải bị xóa bỏ, thể chế nhà nước nào phải bị thay thế, và thông qua con đường
cách mạng xã hội với phương thức phổ biến của nó là bạo lực, là khởi nghĩa vũ
trang thì giai cấp mới nào sẽ lên thay giai cấp thống trị cũ, sẽ xác lập vị trí
thống trị của mình, sẽ lập ra thể chế nhà nước của mình như là công cụ thực hiện
quyền lực, thực hiện quyền thống trị của mình.
V.I.Lênin đã chỉ
ra bản chất mới của quyền lực chính trị và bộ máy thực thi quyền lực chính trị
trong thời đại mình. Theo ông, chuyên chính vô sản mang bản chất giai cấp công
nhân – giai cấp đã được giải phóng khỏi tình trạng nô lệ, đã trở thành giai cấp
thống trị, là chủ thể của quyền lực. Cái mới ở đây chính là sự gắn bó mật thiết
của giai cấp công nhân với toàn thể nhân dân lao động trong thực hiện lợi ích
và quyền lực của mình. Bản chất mới đó của quyền lực chỉ xuất hiện với giai cấp
vô sản cách mạng, khi nó thực hiện thành công cách mạng vô sản, xác lập được địa
vị thống trị và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước của mình.
Nếu như thời của C.Mác và
Ph.Ăngghen, Công xã Pari là sự thể nghiệm lịch sử đầu tiên quan niệm lý luận về
quyền lực của các nhà kinh điển Mác-xít và đã thiết lập được nền quyền lực của
giai cấp vô sản, cho dù nền quyền lực đó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian
ngắn ngủi, thì đến thời của V.I.Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga và chính quyền
Xô viết là một sự hiện thực hóa thực sự những quan niệm này. Thực tế xã hội Xô
viết trong và sau Cách mạng Tháng Mười là một minh chứng điển hình về bản chất
và con đường hình thành nên quyền lực của giai cấp vô sản và nhân dân lao động.
QUAN HỆ NƯỚC NHỎ - NƯỚC LỚN TRONG THẾ GIỚI HIỆN NAY
PGS, TS. Nguyễn Viết Thảo,
TS. Ngô Chí Nguyện
(LLCT) - Lịch sử thế giới cho thấy, các nước lớn và sự tương tác giữa họ
luôn đóng vai trò chi phối, thậm chí mang tính quyết định đến xu thế phát triển của chính trị thế giới và sự định
hình trật tự quốc tế. Đối với các nước nhỏ, quan hệ với nước lớn và xử lý những vấn đề liên quan luôn là vấn đề hệ trọng.
Ngày nay, quan hệ nước lớn - nước nhỏ đã khác trước về tính chất, điều kiện và
bối cảnh quy định. Bài viết này tập trung phân tích: 1) tiêu chí nhận diện một
nước lớn trong thế giới hiện nay; 2) tính chất của mối quan hệ nước lớn - nước
nhỏ; 3) kinh nghiệm của Việt Nam trong ứng xử với các nước lớn.
1. Nhận diện nước lớn
Nước
lớn (cường quốc)
là khái niệm dùng để chỉ những
quốc gia có diện tích rộng, dân số đông và có nguồn lực
phát triển vượt trội so với nhiều nước khác. Đó là nước có tiềm lực, sức mạnh
và ảnh hưởng vượt trội về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế và văn hóa,
có khả năng tạo ảnh hưởng, chi phối và định hình chính sách và hành vi của các
quốc gia khác trên thế giới cũng như chi phối sự vận động của hệ thống quan hệ
quốc tế, của các xu thế quốc tế và việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu.
Hiện nay, không có một nhận thức thống nhất hay một định nghĩa chung về nước lớn. Việc phân định nước lớn - nước nhỏ phụ thuộc vào góc nhìn từ mỗi quốc gia dựa trên sự so sánh tương quan sức mạnh, vị thế và sự ảnh hưởng của quốc gia đó với các quốc gia khác. Theo đó, một quốc gia có thể là nhỏ trong mối quan hệ này nhưng lại được xem là lớn trong mối quan hệ với những nước khác và ngược lại(1). Thí dụ như: Canađa, Braxin và Ốtxtrâylia là nước lớn trên thế giới về mặt diện tích lãnh thổ và nguồn lực tài nguyên; Ấn Độ, Inđônêxia, Pakixtan là cường quốc dân số của thế giới. Tuy nhiên, sức mạnh tổng hợp của các quốc gia này chưa đạt tới vị thế của một cường quốc thế giới. Trên thực tế, trong việc phân định và đánh giá một nước là lớn hay nhỏ, yếu tố sức mạnh tổng hợp mà nổi bật là sức mạnh quân sự, kinh tế và khoa học - công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Hà Lan là một quốc gia nhỏ ở châu Âu, nhưng thế kỷ XV-XVI với sức mạnh vượt trội của mình, đã “bá quyền” cả thế giới với mệnh danh “Người đánh xe trên biển”. Nước Anh với diện tích chỉ hơn 200 nghìn km2 nhưng trong thế kỷ XIX được mệnh danh là “Đất nước mặt trời không bao giờ lặn”. Hiện nay, Pháp, Anh, Đức, Nhật Bản mặc dù về diện tích và dân số họ chỉ là những quốc gia trung bình của thế giới, nhưng với sức mạnh tổng hợp của mình đặc biệt là về kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự cũng như vị thế quốc tế, họ được xem là những nước lớn của thế giới. Cũng xét theo tiêu chí này, một số nước dù là nhỏ như Hàn Quốc hay Ixraen, thậm chí rất nhỏ về mặt diện tích và quy mô dân số như Xinhgapo và Qatar nhưng lại sở hữu sức mạnh kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự và tầm ảnh hưởng quốc tế đáng khâm phục.
VÌ SAO ĐẢNG TA LẤY CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀM NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG
TS. Cao Đức Thái
Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển năm
2011) (gọi tắt là Cương lĩnh 2011) của Đảng đã ghi: Đảng Cộng sản Việt Nam lấy
chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho hành động của mình. Điều đó hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với quá trình
phát triển của cách mạng Việt Nam và tiến trình lịch sử thế giới.
Trong các xã hội hiện đại, lý luận
về phát triển giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Trong thế kỷ XX, nhân loại đã
từng chứng kiến vai trò tích cực và tiêu cực của nhiều học thuyết. Chủ
nghĩa Mác – Lê-nin đã dẫn đến thành lập các đảng cộng sản, Cách mạng Tháng Mười
và nước Nga Xô-viết đã ra đời - nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới - mở
ra một thời đại mới cho nhân loại, khơi nguồn cho phong trào giải phóng dân tộc
trên thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa phát xít đã dẫn tới
Chiến tranh thế giới thứ Hai - một thảm họa lớn của nhân loại… Chủ nghĩa tự do
cũ và mới, mà Hoa Kỳ là tiêu biểu đã phát triển mạnh mẽ rồi rơi vào khủng
hoảng. CNXH dân chủ và “con đường thứ ba” đã và đang tồn tại ở các nước Bắc Âu,
Cộng hoà Liên bang Đức… với những thành quả và khó khăn thể hiện trong các cuộc
khủng hoảng chính trị - xã hội, khiến cho người ta phải tìm tòi những giải pháp
khác nhau cho sự phát triển đất nước.
Sau
khủng hoảng và sụp đổ của một bộ phận quan trọng trong hệ thống XHCN thế giới
(1989 - 1991), có học giả cho rằng CNTB là “Sự tột cùng của lịch sử”. Thế rồi
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ (năm 2007 - 2009) và
hiện nay phong trào “Chiếm phố Uôn” nổ ra từ nước Mỹ lan rộng ra các nước tư
bản phát triển đã cho người ta thấy CNTB sẽ không bao giờ có thể thay đổi bản
chất của một xã hội bất công, cho nên cần phải thay đổi. Xã hội đó không thể là
“sự tột cùng của lịch sử”.
Một
kinh nghiệm xương máu rút ra từ tiến trình cải tổ, cải cách của các nước XHCN
trong thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX là đã không phát triển được lý luận mác-xít
đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống. Đặc biệt là, các đảng cộng sản không đánh giá
đúng tầm quan trọng của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, đã
du nhập các quan điểm dân chủ, nhân quyền cực đoan của phương Tây, như: đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập… dẫn tới sự sụp đổ một bộ phận quan trọng của
hệ thống XHCN.
Saturday, January 8, 2022
Thursday, December 16, 2021
VẤN ĐỀ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN”
Nguyễn Thị Chiên
Vấn đề quyền lực đã được đặt ra và nghiên cứu
từ thời cổ đại cho đến nay vẫn là vấn đề đang còn được các nhà khoa học chính
trị quan tâm nghiên cứu. Bởi lẽ, quyền lực là công cụ, phương tiện cơ bản nhất
giúp cho chủ thể nắm quyền có thể thoả mãn mọi nhu cầu, ý chí của mình. Điều đó
dẫn đến thực tế là chủ thể chính trị nào cũng muốn giành, giữ cho kỳ được quyền
lực để thực thi trong thực tế mọi nhu cầu và ý chí của mình. Do vậy, dù tự phát
hay tự giác, các chủ thể chính trị đều phải hiểu, phải có tri thức về quyền lực
chính trị.
Là lãnh tụ chính trị lỗi lạc của giai cấp công
nhân, hơn ai hết C.Mác và F.Ăngghen trong quá trình nghiên cứu lý luận, tổng
kết thực tiễn để xây dựng học thuyết đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân
đã chỉ rõ bản chất của quyền lực chính trị nói chung, quyền lực chính trị của
GCCN nói riêng và con đường biện pháp để giai cấp công nhân xác lập quyền lực
chính trị của mình. Những tư tưởng này được C.Mác và F.Ăngghen phản ánh một
cách rõ ràng, khúc chiết trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản.
Theo các ông “quyền lực chính trị theo đúng nghĩa của nó, là bạo
lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác”(1).).Vì vậy, giai
cấp công nhân, trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, nhất định phải đoàn
kết thành giai cấp để thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống
trị và “với tư cách là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt chế độ sản
xuất cũ, đồng thời với việc tiêu diệt chế độ sản xuất ấy nó cũng tiêu diệt luôn
cả những điều kiện của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt cả giai cấp nói
chung và cũng do đấy tiêu diệt cả sự thống trị của chính ngay giai cấp mình”(Sđd,
t21, tr 628). Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai
cấp của nó, là một chế độ xã hội mà trong đó “Sự phát triển tự do của mỗi người
là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(2). Đó chính là bản
chất quyền lực chính trị của giai cấp công nhân.
Vấn đề đặt ra ở đây là:
Thứ nhất, tại sao giai cấp công
nhân có sứ mệnh lịch sử đó;
Thứ hai, để thực hiện sứ mệnh
lịch sử của mình giai cấp công nhân cần phải làm gì ?
Trả lời cho vấn đề thứ nhất, các ông chỉ rõ cơ sở để giai cấp công
nhân có thể trở thành giai cấp thống trị là: Lịch sử các xã hội có đối kháng
giai cấp là “lịch sử đấu tranh giai cấp”. Kết cấu xã hội của xã hội bao giờ
cũng phản ánh phương thức sản xuất đi theo với sự đối kháng giữa các giai cấp
mà nó vốn có. Phương thức sản xuất quyết định yếu tố tồn tại về mặt xã hội của
giai cấp. Vai trò của một giai cấp trong việc tổ chức lao động của xã hội bắt
nguồn từ đó.
Trên cơ sở ấy, C.Mác và F.Ăng ghen đã phân tích một
cách khách quan xã hội TBCN, đánh giá đúng đắn vai trò của CNTB, của giai cấp
tư sản và những thành tựu mà CNTB tạo ra. Tuyên ngôn vạch rõ: “Giai cấp tư sản
trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy mội thế kỷ, đã tạo ra những lực
lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế lực
trước kia gộp lại” (3). Từ sự phân tích quá trình ra đời, tồn tại và phát triển
của CNTB, lột trần những mâu thuẫn nội tại, cố hữu của nó và sự đối kháng giai
cấp ngày càng tăng giữa tư sản và vô sản, hai ông đã rút ra kết luận quan trọng:
“Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu
như nhau”(4) và “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí đã giết mình,
nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy - những công nhân hiện đại, những
người vô sản” (5). Bởi lẽ, “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với
giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Các
giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công
nghiệp; Giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công
nghiệp”.
MỘT SỐ TRỤC QUAN HỆ QUỐC TẾ NỔI BẬT NĂM 2017
Hồng Vân
(VOV5)
- Trung Quốc cho rằng Mỹ cần thích ứng với sự phát triển của Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh hợp tác là
sự lựa chọn đúng đắn cho cả hai bên.
Năm 2017 chứng kiến những thay đổi
nhanh chóng trong đời sống chính trị thế giới. Các trục quan hệ chủ chốt đều có những
diễn biến bất ngờ, thậm chí là đảo
chiều, gây ra không ít xáo trộn trong quan hệ quốc tế, phần nào định hình tương lai
của thế giới.
Chủ tịch
Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng
thống Mỹ Donald
Trump - Ảnh: Sky
Năm 2017 là một trong số ít năm có các mối quan hệ quốc tế biến động nhanh, khó lường khi những diễn biến 6 tháng cuối năm trái ngược với 6 tháng đầu năm. Đáng chú ý trong những biến động đó phải kể đến trục quan hệ Mỹ - Nga, Mỹ - Trung và Mỹ - EU.
Đảo chiều trong quan hệ Mỹ - Nga, Mỹ - Trung
Những tưởng quan hệ Nga - Mỹ năm 2017
sẽ có nhiều khởi sắc sau khi ông Donald Trump đắc cử Tổng thống nhưng những gì
diễn ra trên thực tế lại cho thấy quan hệ giữa hai nước đang rơi vào một vòng
xoáy đối đầu chưa có điểm dừng. Trong suốt chiến dịch tranh cử Tổng thống, ông Trump nhiều lần phát đi thông điệp
và cam kết sẽ nỗ lực cải thiện quan hệ với Nga nhưng những tuyên
bố này đã nhanh chóng bị cuộc điều tra về cái gọi là “Nga can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ
năm 2016” phủ bóng đen.
Tổng thống Nga Vladimir Putin và người đồng cấp Mỹ Donald Trump nói chuyện bên lề hội nghị cấp cao APEC ở Đà Nẵng - Ảnh: Reuters
KIÊN ĐỊNH NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG VÀ KIM CHỈ NAM HÀNH ĐỘNG: CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
PGS,TS
Nguyễn Vĩnh Thắng
(LLCT)- Tại Đại hội XI, Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ
sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây
là một luận điểm quan trọng được khái quát từ thực tiễn phong phú, sinh động
của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc cách mạng XHCN ở nước ta;
chỉ ra nguồn gốc sâu xa mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản
Việt Nam tổ chức, lãnh đạo được lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi
đường, chỉ lối.
Vào giữa
thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành cuộc xâm lược và đặt ách thống trị của
chúng đối với dân tộc ta. Chúng đã câu kết với giai cấp phong kiến, địa chủ thống
trị nước ta vô cùng tàn bạo. Trong lúc vua quan nhà Nguyễn đầu hàng, thì nhân
dân ta đã anh dũng đứng lên chống xâm lược. Một số nhà nho yêu nước như Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh... đã đi tìm đường cứu nước, nhưng không thành công, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra đều lần lượt thất
bại và bị đàn áp khốc liệt. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cho đến đầu thế kỷ
XX gặp bế tắc về đường lối cứu nước.)
Trong bối cảnh đó, ngày 5-6-1911, từ bến
Cảng Sài Gòn, với hoài bão lớn lao, Hồ Chí Minh đã quyết chí ra đi tìm đường
cứu nước, cứu dân. Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Người đã đi đến rất
nhiều nơi, từ Pháp, Người đã đến nhiều nước khác ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ.
Và Người đã đến quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga, đến với chủ nghĩa Mác -
Lênin, đến với bản Luận cương của Lênin và như Người đã nói “Hỡi đồng
bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường
giải phóng chúng ta”(1). Trong quá trình vận dụng, phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và tổ chức lãnh đạo,
chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta giành được những thắng lợi to
lớn, Người tiếp tục khẳng định: chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người
cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những
là “cẩm nang” thần kỳ, không những là kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng
con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới CNXH và CNCS.
Từ thực tiễn thắng lợi của cách mạng
Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và trong
công cuộc xây dựng đất nước, nhất là từ thực tiễn phong phú, sinh động và những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành
được trong công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và CNXH, Đại hội IX
của Đảng nhấn mạnh: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam
theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh. Tại Đại hội XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng
định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(2). Đây là một luận điểm cực kỳ
quan trọng được khái quát rút ra từ thực tiễn phong phú, sinh động của cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc cách mạng XHCN ở nước ta, nó chỉ ra
nguồn gốc sâu xa của mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt
Nam tổ chức, lãnh đạo được lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường,
chỉ lối.
QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VỀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA LỊCH SỬ TRONG “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG
Phạm Văn Đức
Trên cơ sở trình
bày và phân tích quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về năm tiền đề của lịch sử,
tác giả khẳng định rằng: thứ nhất, cả năm tiền đề là những tiêu chí quan trọng
để phân biệt con người với con vật, trong đó bốn tiền đề ban đầu là nhu cầu cơ
bản và sản xuất, sự xuất hiện nhu cầu mới, việc tái tạo ra người khác, phương
thức sản xuất và hợp tác thuộc về những yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội; thứ
hai, nhu cầu không chỉ là động lực mà còn là nguồn gốc, tức là cái khởi nguồn
của sự biến đổi và phát triển của lịch sử và thứ ba, ý thức là một trong những
nhân tố không thể thiếu được của lịch sử. Với ý nghĩa đó, có thể nói, “Hệ tư tưởng
Đức” là tác phẩm đánh dấu sự chuyển biến một cách căn bản từ lập trường duy tâm
sang lập trường duy vật khi xem xét lĩnh vực xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen.
Ảnh minh họa
Hệ tư tưởng Đức là một tác phẩm quan trọng đánh dấu sự chuyển biến của C.Mác và Ph.Ăngghen từ lập trường duy tâm sang lập trường duy vật và là mốc đánh dấu sự chín muồi của quan niệm duy vật về lịch sử. Điều đó được thể hiện trước hết ở cách chọn đối tượng nghiên cứu của các ông, đó là con người.
Monday, November 22, 2021
Giảng viên Trường Đảng "Tự học" theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh
TS Nguyễn Thị Hoa Phượng
TS
Trần Thị Kim Ninh
Học viện Chính trị khu vực II
Tóm
tắt:
Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình nhà Nho yêu nước, chịu ảnh hưởng tư tưởng
tiến bộ của cụ thân sinh phó bảng Nguyễn Sinh Sắc “Ái quốc là ái dân”, sớm trăn
trở tìm con đường cứu nước cứu dân. Vì những lý do đó, người thanh niên yêu nước
Nguyễn Tất Thành gác lại sự nghiệp học hành, ra đi tìm đường cứu nước. Trong
quá trình bôn ba năm châu, bốn bể, tìm tòi, khảo nghiệm, Người vừa lao động, vừa tự học để có hiểu biết, có
tri thức làm cách mạng; đồng thời, đó cũng là quá trình tự học. Tìm hiểu tấm
gương tự học Hồ Chí Minh có giá trị to lớn đối với việc học tập, rèn luyện của
đội ngũ giảng viên Trường Đảng hiện nay.
Từ
khóa: Đội ngũ
giảng viên trường Đảng; tự học; Chủ tịch Hồ Chí Minh
Người thanh niên Nguyễn Tất Thành sinh
ra ở thời điểm dân tộc Việt Nam đang bị đắm chìm trong cảnh nước mất nhà tan,
cả dân tộc đang trăn trở tìm lời đáp cho câu hỏi: Làm thế nào để giải phóng dân
tộc giành độc lập dân tộc? Để tìm ra câu trả lời, người thanh niên yêu nước
Nguyễn Tất Thành đã không chọn con đường học hành theo lối cổ truyền để trở
thành một nhà Nho học hay một viên quan lại dưới chế độ thuộc địa nửa phong
kiến, mà đã có một quyết định táo bạo: “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp
và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng
bào chúng ta”[1]. Từ
đây, con đường hoạt động cách mạng thực tiễn của Hồ Chí Minh chính là con đường
tự học, chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức của nhân loại.
Wednesday, November 10, 2021
Chính sách phát triển giảng viên chính trị ở Việt Nam hiện nay
Chính sách phát triển giảng viên chính trị ở Việt Nam hiện nay / Nguyễn Thị Hoa, Bùi Nghĩa. - Tp. Hồ Chí Minh : Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, 2019. - 112 tr. ; 21 cm.
Nội dung cuốn sách trình bày lịch sử nghiên cứu về giảng viên chính trị, lý luận chung về chính sách phát triển giảng viên chính trị ở Việt Nam hiện nay, thực trạng chính sách phát triển giảng viên chính trị ở Việt Nam hiện nay và một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển giảng viên chính trị ở Việt Nam.
1. Chính sách 2. Phát triển 3. Giảng viên 4. Chính trị 5. Việt Nam 6. Hiện nay
Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 2016 - 2020
Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 2016 - 2020: Lưu hành nội bộ / Đảng Cộng sản Việt Nam. - H. : Chính trị Quốc gia, 2021. - 1031 tr. ; 24 cm.
Cuốn sách trình bày có hệ thống các nghị quyết, chỉ thị, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban bí thư khóa XII, được ban chấp hành từ năm 2016 đến năm 2020 trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Nội dung cuốn sách gồm có 3 phần:
- Phần thứ nhất: Các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Ban ban chấp hành Trung ương Đảng 2016 - 2020.
- Phần thứ hai: Các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị và Ban bí thư 2016 - 2020.
- Phần thứ ba: Các kết luận của Bộ Chính trị và ban bí thư 2016 - 2020.
1. Nghị quyết 2. Trung ương Đảng 3. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng của Đảng cộng sản Việt Nam thời kỳ 1930 - 1975
Các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng của Đảng cộng sản Việt Nam thời kỳ 1930 - 1975 / Nguyễn Ngọc Hà, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Biện Thị Hoàng Ngọc,…- H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 946 tr. ; 22 cm.
Phân tích bối cảnh lịch sử, nội dung, cách thức, kết quả, ý nghĩa tác động của các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng từ khi Đảng được thành lập năm 1930 đến năm 1975, từ đó bước đầu đưa ra một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử quý báu
1. Vận động 2. Chỉnh đốn 3. Đảng của Đảng cộng sản Việt Nam 4. 1930 - 1975
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 1: Khu ủy I, khu ủy X, khu ủy XII, khu ủy XIV, liên khu ủy X (1946 - 1948)
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 1: Khu ủy I, khu ủy X, khu ủy XII, khu ủy XIV, liên khu ủy X (1946 - 1948) / Nguyễn Thị Thu Hương (ch.b), Nguyễn Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Hải. - H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 946 tr. ; 22 cm.
Giới thiệu 155 tài liệu, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, thông cáo, báo cáo, biên bản, đề án của các tổ chức tiền thân của Liên khu uỷ Việt Bắc như: Khu uỷ I, Khu uỷ X, Khu uỷ XII, Khu uỷ XIV và Liên khu uỷ X từ năm 1946 đến năm 1948 phản ánh hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo đối với các địa phương trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội, xây dựng Đảng...
1. Văn kiện 2. Liên khu ủy Việt Bắc 3. 1946 - 1956 4. Tập 1 5. 1946 - 1948
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 3: Liên khu ủy I (1948)
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 3: Liên khu ủy I (1948) / Đinh Hữu Long (ch.b), Vũ Thúy Mai, Vũ Thị Duyên,…. - H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 828 tr. ; 22 cm.
Giới thiệu 59 tài liệu, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, thông cáo, báo cáo, công văn... phản ánh hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Liên khu uỷ I đối với cuộc kháng chiến ở Liên khu trong năm 1949 trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, an ninh, công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng Đảng...
1. Văn kiện 2. Liên khu ủy Việt Bắc 3. 1946 - 1956 4. Tập 3 5. 1948
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 4: Liên khu ủy I (1949)
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 4: Liên khu ủy I (1949) / Huỳnh Thị Mai Hoa (trưởng nhóm), Phan Thị Hải, Hà Thị Hương . - H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 836 tr. ; 22 cm.
Giới thiệu 78 tài liệu, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, thông cáo, báo cáo, công văn... phản ánh hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Liên khu uỷ I đối với cuộc kháng chiến ở Liên khu trong năm 1949 trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, an ninh, công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng Đảng...
1. Văn kiện 2. Liên khu ủy Việt Bắc 3. 1946 - 1956 4. Tập 4 5. 1949
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 5: Liên khu ủy Việt Bắc (1949 - 1950)
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 5: Liên khu ủy Việt Bắc (1949 - 1950) / Phạm Thị Thu Hiền (ch.b), Nguyễn Văn Quang, Ngô Tú Quyên,… . - H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 828 tr. ; 22 cm.
Giới thiệu 150 tài liệu, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, thông cáo, báo cáo, công văn... phản ánh hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Liên khu uỷ Việt Bắc trong hai năm 1949 - 1950 trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, an ninh, công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 6: Liên khu ủy Việt Bắc (1951 - 1952)
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 6: Liên khu ủy Việt Bắc (1951 - 1952) / Phạm Thị Thinh (trưởng nhóm), Trịnh Thị Hương, Phan Thị Hải. - H. : Chính trị Quốc gia, 2020. - 948 tr. ; 22 cm.
Giới thiệu 173 tài liệu, bao gồm toàn bộ các văn kiện Đại hội đại biểu Liên khu uỷ Việt Bắc lần thứ I; các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, báo cáo, công văn chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Liên khu uỷ Việt Bắc trong hai năm 1951 - 1952 trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, an ninh, công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng Đảng...
1. Văn kiện 2. Liên khu ủy Việt Bắc 3. 1946 - 1956 4. Tập 6 5. 1951 - 1952
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 7: Liên khu ủy Việt Bắc (1953)
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 7: Liên khu ủy Việt Bắc (1953) / Nguyễn Thị Hồng Phượng (trưởng nhóm), Nguyễn Thị Hải, Hà Thị Hương.- H. : Chính trị Quốc gia, 2020.- 946 tr.; 22cm.
Giới thiệu 111 tài liệu, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, thông cáo, báo cáo, kế hoạch, đề án của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Liên khu uỷ Việt Bắc ban hành trong năm 1953 trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, an ninh, công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng Đảng...
1. Văn kiện 2. Liên khu ủy Việt Bắc 3. 1946 - 1956 4. Tập 7 5. 1953
Văn kiện Liên khu ủy Việt Bắc giai đoạn 1946 - 1956. Tập 8: Liên khu ủy Việt Bắc (1954)
Tuesday, November 9, 2021
Monday, November 8, 2021
Thursday, November 4, 2021
GIÁ TRỊ VỮNG BỀN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
PGS, TS Đặng Quang Định
(LLCT) - Trong toàn bộ lịch sử tư tưởng nhân loại, không một tư tưởng
nào, học thuyết nào về lịch sử có thể sánh kịp với chủ nghĩa Mác về phương diện
khoa học và cách mạng. Bằng việc phát hiện ra những quy luật khách quan của sự
vận động, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất và lịch sử loài người, lần đầu
tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác đã chỉ ra cho giai cấp vô sản và
nhân loại tiến bộ toàn thế giới con đường và biện pháp hiện thực để tự giải
phóng khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công và xây dựng một chế độ xã hội mới
hướng đến sự giải phóng triệt để và phát triển toàn diện con người.
Nói một cách khái quát, chủ nghĩa
Máclà học thuyết về sự giải phóng và phát triển. Chủ nghĩa ấy hướng đến sự giải
phóng triệt để con người khỏi mọi sự nô dịch, áp bức bóc lột, sự hạn chế trong
các quan hệ xã hội và hướng đến sự giải phóng triệt để con người. Chủ nghĩa ấy
được xây dựng trên cơ sở kế thừa các thành tựu nhận thức khoa học của lịch sử
tư tưởng nhân loại vàchỉ ra được những quy luật chi phối toàn bộ sự vận động và
phát triển của thế giới vật chất nói chung và lịch sử xã hội nói riêng, chấm
dứt mọi sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, chủ nghĩa duy vật siêu hình
trong giải thích các hiện tượng xã hội và lịch sử. Chủ nghĩa Máccũng đóng góp
vô cùng quý giá vào sự phát triển củatriết học, kinh tế chính trị học, chủ
nghĩa cộng sản khoa học và nhiều khoa học khác, trở thành nền tảng lý luận có ý
nghĩa phương pháp luận to lớn trong việc phát triển tư duy và nhận thức của
nhân loại. Lần đầu tiên chủ nghĩa ấy cung cấp phương pháp luận khoa học trong
nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Nó góp phần thay đổi căn bản tư
duy của nhân loại trong việc thay đổi, cải tạo thế giới, hướng đến việc xây
dựng một thế giới của con người, cho con người, vì con người. Ở đó, sự phát
triển của mỗi người là tiền đề cho sự phát triển và tự do của tất cả mọi người.
Vì vậy, chủ nghĩa ấy, đồng thời bao hàm tính cách mạng. Tính khoa học và cách
mạng đã làm nên những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mácvà sức sống mạnh mẽ
trong thời đại của chúng ta. Có thể khái quát những giá trị bền vững của chủ
nghĩa Mác ở những nội dung sau:
