Wednesday, March 1, 2023
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chủ nghĩa tư bản
độc quyền nhà nước (cũng được
gọi là stamocap)[1] là một hình thức cực đoan của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong đó nhà nước được coi là một doanh nghiệp độc quyền duy
nhất chi phối hầu hết các hoạt động sản xuất và phân phối hàng hóa trong nền
kinh tế. Nhà nước sẽ kiểm soát mọi hoạt động kinh tế, thương mại và các cơ sở
sản xuất được tổ chức và quản lý như doanh nghiệp nhà nước (bao gồm cả quá
trình tích lũy vốn, lao động tiền lương và quản lý tập trung). Các hoạt động
trong nền kinh tế được hoạch định và điều phối bởi các cơ quan lập kế hoạch
kinh tế và các cơ quan chính phủ được tập trung hóa (các cơ quan được tổ chức
theo thực tiễn quản lý kinh doanh).
Chủ nghĩa tư bản
độc quyền nhà nước là một học thuyết Leninist được
phổ biến sau Thế chiến II. Lenin đã tuyên bố vào năm 1916
rằng Chiến tranh thế giới thứ nhất đã biến
đổi chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa tư
bản độc quyền, nhưng ông đã không xuất bản bất kỳ học thuyết mở rộng
nào về chủ đề này. Thuật ngữ chủ nghĩa tư bản độc quyền đề cập đến một môi
trường mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để bảo
vệ các doanh nghiệp độc quyền hoặc độc quyền lớn hơn khỏi các mối đe dọa. Lenin
trong cuốn sách nhỏ của ông cùng tên nhằm mục đích mô tả chủ nghĩa đế quốc như
là giai đoạn lịch sử cuối cùng của chủ nghĩa tư bản, trong đó ông tin rằng chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn cao nhất của chủ nghĩa tư bản mà chủ nghĩa tư
bản đã biến thành chủ nghĩa tư bản độc quyền.[2] Chiến
tranh thế giới thứ I đã chuyển hóa chủ nghĩa tư bản độc quyền thành chủ nghĩa
tư bản độc quyền nhà nước. Sau cách mạng tháng 10, Lenin chủ trương áp dụng chủ
nghĩa tư bản độc quyền nhà nước vào nước Nga như là "sự chuẩn bị vật
chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội, là
nấc thang lịch sử mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là chủ nghĩa
xã hội thì không có một nấc thang nào ở giữa cả"[3]. Sau thế chiến thứ II do ảnh hưởng của
Liên Xô với tư cách một nước thắng trận khiến lý luận về chủ nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước được phổ biến ra toàn thế giới.
Đôi khi khái niệm này cũng xuất hiện trong lý thuyết Chủ nghĩa tân Trotsky của chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng như trong các lý thuyết chống nhà nước tự do chủ nghĩa. Các phân tích được thực hiện thường là giống hệt nhau trong ở các đặc điểm chính, nhưng kết luận chính trị rất khác nhau được rút ra từ nó.
KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG
Lê Hữu Nghĩa
Kiên định và sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hai mặt của một vấn đề thống nhất với nhau;
kiên định phải trên cơ sở sáng tạo và sáng tạo phải trên cơ sở kiên định, nếu
không sẽ sa vào sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, máy móc hoặc chủ nghĩa cơ hội,
xét lại.
Trong hơn 88 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng
ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin,
nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng
sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt
Nam và thời đại; nhờ đó đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng
lợi khác, vượt qua mọi thác ghềnh, vượt qua những thời điểm hiểm nghèo của cách
mạng.
1- Từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phe XHCN tan rã, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng, chống phá chế độ XHCN ở nước ta. Trong khi chúng ta đang đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ thì cũng xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức. Những khó khăn, thách thức đó, một mặt, do những vấn đề mới, những mâu thuẫn mới nảy sinh trong quá trình đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu; mặt khác, do những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm chưa được khắc phục kịp thời, đồng thời cộng với tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Tình hình khách quan đó đã tác động đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu, bản lĩnh chính trị không vững vàng nên có sự dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng XHCN và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) của nước ta, phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tình trạng nhạt Đảng, xa rời chính trị, phai nhạt lý tưởng đã và đang diễn ra. Một số cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả cán bộ cao cấp mất lòng tin vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vào lý tưởng XHCN, giảm sút ý chí chiến đấu, mắc phải những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra. Trong nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên có sự mơ hồ, không phân biệt đúng - sai ở tầm quan điểm về những vấn đề lớn, như đánh giá về bản chất của thời đại, về chủ nghĩa tư bản (CNTB), về CNXH, về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về nguyên nhân sự sụp đổ của Liên Xô, về thời kỳ quá độ và định hướng XHCN ở nước ta, về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về vai trò của kinh tế tư nhân, về kinh tế thị trường định hướng XHCN, về chế độ sở hữu đất đai,...
LIÊN HỢP QUỐC CẢNH BÁO VỀ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI
LIÊN HỢP QUỐC CẢNH BÁO VỀ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI
Xuân Vinh
QĐND - Theo báo cáo do
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3, thế giới
tuy đã đạt được một số tiến bộ trong việc thu hẹp tình trạng bất bình đẳng giới
trong 20 năm qua, song nữ giới vẫn có ít cơ hội tiếp cận việc làm hơn, có xu
hướng phải chấp nhận những việc làm chất lượng thấp nhiều hơn và phải đối diện
với nhiều rào cản trong bổ nhiệm vào các chức vụ quản lý.
Báo cáo "Triển vọng Xã hội và việc làm của thế giới: Những
xu hướng cho phụ nữ năm 2018-khái quát" của Liên hợp quốc (LHQ) cho thấy,
tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động toàn cầu là 48,5% trong năm 2018, thấp
hơn 26,5% so với tỷ lệ của nam giới. Báo cáo cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp
của phụ nữ trên toàn thế giới là 6% trong năm 2018, cao hơn khoảng 0,8% so với
tỷ lệ của nam giới. Tính trung bình, cứ 10
nam giới có việc làm thì chỉ có 6 phụ nữ được tuyển dụng.
Trên phạm vi toàn thế giới, thu nhập trung bình của phụ nữ thấp
hơn nam giới tới 23%. Với tốc độ hiện tại, thế giới sẽ cần tới 70 năm để chấm
dứt tình trạng này và lúc đó hai giới sẽ có mức thu thập ngang nhau. Ngày
7-3, Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) cho biết, thu nhập trung bình của phụ
nữ tại các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) thấp hơn nam giới khoảng 16%
trong năm 2016. Cụ thể, nếu nam giới kiếm được 1 euro trong một giờ làm việc,
con số này ở nữ giới chỉ được trung bình là 84 cent. Tại châu Âu, Đức và Anh
đứng đầu về mức chênh lệch trong thu nhập giữa nam và nữ-lên tới 21%. Romania,
Italy và Luxembourg ghi nhận số liệu tích cực hơn (5%) trong khi tại Pháp, một
nền kinh tế lớn khác của châu Âu, phụ nữ thu nhập kém nam giới 14%.
Hồ Chí Minh và tác phẩm "ngục trung nhật ký"
Hồ Chí Minh và tác phẩm "ngục trung nhật ký" / Đỗ Hoàng Linh (ch.b), Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Thị Bình. - H. : Thông tin và Truyền thông, 2022. - 408 tr. ; 24 cm.
Giới thiệu 134 bài thơ trong tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh cùng những lời bình một số bài thơ tiêu biểu dưới cái nhìn cụ thể đến bao quát của các nhà phê bình văn học nổi tiếng như: Nguyễn Đình Thi, Lê Anh Trà, Chiến Kỳ, Vũ Ngọc Phan...
1. Hồ Chí Minh 2. Ngục trung nhật ký
Xuất bản cách mạng Việt Nam - 70 năm đồng hành cùng đất nước
Xuất bản cách mạng Việt Nam - 70 năm đồng hành cùng đất nước (1952 - 2022) / Ban Tuyên giáo Trung uơng Đảng. Thông tấn xã Việt Nam. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 240 tr. ; 25 cm.
Cuốn sách góp phần tuyên truyền sâu rộng truyền thống vẻ vang cùng những đóng góp thiết thực của ngành xuất bản, in và phát hành sách Việt Nam, tôn vinh, tri ân công lao, đóng góp của các thế hệ cán bộ, viên chức, người lao động làm trong lĩnh vực này đối với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng, của dân tộc trong 70 năm qua.
1. Xuất bản cách mạng Việt Nam 2. 70 năm 3. 1952 - 2022
Đường lối văn hóa của Đảng trong chấn hưng, phát triển văn hóa Việt Nam
Đường lối văn hóa của Đảng trong chấn hưng, phát triển văn hóa Việt Nam / Lê Mậu Lâm (ch.b), Ngô Vương Nah, Nguyễn Băng Nhi. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 716 tr. ; 24 cm.
Cuốn sách chia làm 3 phần gồm các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về chủ trương, đường lối văn hóa trong bối cảnh mới; các bài viết lý luận về xấy dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới và tổ chức thực hiện ở một số cơ quan, bộ, ngành, địa phương.
1. Đường lối 2. Văn hóa 3. Đảng Công sản Việt Nam
Cảnh sát Liên Hiệp Quốc và sự tham gia của Việt Nam trong trong thời gian tới
Cảnh sát Liên Hiệp Quốc và sự tham gia của Việt Nam trong trong thời gian tới: Sách chuyên khảo / Nguyễn Việt Lâm, Đỗ Lê Chi. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 335 tr. ; 21 cm.
Cuốn sách cung cấp những hiểu biết chung về nhiệm vụ giữ gìn hòa bình của Liên Hiệp Quốc nói chung, trong đó có nhiệm vụ của Cảnh sát Liên hợp quốc, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về Việt Nam tham gia hoạt động Cảnh sát Liên hợp Quốc thời gian tới, từ đó đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị.
1. Cảnh sát 2. Liên Hiệp Quốc 3. Sự tham gia của Việt Nam 4. Trong thời gian tới 4. Sách chuyên khảo
Mối quan hệ giữa Kinh tế và Văn hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay
Thursday, February 2, 2023
Võ Văn Kiệt - Trí tuệ và sáng tạo
Võ Văn Kiệt - Trí tuệ và sáng tạo. T.1: Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đến ngày ký Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam / Hoàng Lại Giang. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 255 tr. ; 21 cm.
Nội dung cuốn sách tái hiện chặng đường đầu tiên trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Võ Văn Kiệt - Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đến ngày ký Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam
1. Võ Văn Kiệt 2. Trí tuệ 3. Sáng tạo 4. Khởi nghĩa Nam Kỳ 5. Hiệp định Giơnevơ 6. Việt Nam
Giới thiệu tác phẩm "Bút ký Triết học" của V.I. Lênin
Giới thiệu tác phẩm "Bút ký Triết học" của V.I. Lênin. -H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 76 tr. ; 19 cm.
Nhằm giúp bạn đọc dễ dàng hơn trong việc tiếp cận, nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, tác giả với cách dẫn dứt vấn đề ngắn gọn, dễ hiều, cuốn sách sẽ "đồng hành cùng bạn đọc trong việc tìm hiểu và vận dụng học thuyết Mác - Lênin trong hoạt động thực tiễn xây dựng và bảo vệ tổ quốc ta hiện nay.
1. Giới thiệu tác phẩm 2. Bút ký Triết học 3. V.I. Lênin
Những bức thư của Bác Hồ nhân dịp đầu năm học mới
Những bức thư của Bác Hồ nhân dịp đầu năm học mới / Hồ Chí Minh. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 452 tr. ; 15 cm.
Cuốn sách gồm những bức thư, bài viết, thiếp chúc mừng và lời căn dặn của Bác Hồ viết cho học sinh và cán bộ, giáo viên ngành giáo dục nhân dịp khai trường đầu năm học mới từ năm 1945 đến năm 1969, được tuyển chọn từ bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập, gồm 15 tập, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản năm 2021.
1. Bác Hồ 2. Giáo dục 3. Bức thư 4. Đầu năm học mới
Giá trị và sự vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Giá trị và sự vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay / Trần Thị Minh Tuyết (ch.b), Doãn Thị Chín, Lê Đình Năm,…. - Xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung. -H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 360 tr. ; 21 cm.
Nội dung cuốn sách được kết cấu thành ba chương:
Chương I: Giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chương II: Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước.
Chương III: Tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.
1. Giá trị 2. Sự vận dụng 3. Phát triển 4. Tư tưởng Hồ Chí Minh
Phát triển kỹ năng và nghệ thuật lãnh đạo
Phát triển kỹ năng và nghệ thuật lãnh đạo / Phạm Đi. -H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 520 tr. ; 24 cm.
Cuốn sách gồm 10 chương gắn với các vấn đề về khoa học lãnh đạo nói chung, phát triển kỹ năng và nghệ thuật lãnh đạo nói riêng. Ngoài cập nhật kiến thức cơ bản đáp ứng một phần yêu cầu của người lãnh đạo, quản lý trong bối cảnh và tình hình mới, trên một phương diện khác, một số nội dung trong cuốn sách là chất xúc tác truyền cảm hứng cho độc giả về vai trò, trách nhiệm của mỗi người với tư cách là một thành viên của xã hội, góp phần thúc đẩy sự gắn kết xã hội và chủ động thích ứng, sáng tạo, đổi mới trong chính vị trí việc làm của mình. Cuốn sách cũng là những gợi mở cho bất cứ ai muốn "quản trị bản thân", thay đổi hành vi trong giao tiếp, trong ứng xử, trong thiết lập và duy trì các mối quan hệ, làm phong phú hơn đời sống tinh thần, thể hiện khả năng "lãnh đạo không chức danh" của mình, quản trị khối óc, quản lý con tim, tạo ra nhiều nguồn năng lực và truyền cảm hứng cho chính bản thân và người xung quanh.
1. Phát triển 2. Kỹ năng 3. Nghệ thuật lãnh đạo
Wednesday, February 1, 2023
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHANH, BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính
Trong
những năm qua, bên cạnh các kết quả đạt được, thực tiễn phát triển kinh tế
nhanh, bền vững ở Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề hạn chế, đòi hỏi cần có sự
phân tích, đánh giá để có các giải pháp khắc phục phù hợp.
Phát triển kinh tế nhanh và bền vững là xu thế chung
được nhiều quốc gia trên thế giới nỗ lực hướng tới. Đây cũng là mục tiêu chiến
lược quan trọng và được thể hiện rõ nét trong các chủ trương, chính sách, quy
hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, cũng như của các ngành và
địa phương tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2006 - 2016, Việt Nam đã tận dụng được
thời cơ, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu quan
trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội và môi trường. Đất nước đã thoát khỏi
tình trạng kém phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải
thiện, công tác bảo vệ môi trường được quan tâm, vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế được nâng cao.
Thực trạng
Việc đánh giá phát triển kinh tế nhanh, bền vững của Việt Nam được xét
trong mối quan hệ với trục bền vững về kinh tế, bao gồm: Tăng trưởng kinh tế;
Các cân đối vĩ mô; Chất lượng tăng trưởng; Năng lực cạnh tranh và cơ sở hạ tầng
của nền kinh tế.
Về tăng trưởng kinh tế: Mặc dù tăng trưởng GDP của Việt Nam trong
giai đoạn 2006 - 2017 bị chậm lại nhưng vẫn cao hơn so với mức tăng trưởng của
thế giới và nhiều nước trong khu vực. Bình quân cả giai đoạn 2006 - 2017, GDP
tăng trưởng 6,19%, cao hơn tốc độ tăng GDP của thế giới. Bên cạnh đó, GDP bình
quân đầu người đã tăng gần gấp 3 lần từ 797 USD/người trong năm 2006 lên 2.385
USD/người vào năm 2017, giúp Việt Nam chính thức trở thành nước có thu nhập
trung bình kể từ năm 2010.
Về đảm bảo ổn định các cân đối vĩ mô là yêu cầu có tính chất nền tảng
đối với tăng trưởng và sự phát triển của các nền kinh tế. Các cân đối vĩ mô ở
Việt Nam, chủ yếu tập trung một số chỉ tiêu như lạm phát, tiền tệ tín dụng, đầu
tư, cán cân thanh toán, bền vững về ngân sách...
Một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam trong giai đoạn 2006 -
2017 là phải đối mặt với nhiều dấu hiệu của bất ổn vĩ mô, đặc biệt là tình trạng
lạm phát cao trong những năm 2006 - 2007 và 2010 - 2011. Tuy nhiên, nỗ lực kiềm
chế lạm phát của Chính phủ đã giúp lạm phát giảm và khá ổn định trong những năm
gần đây.
Mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm dần. Đến năm 2017, lãi suất cho vay ngắn
hạn ở mức 6,5 - 9%/năm, lãi suất cho vay trung và dài hạn khoảng 9 - 11%/năm,
tương đương 40% vào cuối năm 2011. Bên cạnh đó, tỷ giá tăng khá nhanh trong
giai đoạn 2006 - 2010 và ổn định trong giai đoạn 2011 - 2017, đặc biệt từ khi
Ngân hàng Nhà nước áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm.
Giai đoạn 2006 - 2017, tiết kiệm bình quân bằng 28% GDP. Đầu tư toàn xã hội
so với GDP của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2017 nhìn chung có xu hướng giảm. Bình
quân cả giai đoạn, đầu tư toàn xã hội ở mức 35,28% GDP. Tỷ trọng đầu tư của khu
vực nhà nước vẫn giảm so với giai đoạn trước xuống còn 38,95%; đầu tư của khu vực
ngoài nhà nước và khu vực có vốn FDI lần lượt chiếm 37,47% và 23,58%.
Do nhu cầu chi cho phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và trả nợ tăng mạnh nên bội chi NSNN giai đoạn 2011 - 2015 ở mức cao (bình quân 5,79%, cao hơn mục tiêu 5% đề ra tại Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015). Tuy nhiên, bội chi NSNN có xu hướng giảm dần, ở mức 5,64% trong năm 2016 và 3,48% GDP vào năm 2017. Các chỉ tiêu nợ công trong giới hạn được Quốc hội phê duyệt. Đến cuối năm 2017, nợ công bằng 61,3% GDP, nợ chính phủ là 51,6% GDP, phù hợp với mục tiêu đề ra.
NHÀ NƯỚC TA LÀ NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN
Hà
Nguyên Cát
Trước hết, phải khẳng
định ngay rằng: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng
là liên minh giữa giai cấp công nhân (GCCN) với giai cấp nông dân (GCND) và đội
ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”1. Vấn đề đó
đã được ghi rõ ở Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (1992). Nhà
nước mà nhân dân ta đang xây dựng là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam,
phù hợp với thực tiễn phát triển của cách mạng Việt Nam.
Trong lịch sử nhân
loại, đến nay đã tồn tại 04 kiểu nhà nước: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến,
Nhà nước tư sản và Nhà nước XHCN. Sự thay thế các kiểu nhà nước là “quá trình lịch
sử - tự nhiên”, do sự chi phối trước hết và chủ yếu bởi quy luật về sự phù hợp
của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
và quy luật về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng của xã
hội. Trong xã hội có giai cấp, sự ra đời, thay thế các kiểu nhà nước phải thông
qua cuộc đấu tranh giai cấp, đỉnh cao là cách mạng xã hội. V.I. Lê-nin đã nhấn
mạnh: chính quyền là vấn đề căn bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Nhà nước
XHCN ra đời, tồn tại và phát triển là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giữa
GCCN và nhân dân lao động với giai cấp thống trị, bóc lột, đỉnh cao là cách mạng
vô sản.
Đối với Việt Nam, để
giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm con đường cứu nước
và mô hình nhà nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành được độc lập. Trong cuộc
hành trình lịch sử đó, Hồ Chí Minh đã khảo sát các mô hình nhà nước trên thế giới,
điển hình là nhà nước tư sản Mỹ và Pháp. Người phát hiện ra, đằng sau khẩu hiệu
đầy hoa mỹ, tốt đẹp về các quyền tự do,
bình đẳng, bác ái và quyền mưu cầu hạnh phúc được ghi đậm trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ (1776) và trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1791), thực chất chỉ là giả hiệu. Xã hội TBCN là xã hội mà ở đó sự bất bình đẳng, nghèo đói, phân biệt chủng tộc và biết bao sự tàn bạo, bất công khác đang hằng ngày, hằng giờ đè nặng lên vai giai cấp cần lao. Người kết luận: đó là những cuộc cách mệnh không đến nơi, bởi ở đó chính quyền vẫn ở trong tay một số ít người; vì thế, “cách mệnh thành công đã trên 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”2. Khi đến nước Nga (1923), Người nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về Cách mạng Tháng Mười và mô hình Nhà nước Xô Viết - một mô hình nhà nước kiểu mới: “...phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền,... ra sức tổ chức kinh tế mới để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng”3. Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga và mô hình Nhà nước Xô Viết để từng bước nghiên cứu, xác lập mô hình về một kiểu nhà nước tương lai - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sẽ được thiết lập sau khi cách mạng Việt Nam thành công.
Monday, January 9, 2023
25 nhân vật lịch sử Nhật Bản
25 nhân vật lịch sử Nhật Bản / Nguyễn Quốc Vương. - H. : Phụ nữ Việt Nam, 2022. - 155 tr. ; 21 cm.
25 nhân vật lịch sử Nhật Bản, gồm 25 bài viết về các nhân vật làm nên lịch sử Nhật Bản từ cổ chí kim trên nhiều các lĩnh vực khác nhau: chính trị, khoa học, nghệ thuật, giáo dụ Những nhân vật được tác giả tuyển chọn dù là thiên tài quân sự, chính trị gia xuất sắc hay bậc thầy trà đạo hoặc người họa sĩ cô đơn đều là những nhân vật trở thành biểu tượng của Nhật Bản.
1. Nhân vật lịch sử 2. Nhật Bản
Nhà nước khởi tạo: Giải những huyền thoại về vai trò của nhà nước và khu vực tư nhân
Nhà nước khởi tạo: Giải những huyền thoại về vai trò của nhà nước và khu vực tư nhân / Mariana Mazzucato; Ngô Thị Ngọc Bích dịch; Trần Mạnh Cường hiệu đính.- H.:Thế giới, 2020. - 328 tr. ; 23 cm.
Cuốn sách phân tích những nghiên cứu điển hình khác nhau về tăng trưởng do đổi mới sáng tạo, đặc biệt là các ví dụ từ Thung lũng Silicon - từ Internet đến các công nghệ đằng sau iPhone - Mô tả các tình huống ngược lại như khu vực tư nhân sẽ thật can đảm để đầu tư sau khi nhà nước kinh doanh các khoản đầu tư rủi ro cao. Đưa ra lập luận rằng trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản hiện đại - và ngày nay trong những gì có thể sớm trở thành cuộc cách mạng 'xanh' - nhà nước không chỉ khắc phục những thất bại của thị trường mà còn định hình và tạo ra thị trường, tích cực đầu tư vào các công nghệ và lĩnh vực mới mà các nhà đầu tư tư nhân phải can đảm mới có thể tiến vào.
1. Nhà nước khởi tạo 2. Vai trò của nhà nước 3. Khu vực tư nhân
Xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở tại tỉnh Đắk Lắk hiện nay
Xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở tại tỉnh Đắk Lắk hiện nay: Sách chuyên khảo / Phạm Xuân Hoàng (ch.b). - H. : Khoa học xã hội, 2022. - 384 tr. ; 21 cm.
Trình bày một số vấn đề lý luận về hệ thống chính trị cấp cơ sở và những yêu cầu đặt ra cần tiếp tục xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở trong bối cảnh hiện nay; thực trạng xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở tại tỉnh Đắk Lắk; giải pháp và kiến nghị xây dựng hệ thống chính trị
1. Xây dựng 2. Hệ thống chính trị 3. Cấp cơ sở 4. Tỉnh Đắk Lắk 5. Sách chuyên khảo
Triết lý và chính sách giáo dục
Triết lý và chính sách giáo dục = Philosophy and educational policy: A critical introduction / Christopher Winch, John Gingell ; Nguyễn Thị Hạ Ni dịch. - H. : Dân trí, 2022. - 364 tr. ; 21 cm.Nghiên cứu, phân tích về triết lý giáo dục và mối quan hệ với chính sách giáo dục thông qua xá đinh mục đích của hệ thống giáo dục, xây dựng chương trình giáo dục, cách dạy và học hiệu quả…
1. Triết lý 2. Chính sách giáo dục
Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc & tác động tới Việt Nam
Friday, January 6, 2023
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC MẤY VẤN ĐỀ BÀN LUẬN
Vũ Quang Hiền
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng
sâu sắc. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nội dung tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề dân tộc, nhấn mạnh sự kết hợp vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp,
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế,
đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dân
tộc khác. Nhưng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc có những nội dung
cần được nhấn mạnh hơn, nhất là thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa, quyền
dân tộc tự quyết, đặc biệt là mối quan hệ không thể tách rời giữa độc lập dân
tộc và thống nhất đất nước.
1. Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa là vấn đề độc lập dân tộc, xoá
bỏ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân
Khi chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, các cường quốc tư bản
phương Tây ra sức tiến hành chiến tranh xâm lược thuộc địa, thiết lập ách thống
trị của chủ nghĩa thực dân với những chính sách tàn bạo.
Trước khi chủ nghĩa tư bản phương Tây đưa đại bác đến gõ cửa các quốc
gia phương Đông, thì những quốc gia này vẫn còn đang chìm nặng trong bóng tối
của chế độ phong kiến ở giai đoạn suy vong, với cấu trúc xã hội gồm hai giai
cấp: địa chủ phong kiến và nông dân. Dưới tác động của những chương trình khai
thác thuộc địa, các giai cấp này ở Việt Nam ít nhiều có sự biến đổi, những giai
cấp mới lần lượt ra đời: công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Tất cả các giai cấp đó
đều nằm dưới ách thống trị của chủ nghĩa tư bản thực dân.
Từ thuở thiếu thời, trước khi ra
đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã thấy được sự đối kháng giữa dân tộc
Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược qua các phong trào yêu nước của ông cha và
sớm hình thành chí hướng cứu nước. Những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc
đã nhận thấy sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc thuộc
địa càng nặng nề, thì phản ứng của dân tộc bị áp bức càng quyết liệt. Không chỉ
quần chúng lao động (công nhân và nông dân), mà cả các giai cấp và tầng lớp
trên trong xã hội (tiểu tư sản, tư sản và địa chủ) đều phải chịu nỗi nhục của
người dân mất nước, của một dân tộc mất độc lập tự do. Ngay giai cấp tư sản
Việt Nam cũng khác với giai cấp tư sản phương Tây, mặc dù vẫn là giai cấp bóc
lột nhưng không phải là giai cấp thống trị. Họ không phải là đối tượng cách
mạng, mà trái lại, có thể trở thành lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc[1].
Cuộc cách mạng ở thuộc địa là một cuộc đấu tranh dân tộc hay đấu tranh
giai cấp? Đâu là “cái cốt” của cuộc cách mạng ở thuộc địa? Trong phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế, đã từng có luận điểm cho rằng: “thực chất của
vấn đề dân tộc thuộc địa là vấn đề nông dân”, mà nông dân thì gắn với ruộng
đất, vì thế phải nhấn mạnh cách mạng ruộng đất và cuộc đấu tranh giai cấp ở
thuộc địa. Với Hồ Chí Minh thì không phải như vậy. Người nhận thấy, yêu cầu bức
thiết nhất, trước nhất của xã hội thuộc địa là phải tiến hành cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc chứ chưa phải là đấu tranh giai cấp như trong các xã hội
tư bản chủ nghĩa phương Tây. Đối tượng của cách mạng thuộc địa là chủ nghĩa
thực dân, chứ không phải là chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc nói chung. Tuy
hoạt động tích cực trong Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản, nhưng quan
điểm của Nguyễn Ái Quốc có nhiều điểm không trùng hợp với quan điểm của Trung
ương Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản, trong đó có vấn đề dân tộc ở thuộc
địa. Người phê phán sự không quan tâm đến cách mạng thuộc địa của một số Đảng
Cộng sản trên thế giới[2]. Người chỉ rõ thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc
địa là vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc.
Trong nhiều tác phẩm như Tâm địa thực dân, Bình đẳng, Vực thẳm
thuộc địa, Công cuộc khai hóa giết người..., Hồ Chí Minh tập trung tố cáo
chủ nghĩa thực dân, vạch trần cái gọi là “khai hóa văn minh” của chúng. Người
viết: “Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản
thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm
ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng, v.v.”. “Nếu lối hành hình theo kiểu Linsơ của
những bọn người Mỹ hèn hạ đối với những người da đen là một hành động vô nhân
đạo, thì tôi không còn biết gọi việc những người Âu nhân danh đi khai hóa mà
giết hàng loạt người dân châu Phi là cái gì nữa”[3]. Trong những bài có tiêu đề Đông Dương và
nhiều bài khác, Người lên án mạnh mẽ chế độ cai trị hà khắc, sự bóc lột tàn bạo
của thực dân Pháp ở Đông Dương trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,
giáo dục. Người chỉ rõ sự đối kháng giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế
quốc thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa, đó là mâu thuẫn không thể điều
hòa được. Sự áp bức, thống trị dân tộc càng nặng nề, thì phản ứng dân tộc sẽ
càng quyết liệt về tính chất, đa dạng về nội dung và phong phú về hình thức.
Nghiên cứu tình hình Đông Dương, Hồ Chí Minh nhận thấy: “Đằng sau sự phục tùng
tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ
bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”[4]. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân
Pháp, Nguyễn Ái Quốc lên án mạnh mẽ tội ác của chủ nghĩa thực dân đã tước
bỏ tất cả quyền con người và quyền dân tộc ở các thuộc địa.
Nếu như C. Mác bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, V. I.
Lênin bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thì Hồ Chí Minh tập
trung bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. C. Mác và V. I. Lênin bàn
nhiều về đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản chủ nghĩa, Hồ Chí Minh bàn nhiều
về đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Trong nhiều tác phẩm, nhất là tác
phẩm Đường kách mệnh, Người phân biệt ba loại cách mạng: cách mạng
vô sản, cách mạng tư sản và cách mạng giải phóng dân tộc, xác định tính chất và
nhiệm vụ của cách mạng thuộc địa là giải phóng dân tộc.
BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM, THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trương Thị Điệp
(LĐXH) - Bình đẳng giới
là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước dành sự ưu tiên đặc biệt. Những nỗ lực
trong việc thực hiện bình đẳng giới của Việt Nam đã mang lại nhiều thành tựu to
lớn được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả
đạt được vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần sự vào cuộc của chính quyền, sự
tham gia của toàn dân để khắc phục.
1. Bình đẳng giới, vấn đề được Đảng và Nhà nước quan
tâm đặc biệt
Bình đẳng giới là một trong những quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân Việt Nam được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm
pháp luật và trong các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Theo Khoản 3, Điều 5 Luật Bình đẳng giới thì: “
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều
kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của
gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.”
Có thể nói, mục tiêu bình đẳng giới hiện là mối
lưu tâm hàng đầu của các quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung.
Ngay từ thời điểm năm 1955, Liên hợp quốc đã thống nhất quan điểm và thông qua
Chương trình hành động giới, lồng ghép giới tại Hội nghị quốc tế về phụ nữ, lần
thứ tư tại Bắc Kinh (Trung Quốc); vào năm 1979 tiếp tục thông qua Công ước quốc
tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ và mục tiêu thiên
niên kỷ thứ ba cũng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Đại
hội đồng Liên hợp quốc cũng đã quyết định đặt ra nhiều ngày lễ quốc tế, nhiều
sự kiện trọng đại vì mục tiêu bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Điều
này cho thấy sự ưu tiên đặc biệt của cộng đồng quốc tế về vấn đề bình đẳng
giới.
Việt Nam là một trong những quốc gia sớm dành
cho công tác bình đẳng giới những ưu tiên nhất định. Cụ thể, trong Hiến pháp
đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Hiến pháp năm 1946, tại Điều 9 đã
đề cập thẳng đến quyền bình đẳng nam nữ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên
mọi phương diện”. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong di chúc, Người cũng trăn trở về
vai trò và vị trí của người phụ nữ: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch
thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng có thêm nhiều phụ nữ
phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng
vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”. Và
vấn đề này đã được thể chế hóa thành các văn bản Luật như Luật Bình đẳng giới
năm 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành các chương
trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai
đoạn 2016 – 2020, Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia
đình đến năm 2020... để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay chính trong gia đình của
họ.
2. Bình đẳng giới ở Việt
Nam, thành tựu và thách thức
2.1. Bức tranh có nhiều
“gam màu” sáng
Để hiện thực hoá chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiều dự án đã triển khai thiết lập
các mô hình góp phần thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới như: phòng chống bạo lực
gia đình tại cộng đồng rất thành công ở Huế, Hải Phòng, Ninh Bình… Điển hình
như ở Đà Nẵng, việc ra đời và duy trì các câu lạc bộ “cha mẹ học sinh phòng,
chống bạo lực gia đình” tại phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu và “nam giới
tiên phong trong phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em” tại
xã Hòa Phong, Hòa Khương thuộc huyện Hòa Vang đã thu hút được sự tham
gia của đông đảo người dân.Trên cơ sở đó, phải nói rằng không có nhiều quốc
gia mà hoạt động, biện pháp thực hiện bình đẳng giới được đưa thành chương
trình hoạt động cụ thể ở từng tỉnh, thành, địa phương và đạt được nhiều thành
tựu như ở Việt Nam.
Về chính trị, nữ giới Việt Nam có tổ chức chính trị riêng, đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Và tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam luôn thuộc nhóm có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung và tỷ lệ này ngày càng tăng. Điển hình, quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng”[1] thì tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội luôn duy trì ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng lên. Cụ thể: từ 3% ở Quốc hội khóa I tăng lên 24,4% ở khóa VIII (2011 - 2016) và tỷ lệ này là 26,72% với 133 nữ đại biểu Quốc hội trên tổng số 496 đại biểu ở khóa XIV(2016 - 2021). Hay trong bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở nhiều địa phương tỷ lệ phụ nữ trúng cử vượt dự kiến như: Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt 43%; Đại biểu Hội đồng nhân dân quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt gần 45%.[2]
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM: TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Phạm Thị Thanh Bình
Phát triển bền vững là một phương thức phát triển tổng
hợp đa ngành, liên ngành, thành chương trình hành động với nhiều tiêu chí ngày
càng được cụ thể và rõ nét. Phát triển bền vững, mang tính tất yếu và là mục
tiêu cao đẹp của quá trình phát triển.
Phát triển bền vững là mối
quan tâm trên phạm vi toàn cầu. Trong tiến trình phát triển của thế giới, mỗi
khu vực và quốc gia xuất hiện nhiều vấn đề bức xúc mang tính phổ biến. Kinh tế
càng tăng trưởng thì tình trạng khan hiếm các loại nguyên nhiên liệu, năng lượng do sự cạn
kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo được càng tăng thêm, môi trường thiên
nhiên càng bị hủy hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, thiên nhiên gây ra những
thiên tai vô cùng thảm khốc.
Đó là sự tăng trưởng kinh
tế không cùng nhịp với tiến bộ và phát triển xã hội. Có tăng trưởng kinh tế
nhưng không có tiến bộ và công bằng xã hội; tăng trưởng kinh tế nhưng văn hóa,
đạo đức bị suy đồi; tăng trưởng kinh tế làm dãn cách hơn sự phân hóa giàu
nghèo, dẫn tới sự bất ổn trong xã hội. Vì vậy, quá trình phát triển cần có sự
điều tiết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an ninh xã hội và bảo vệ
môi trường hay phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu bức thiết đối với
toàn thế giới.
Khái niệm phát triển bền vững
Năm 1980, trong bản “Chiến
lược bảo tồn thế giới” do Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên
Thiên nhiên (IUCN-International Union for Conservation of Nature and Natural
Resources) đã đưa ra mục tiêu của phát triển bền vững là “đạt được sự phát triển
bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ phát triển bền
vững ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự
phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật.
Năm 1987, trong Báo cáo
“Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển
(WCED-World Commission on Environment and Development) của Liên hợp quốc, “phát
triển bền vững” được định nghĩa là “Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện
tại mà không làm tổn thương khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ
tương lai”.
Quan niệm này chủ yếu nhấn
mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường
sống cho con người trong quá trình phát triển. Phát triển bền vững là một mô
hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng
không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai
(Gôdian và Hecdue, 1988, GS. Grima Lino).
Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: “Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).
































