Wednesday, March 1, 2023

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC

 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước (cũng được gọi là stamocap)[1] là một hình thức cực đoan của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong đó nhà nước được coi là một doanh nghiệp độc quyền duy nhất chi phối hầu hết các hoạt động sản xuất và phân phối hàng hóa trong nền kinh tế. Nhà nước sẽ kiểm soát mọi hoạt động kinh tế, thương mại và các cơ sở sản xuất được tổ chức và quản lý như doanh nghiệp nhà nước (bao gồm cả quá trình tích lũy vốn, lao động tiền lương và quản lý tập trung). Các hoạt động trong nền kinh tế được hoạch định và điều phối bởi các cơ quan lập kế hoạch kinh tế và các cơ quan chính phủ được tập trung hóa (các cơ quan được tổ chức theo thực tiễn quản lý kinh doanh).

Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một học thuyết Leninist được phổ biến sau Thế chiến IILenin đã tuyên bố vào năm 1916 rằng Chiến tranh thế giới thứ nhất đã biến đổi chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhưng ông đã không xuất bản bất kỳ học thuyết mở rộng nào về chủ đề này. Thuật ngữ chủ nghĩa tư bản độc quyền đề cập đến một môi trường mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để bảo vệ các doanh nghiệp độc quyền hoặc độc quyền lớn hơn khỏi các mối đe dọa. Lenin trong cuốn sách nhỏ của ông cùng tên nhằm mục đích mô tả chủ nghĩa đế quốc như là giai đoạn lịch sử cuối cùng của chủ nghĩa tư bản, trong đó ông tin rằng chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn cao nhất của chủ nghĩa tư bản mà chủ nghĩa tư bản đã biến thành chủ nghĩa tư bản độc quyền.[2] Chiến tranh thế giới thứ I đã chuyển hóa chủ nghĩa tư bản độc quyền thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Sau cách mạng tháng 10, Lenin chủ trương áp dụng chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước vào nước Nga như là "sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội, là nấc thang lịch sử mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là chủ nghĩa xã hội thì không có một nấc thang nào ở giữa cả"[3]. Sau thế chiến thứ II do ảnh hưởng của Liên Xô với tư cách một nước thắng trận khiến lý luận về chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước được phổ biến ra toàn thế giới.

Đôi khi khái niệm này cũng xuất hiện trong lý thuyết Chủ nghĩa tân Trotsky của chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng như trong các lý thuyết chống nhà nước tự do chủ nghĩa. Các phân tích được thực hiện thường là giống hệt nhau trong ở các đặc điểm chính, nhưng kết luận chính trị rất khác nhau được rút ra từ nó.

Thêm một cách đặt vấn đề về nội dung phương pháp luận biện chứng duy vật

 


KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG

Lê Hữu Nghĩa

 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và được bổ sung, phát triển năm 2011 và các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc thời kỳ đổi mới đều khẳng định: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Đồng thời Đảng yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải “kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(1).

 Kiên định và sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hai mặt của một vấn đề thống nhất với nhau; kiên định phải trên cơ sở sáng tạo và sáng tạo phải trên cơ sở kiên định, nếu không sẽ sa vào sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, máy móc hoặc chủ nghĩa cơ hội, xét lại.

Trong hơn 88 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại; nhờ đó đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, vượt qua mọi thác ghềnh, vượt qua những thời điểm hiểm nghèo của cách mạng.

1- Từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phe XHCN tan rã, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng, chống phá chế độ XHCN ở nước ta. Trong khi chúng ta đang đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ thì cũng xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức. Những khó khăn, thách thức đó, một mặt, do những vấn đề mới, những mâu thuẫn mới nảy sinh trong quá trình đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu; mặt khác, do những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm chưa được khắc phục kịp thời, đồng thời cộng với tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Tình hình khách quan đó đã tác động đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu, bản lĩnh chính trị không vững vàng nên có sự dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng XHCN và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) của nước ta, phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tình trạng nhạt Đảng, xa rời chính trị, phai nhạt lý tưởng đã và đang diễn ra. Một số cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả cán bộ cao cấp mất lòng tin vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vào lý tưởng XHCN, giảm sút ý chí chiến đấu, mắc phải những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra. Trong nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên có sự mơ hồ, không phân biệt đúng - sai ở tầm quan điểm về những vấn đề lớn, như đánh giá về bản chất của thời đại, về chủ nghĩa tư bản (CNTB), về CNXH, về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về nguyên nhân sự sụp đổ của Liên Xô, về thời kỳ quá độ và định hướng XHCN ở nước ta, về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về vai trò của kinh tế tư nhân, về kinh tế thị trường định hướng XHCN, về chế độ sở hữu đất đai,... 

Các Hội thánh và tổ chức Cao Đài hoạt động giao lưu hành đạo để thực hiện tinh thần đoàn kết tôn giáo


LIÊN HỢP QUỐC CẢNH BÁO VỀ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

LIÊN HỢP QUỐC CẢNH BÁO VỀ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

 Xuân Vinh

QĐND - Theo báo cáo do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3, thế giới tuy đã đạt được một số tiến bộ trong việc thu hẹp tình trạng bất bình đẳng giới trong 20 năm qua, song nữ giới vẫn có ít cơ hội tiếp cận việc làm hơn, có xu hướng phải chấp nhận những việc làm chất lượng thấp nhiều hơn và phải đối diện với nhiều rào cản trong bổ nhiệm vào các chức vụ quản lý.

Báo cáo "Triển vọng Xã hội và việc làm của thế giới: Những xu hướng cho phụ nữ năm 2018-khái quát" của Liên hợp quốc (LHQ) cho thấy, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động toàn cầu là 48,5% trong năm 2018, thấp hơn 26,5% so với tỷ lệ của nam giới. Báo cáo cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của phụ nữ trên toàn thế giới là 6% trong năm 2018, cao hơn khoảng 0,8% so với tỷ lệ của nam giới. Tính trung bình, cứ 10 nam giới có việc làm thì chỉ có 6 phụ nữ được tuyển dụng.

Trên phạm vi toàn thế giới, thu nhập trung bình của phụ nữ thấp hơn nam giới tới 23%. Với tốc độ hiện tại, thế giới sẽ cần tới 70 năm để chấm dứt tình trạng này và lúc đó hai giới sẽ có mức thu thập ngang nhau. Ngày 7-3, Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) cho biết, thu nhập trung bình của phụ nữ tại các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) thấp hơn nam giới khoảng 16% trong năm 2016. Cụ thể, nếu nam giới kiếm được 1 euro trong một giờ làm việc, con số này ở nữ giới chỉ được trung bình là 84 cent. Tại châu Âu, Đức và Anh đứng đầu về mức chênh lệch trong thu nhập giữa nam và nữ-lên tới 21%. Romania, Italy và Luxembourg ghi nhận số liệu tích cực hơn (5%) trong khi tại Pháp, một nền kinh tế lớn khác của châu Âu, phụ nữ thu nhập kém nam giới 14%.

Hồ Chí Minh và tác phẩm "ngục trung nhật ký"


 Hồ Chí Minh và tác phẩm "ngục trung nhật ký" / Đỗ Hoàng Linh (ch.b), Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Thị Bình. - H. : Thông tin và Truyền thông, 2022. - 408 tr. ; 24 cm.

Giới thiệu 134 bài thơ trong tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh cùng những lời bình một số bài thơ tiêu biểu dưới cái nhìn cụ thể đến bao quát của các nhà phê bình văn học nổi tiếng như: Nguyễn Đình Thi, Lê Anh Trà, Chiến Kỳ, Vũ Ngọc Phan...

1. Hồ Chí Minh                  2. Ngục trung nhật ký

Xuất bản cách mạng Việt Nam - 70 năm đồng hành cùng đất nước


 Xuất bản cách mạng Việt Nam - 70 năm đồng hành cùng đất nước (1952 - 2022) / Ban Tuyên giáo Trung uơng Đảng. Thông tấn xã Việt Nam. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 240  tr. ; 25 cm.

Cuốn sách góp phần tuyên truyền sâu rộng truyền thống vẻ vang cùng những đóng góp thiết thực của ngành xuất bản, in và phát hành sách Việt Nam, tôn vinh, tri ân công lao, đóng góp của các thế hệ cán bộ, viên chức, người lao động làm trong lĩnh vực này đối với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng, của dân tộc trong 70 năm qua.

1. Xuất bản cách mạng Việt Nam           2. 70 năm                  3. 1952 - 2022

Đường lối văn hóa của Đảng trong chấn hưng, phát triển văn hóa Việt Nam


 Đường lối văn hóa của Đảng trong chấn hưng, phát triển văn hóa Việt Nam / Lê Mậu Lâm (ch.b), Ngô Vương Nah, Nguyễn Băng Nhi. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 716 tr. ; 24 cm.

Cuốn sách chia làm 3 phần gồm các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về chủ trương, đường lối văn hóa trong bối cảnh mới; các bài viết lý luận về xấy dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới và tổ chức thực hiện ở một số cơ quan, bộ, ngành, địa phương.

1. Đường lối                 2. Văn hóa                   3. Đảng Công sản Việt Nam

Cảnh sát Liên Hiệp Quốc và sự tham gia của Việt Nam trong trong thời gian tới

 

Cảnh sát Liên Hiệp Quốc và sự tham gia của Việt Nam trong trong thời gian tới: Sách chuyên khảo / Nguyễn Việt Lâm, Đỗ Lê Chi. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 335 tr. ; 21 cm.

Cuốn sách cung cấp những hiểu biết chung về nhiệm vụ giữ gìn hòa bình của Liên Hiệp Quốc nói chung, trong đó có nhiệm vụ của Cảnh sát Liên hợp quốc, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về Việt Nam tham gia hoạt động Cảnh sát Liên hợp Quốc thời gian tới, từ đó đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị.

1. Cảnh sát                   2. Liên Hiệp Quốc             3. Sự tham gia của Việt Nam              4.  Trong thời gian tới                   4. Sách chuyên khảo

Mối quan hệ giữa Kinh tế và Văn hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay

 

Mối quan hệ giữa Kinh tế và Văn hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay: Sách chuyên khảo / Lê Quốc Lý, Lê Quốc. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 304 tr. ; 24 cm.
Trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá, giá trị văn hoá trong hoạt động kinh tế, những nhân tố tác động đến mối quan hệ này, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá trong thời kỳ đổi mới. Nêu thực trạng mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá ở Việt Nam. Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá trong phát triển bền vững
1. Kinh tế             2. Văn hóa            



Thursday, February 2, 2023

Võ Văn Kiệt - Trí tuệ và sáng tạo


 Võ Văn Kiệt - Trí tuệ và sáng tạo. T.1: Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đến ngày ký Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam / Hoàng Lại Giang. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 255 tr. ; 21 cm.

Nội dung cuốn sách tái hiện chặng đường đầu tiên trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Võ Văn Kiệt - Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đến ngày ký Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam

1. Võ Văn Kiệt                    2. Trí tuệ               3. Sáng tạo             4. Khởi nghĩa Nam Kỳ             5. Hiệp định Giơnevơ                       6. Việt Nam

Giới thiệu tác phẩm "Bút ký Triết học" của V.I. Lênin

 

Giới thiệu tác phẩm "Bút ký Triết học" của V.I. Lênin. -H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 76 tr. ; 19 cm. 

Nhằm giúp bạn đọc dễ dàng hơn trong việc tiếp cận, nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, tác giả với cách dẫn dứt vấn đề ngắn gọn, dễ hiều, cuốn sách sẽ "đồng hành cùng bạn đọc trong việc tìm hiểu và vận dụng học thuyết Mác - Lênin trong hoạt động thực tiễn xây dựng và bảo vệ tổ quốc ta hiện nay.

1. Giới thiệu tác phẩm              2. Bút ký Triết học                  3. V.I. Lênin

Những bức thư của Bác Hồ nhân dịp đầu năm học mới

Những bức thư của Bác Hồ nhân dịp đầu năm học mới / Hồ Chí Minh. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 452 tr. ; 15 cm. 

Cuốn sách gồm những bức thư, bài viết, thiếp chúc mừng và lời căn dặn của Bác Hồ viết cho học sinh và cán bộ, giáo viên ngành giáo dục nhân dịp khai trường đầu năm học mới từ năm 1945 đến năm 1969, được tuyển chọn từ bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập, gồm 15 tập, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản năm 2021.

1. Bác Hồ                  2. Giáo dục                    3. Bức thư                 4. Đầu năm học mới

 

Giá trị và sự vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

 

Giá trị và sự vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay / Trần Thị Minh Tuyết (ch.b), Doãn Thị Chín, Lê Đình Năm,….  - Xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung. -H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 360 tr. ; 21 cm.

Nội dung cuốn sách được kết cấu thành ba chương:

Chương I: Giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chương II: Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước.

Chương III: Tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

1. Giá trị                         2. Sự vận dụng                        3. Phát triển                            4. Tư tưởng Hồ Chí Minh                 

Phát triển kỹ năng và nghệ thuật lãnh đạo

 

Phát triển kỹ năng và nghệ thuật lãnh đạo / Phạm Đi. -H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 520 tr. ; 24 cm.

Cuốn sách gồm 10 chương gắn với các vấn đề về khoa học lãnh đạo nói chung, phát triển kỹ năng và nghệ thuật lãnh đạo nói riêng. Ngoài cập nhật kiến thức cơ bản đáp ứng một phần yêu cầu của người lãnh đạo, quản lý trong bối cảnh và tình hình mới, trên một phương diện khác, một số nội dung trong cuốn sách là chất xúc tác truyền cảm hứng cho độc giả về vai trò, trách nhiệm của mỗi người với tư cách là một thành viên của xã hội, góp phần thúc đẩy sự gắn kết xã hội và chủ động thích ứng, sáng tạo, đổi mới trong chính vị trí việc làm của mình.  Cuốn sách cũng là những gợi mở cho bất cứ ai muốn "quản trị bản thân", thay đổi hành vi trong giao tiếp, trong ứng xử, trong thiết lập và duy trì các mối quan hệ, làm phong phú hơn đời sống tinh thần, thể hiện khả năng "lãnh đạo không chức danh" của mình, quản trị khối óc, quản lý con tim, tạo ra nhiều nguồn năng lực và truyền cảm hứng cho chính bản thân và người xung quanh.

1. Phát triển                 2. Kỹ năng                    3. Nghệ thuật lãnh đạo

Wednesday, February 1, 2023

Biến đổi văn hóa nhìn từ hai khu đô thị mới ở Hà Nội








Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. - 2016 - Số 390. - Tr. 31 - 35


Xây dựng và phát triển sức mạnh mềm quốc gia từ giá trị văn hóa dân tộc


PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHANH, BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính

Trong những năm qua, bên cạnh các kết quả đạt được, thực tiễn phát triển kinh tế nhanh, bền vững ở Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề hạn chế, đòi hỏi cần có sự phân tích, đánh giá để có các giải pháp khắc phục phù hợp.

Phát triển kinh tế nhanh và bền vững là xu thế chung được nhiều quốc gia trên thế giới nỗ lực hướng tới. Đây cũng là mục tiêu chiến lược quan trọng và được thể hiện rõ nét trong các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, cũng như của các ngành và địa phương tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2006 - 2016, Việt Nam đã tận dụng được thời cơ, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội và môi trường. Đất nước đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, công tác bảo vệ môi trường được quan tâm, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Thực trạng

Việc đánh giá phát triển kinh tế nhanh, bền vững của Việt Nam được xét trong mối quan hệ với trục bền vững về kinh tế, bao gồm: Tăng trưởng kinh tế; Các cân đối vĩ mô; Chất lượng tăng trưởng; Năng lực cạnh tranh và cơ sở hạ tầng của nền kinh tế.

Về tăng trưởng kinh tế: Mặc dù tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2017 bị chậm lại nhưng vẫn cao hơn so với mức tăng trưởng của thế giới và nhiều nước trong khu vực. Bình quân cả giai đoạn 2006 - 2017, GDP tăng trưởng 6,19%, cao hơn tốc độ tăng GDP của thế giới. Bên cạnh đó, GDP bình quân đầu người đã tăng gần gấp 3 lần từ 797 USD/người trong năm 2006 lên 2.385 USD/người vào năm 2017, giúp Việt Nam chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình kể từ năm 2010.

Về đảm bảo ổn định các cân đối vĩ mô là yêu cầu có tính chất nền tảng đối với tăng trưởng và sự phát triển của các nền kinh tế. Các cân đối vĩ mô ở Việt Nam, chủ yếu tập trung một số chỉ tiêu như lạm phát, tiền tệ tín dụng, đầu tư, cán cân thanh toán, bền vững về ngân sách...

Một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2017 là phải đối mặt với nhiều dấu hiệu của bất ổn vĩ mô, đặc biệt là tình trạng lạm phát cao trong những năm 2006 - 2007 và 2010 - 2011. Tuy nhiên, nỗ lực kiềm chế lạm phát của Chính phủ đã giúp lạm phát giảm và khá ổn định trong những năm gần đây.

Mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm dần. Đến năm 2017, lãi suất cho vay ngắn hạn ở mức 6,5 - 9%/năm, lãi suất cho vay trung và dài hạn khoảng 9 - 11%/năm, tương đương 40% vào cuối năm 2011. Bên cạnh đó, tỷ giá tăng khá nhanh trong giai đoạn 2006 - 2010 và ổn định trong giai đoạn 2011 - 2017, đặc biệt từ khi Ngân hàng Nhà nước áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm.

Giai đoạn 2006 - 2017, tiết kiệm bình quân bằng 28% GDP. Đầu tư toàn xã hội so với GDP của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2017 nhìn chung có xu hướng giảm. Bình quân cả giai đoạn, đầu tư toàn xã hội ở mức 35,28% GDP. Tỷ trọng đầu tư của khu vực nhà nước vẫn giảm so với giai đoạn trước xuống còn 38,95%; đầu tư của khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn FDI lần lượt chiếm 37,47% và 23,58%.

Do nhu cầu chi cho phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và trả nợ tăng mạnh nên bội chi NSNN giai đoạn 2011 - 2015 ở mức cao (bình quân 5,79%, cao hơn mục tiêu 5% đề ra tại Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015). Tuy nhiên, bội chi NSNN có xu hướng giảm dần, ở mức 5,64% trong năm 2016 và 3,48% GDP vào năm 2017. Các chỉ tiêu nợ công trong giới hạn được Quốc hội phê duyệt. Đến cuối năm 2017, nợ công bằng 61,3% GDP, nợ chính phủ là 51,6% GDP, phù hợp với mục tiêu đề ra.

Vai trò kiến tạo của Nhà nước trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

 


Quyền con người trong tư tưởng của J. Locke về nhà nước


NHÀ NƯỚC TA LÀ NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN

 

Hà Nguyên Cát

Trước hết, phải khẳng định ngay rằng: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân (GCCN) với giai cấp nông dân (GCND) và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”1. Vấn đề đó đã được ghi rõ ở Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (1992). Nhà nước mà nhân dân ta đang xây dựng là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn phát triển của cách mạng Việt Nam.

Trong lịch sử nhân loại, đến nay đã tồn tại 04 kiểu nhà nước: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản và Nhà nước XHCN. Sự thay thế các kiểu nhà nước là “quá trình lịch sử - tự nhiên”, do sự chi phối trước hết và chủ yếu bởi quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng của xã hội. Trong xã hội có giai cấp, sự ra đời, thay thế các kiểu nhà nước phải thông qua cuộc đấu tranh giai cấp, đỉnh cao là cách mạng xã hội. V.I. Lê-nin đã nhấn mạnh: chính quyền là vấn đề căn bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Nhà nước XHCN ra đời, tồn tại và phát triển là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giữa GCCN và nhân dân lao động với giai cấp thống trị, bóc lột, đỉnh cao là cách mạng vô sản.

Đối với Việt Nam, để giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm con đường cứu nước và mô hình nhà nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành được độc lập. Trong cuộc hành trình lịch sử đó, Hồ Chí Minh đã khảo sát các mô hình nhà nước trên thế giới, điển hình là nhà nước tư sản Mỹ và Pháp. Người phát hiện ra, đằng sau khẩu hiệu đầy hoa mỹ, tốt đẹp về các quyền tự do,

bình đẳng, bác ái và quyền mưu cầu hạnh phúc được ghi đậm trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ (1776) và trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1791), thực chất chỉ là giả hiệu. Xã hội TBCN là xã hội mà ở đó sự bất bình đẳng, nghèo đói, phân biệt chủng tộc và biết bao sự tàn bạo, bất công khác đang hằng ngày, hằng giờ đè nặng lên vai giai cấp cần lao. Người kết luận: đó là những cuộc cách mệnh không đến nơi, bởi ở đó chính quyền vẫn ở trong tay một số ít người; vì thế, “cách mệnh  thành công đã trên 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”2. Khi đến nước Nga (1923), Người nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về Cách mạng Tháng Mười và mô hình Nhà nước Xô Viết - một mô hình nhà nước kiểu mới: “...phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền,... ra sức tổ chức kinh tế mới để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng”3. Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga và mô hình Nhà nước Xô Viết để từng bước nghiên cứu, xác lập mô hình về một kiểu nhà nước tương lai - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sẽ được thiết lập sau khi cách mạng Việt Nam thành công.

Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho cán bộ cấp chiến lược


Kiểm soát quyền lực chính trị bằng trách nhiệm nêu gương một số vấn đề cơ bản

 


Monday, January 9, 2023

25 nhân vật lịch sử Nhật Bản


 25 nhân vật lịch sử Nhật Bản / Nguyễn Quốc Vương. - H. : Phụ nữ Việt Nam, 2022. - 155 tr. ; 21 cm.

25 nhân vật lịch sử Nhật Bản, gồm 25 bài viết về các nhân vật làm nên lịch sử Nhật Bản từ cổ chí kim trên nhiều các lĩnh vực khác nhau: chính trị, khoa học, nghệ thuật, giáo dụ Những nhân vật được tác giả tuyển chọn dù là thiên tài quân sự, chính trị gia xuất sắc hay bậc thầy trà đạo hoặc người họa sĩ cô đơn đều là những nhân vật trở thành biểu tượng của Nhật Bản.

1. Nhân vật lịch sử                      2. Nhật Bản 

Nhà nước khởi tạo: Giải những huyền thoại về vai trò của nhà nước và khu vực tư nhân


 Nhà nước khởi tạo: Giải những huyền thoại về vai trò của nhà nước và khu vực tư nhân / Mariana Mazzucato; Ngô Thị Ngọc Bích dịch; Trần Mạnh Cường hiệu đính.- H.:Thế giới, 2020. - 328 tr. ; 23 cm.

Cuốn sách phân tích những nghiên cứu điển hình khác nhau về tăng trưởng do đổi mới sáng tạo, đặc biệt là các ví dụ từ Thung lũng Silicon - từ Internet đến các công nghệ đằng sau iPhone - Mô tả các tình huống ngược lại như khu vực tư nhân sẽ thật can đảm để đầu tư sau khi nhà nước kinh doanh các khoản đầu tư rủi ro cao. Đưa ra lập luận rằng trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản hiện đại - và ngày nay trong những gì có thể sớm trở thành cuộc cách mạng 'xanh' - nhà nước không chỉ khắc phục những thất bại của thị trường mà còn định hình và tạo ra thị trường, tích cực đầu tư vào các công nghệ và lĩnh vực mới mà các nhà đầu tư tư nhân phải can đảm mới có thể tiến vào.

1. Nhà nước khởi tạo          2. Vai trò của nhà nước      3. Khu vực tư nhân

Xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở tại tỉnh Đắk Lắk hiện nay


 Xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở tại tỉnh Đắk Lắk hiện nay: Sách chuyên khảo / Phạm Xuân Hoàng (ch.b). - H. : Khoa học xã hội, 2022. - 384 tr. ; 21 cm.

Trình bày một số vấn đề lý luận về hệ thống chính trị cấp cơ sở và những yêu cầu đặt ra cần tiếp tục xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở trong bối cảnh hiện nay; thực trạng xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở tại tỉnh Đắk Lắk; giải pháp và kiến nghị xây dựng hệ thống chính trị

1. Xây dựng       2. Hệ thống chính trị          3. Cấp cơ sở         4. Tỉnh Đắk Lắk     5.  Sách chuyên khảo


Triết lý và chính sách giáo dục


 Triết lý và chính sách giáo dục = Philosophy and educational policy: A critical introduction / Christopher Winch, John Gingell ; Nguyễn Thị Hạ Ni dịch. - H. : Dân trí, 2022. - 364 tr. ; 21 cm.Nghiên cứu, phân tích về triết lý giáo dục và mối quan hệ với chính sách giáo dục thông qua xá đinh mục đích của hệ thống giáo dục, xây dựng chương trình giáo dục, cách dạy và học hiệu quả…

1. Triết lý      2. Chính sách giáo dục    

Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc & tác động tới Việt Nam

 

Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc & tác động tới Việt Nam / Cù Chí Lợi (ch.b.), Nguyễn Lan Hương, Nguyễn Thị Hải Yến…. - H. : Khoa học xã hội, 2022. - 336 tr. ; 24 cm.
Nghiên cứu về chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc. Phân tích những tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc tới kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam
1. Thương mại      2. Chiến tranh     3. Mỹ      4. Trung Quốc     5. Tác động đến Việt Nam.



Friday, January 6, 2023

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC MẤY VẤN ĐỀ BÀN LUẬN

 Vũ Quang Hiền

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, nhấn mạnh sự kết hợp vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác. Nhưng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc có những nội dung cần được nhấn mạnh hơn, nhất là thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa, quyền dân tộc tự quyết, đặc biệt là mối quan hệ không thể tách rời giữa độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

1. Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa là vấn đề độc lập dân tộc, xoá bỏ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân 

Khi chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, các cường quốc tư bản phương Tây ra sức tiến hành chiến tranh xâm lược thuộc địa, thiết lập ách thống trị của chủ nghĩa thực dân với những chính sách tàn bạo.

Trước khi chủ nghĩa tư bản phương Tây đưa đại bác đến gõ cửa các quốc gia phương Đông, thì những quốc gia này vẫn còn đang chìm nặng trong bóng tối của chế độ phong kiến ở giai đoạn suy vong, với cấu trúc xã hội gồm hai giai cấp: địa chủ phong kiến và nông dân. Dưới tác động của những chương trình khai thác thuộc địa, các giai cấp này ở Việt Nam ít nhiều có sự biến đổi, những giai cấp mới lần lượt ra đời: công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Tất cả các giai cấp đó đều nằm dưới ách thống trị của chủ nghĩa tư bản thực dân.

Từ  thuở thiếu thời, trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã thấy được sự đối kháng giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược qua các phong trào yêu nước của ông cha và sớm hình thành chí hướng cứu nước. Những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc thuộc địa càng nặng nề, thì phản ứng của dân tộc bị áp bức càng quyết liệt. Không chỉ quần chúng lao động (công nhân và nông dân), mà cả các giai cấp và tầng lớp trên trong xã hội (tiểu tư sản, tư sản và địa chủ) đều phải chịu nỗi nhục của người dân mất nước, của một dân tộc mất độc lập tự do. Ngay giai cấp tư sản Việt Nam cũng khác với giai cấp tư sản phương Tây, mặc dù vẫn là giai cấp bóc lột nhưng không phải là giai cấp thống trị. Họ không phải là đối tượng cách mạng, mà trái lại, có thể trở thành lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc[1]

Cuộc cách mạng ở thuộc địa là một cuộc đấu tranh dân tộc hay đấu tranh giai cấp? Đâu là “cái cốt” của cuộc cách mạng ở thuộc địa? Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đã từng có luận điểm cho rằng: “thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa là vấn đề nông dân”, mà nông dân thì gắn với ruộng đất, vì thế phải nhấn mạnh cách mạng ruộng đất và cuộc đấu tranh giai cấp ở thuộc địa. Với Hồ Chí Minh thì không phải như vậy. Người nhận thấy, yêu cầu bức thiết nhất, trước nhất của xã hội thuộc địa là phải tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chứ chưa phải là đấu tranh giai cấp như trong các xã hội tư bản chủ nghĩa phương Tây. Đối tượng của cách mạng thuộc địa là chủ nghĩa thực dân, chứ không phải là chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc nói chung. Tuy hoạt động tích cực trong Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản, nhưng quan điểm của Nguyễn Ái Quốc có nhiều điểm không trùng hợp với quan điểm của Trung ương Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản, trong đó có vấn đề dân tộc ở thuộc địa. Người phê phán sự không quan tâm đến cách mạng thuộc địa của một số Đảng Cộng sản trên thế giới[2]. Người chỉ rõ thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa là vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc. 

Trong nhiều tác phẩm như Tâm địa thực dân, Bình đẳng, Vực thẳm thuộc địa, Công cuộc khai hóa giết người..., Hồ Chí Minh tập trung tố cáo chủ nghĩa thực dân, vạch trần cái gọi là “khai hóa văn minh” của chúng. Người viết: “Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng, v.v.”. “Nếu lối hành hình theo kiểu Linsơ của những bọn người Mỹ hèn hạ đối với những người da đen là một hành động vô nhân đạo, thì tôi không còn biết gọi việc những người Âu nhân danh đi khai hóa mà giết hàng loạt người dân châu Phi là cái gì nữa”[3]. Trong những bài có tiêu đề Đông Dương và nhiều bài khác, Người lên án mạnh mẽ chế độ cai trị hà khắc, sự bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục. Người chỉ rõ sự đối kháng giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa, đó là mâu thuẫn không thể điều hòa được. Sự áp bức, thống trị dân tộc càng nặng nề, thì phản ứng dân tộc sẽ càng quyết liệt về tính chất, đa dạng về nội dung và phong phú về hình thức. Nghiên cứu tình hình Đông Dương, Hồ Chí Minh nhận thấy: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”[4]. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc lên án mạnh mẽ tội ác của chủ nghĩa thực dân đã tước bỏ tất cả quyền con người và quyền dân tộc ở các thuộc địa.

Nếu như C. Mác bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, V. I. Lênin bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thì Hồ Chí Minh tập trung bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. C. Mác và V. I. Lênin bàn nhiều về đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản chủ nghĩa, Hồ Chí Minh bàn nhiều về đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Trong nhiều tác phẩm, nhất là tác phẩm Đường kách mệnh, Người phân biệt ba loại cách mạng: cách mạng vô sản, cách mạng tư sản và cách mạng giải phóng dân tộc, xác định tính chất và nhiệm vụ của cách mạng thuộc địa là giải phóng dân tộc.

Các hiện tượng tôn giáo mới ở vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên hiện nay


BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM, THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


Trương Thị Điệp

(LĐXH) - Bình đẳng giới là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước dành sự ưu tiên đặc biệt. Những nỗ lực trong việc thực hiện bình đẳng giới của Việt Nam đã mang lại nhiều thành tựu to lớn được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần sự vào cuộc của chính quyền, sự tham gia của toàn dân để khắc phục.

1.  Bình đẳng giới, vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt

Bình đẳng giới là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và trong các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Theo Khoản 3, Điều 5 Luật Bình đẳng giới thì: “ Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.”

Có thể nói, mục tiêu bình đẳng giới hiện là mối lưu tâm hàng đầu của các quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung. Ngay từ thời điểm năm 1955, Liên hợp quốc đã thống nhất quan điểm và thông qua Chương trình hành động giới, lồng ghép giới tại Hội nghị quốc tế về phụ nữ, lần thứ tư tại Bắc Kinh (Trung Quốc); vào năm 1979 tiếp tục thông qua Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ và mục tiêu thiên niên kỷ thứ ba cũng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng đã quyết định đặt ra nhiều ngày lễ quốc tế, nhiều sự kiện trọng đại vì mục tiêu bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Điều này cho thấy sự ưu tiên đặc biệt của cộng đồng quốc tế về vấn đề bình đẳng giới.

Việt Nam là một trong những quốc gia sớm dành cho công tác bình đẳng giới những ưu tiên nhất định. Cụ thể, trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Hiến pháp năm 1946, tại Điều 9 đã đề cập thẳng đến quyền bình đẳng nam nữ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong di chúc, Người cũng trăn trở về vai trò và vị trí của người phụ nữ: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng có thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”. Và vấn đề này đã được thể chế hóa thành các văn bản Luật như Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành các chương trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020... để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay chính trong gia đình của họ.

2. Bình đẳng giới ở Việt Nam, thành tựu và thách thức

2.1. Bức tranh có nhiều “gam màu” sáng

 Để hiện thực hoá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiều dự án đã triển khai thiết lập các mô hình góp phần thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới như: phòng chống bạo lực gia đình tại cộng đồng rất thành công ở Huế, Hải Phòng, Ninh Bình… Điển hình như ở Đà Nẵng, việc ra đời và duy trì các câu lạc bộ “cha mẹ học sinh phòng, chống bạo lực gia đình” tại phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu và “nam giới tiên phong trong phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em” tại xã Hòa Phong, Hòa Khương thuộc huyện Hòa Vang đã thu hút được sự tham gia của đông đảo người dân.Trên cơ sở đó, phải nói rằng không có nhiều quốc gia mà hoạt động, biện pháp thực hiện bình đẳng giới được đưa thành chương trình hoạt động cụ thể ở từng tỉnh, thành, địa phương và đạt được nhiều thành tựu như ở Việt Nam.

Về chính trị, nữ giới Việt Nam có tổ chức chính trị riêng, đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Và tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam luôn thuộc nhóm có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung và tỷ lệ này ngày càng tăng. Điển hình, quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng”[1] thì tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội luôn duy trì ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng lên. Cụ thể: từ 3% ở Quốc hội khóa I tăng lên 24,4% ở khóa VIII (2011 - 2016) và tỷ lệ này là 26,72% với 133 nữ đại biểu Quốc hội trên tổng số 496 đại biểu ở khóa XIV(2016 - 2021). Hay trong bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở nhiều địa phương tỷ lệ phụ nữ trúng cử vượt dự kiến như: Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt 43%; Đại biểu Hội đồng nhân dân quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội, tỷ lệ phụ nữ trúng cử đạt gần 45%.[2]

Biến đổi văn hóa mưu sinh của cư dân xã Hương Sơn trong phát triển du lịch


Văn hóa xã hội tích cực và vai trò của truyền thông


PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM: TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

 Phạm Thị Thanh Bình

Phát triển bền vững là một phương thức phát triển tổng hợp đa ngành, liên ngành, thành chương trình hành động với nhiều tiêu chí ngày càng được cụ thể và rõ nét. Phát triển bền vững, mang tính tất yếu và là mục tiêu cao đẹp của quá trình phát triển.

Phát triển bền vững là mối quan tâm trên phạm vi toàn cầu. Trong tiến trình phát triển của thế giới, mỗi khu vực và quốc gia xuất hiện nhiều vấn đề bức xúc mang tính phổ biến. Kinh tế càng tăng trưởng thì tình trạng khan hiếm các loại nguyên nhiên liệu, năng lượng do sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo được càng tăng thêm, môi trường thiên nhiên càng bị hủy hoại, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, thiên nhiên gây ra những thiên tai vô cùng thảm khốc.

Đó là sự tăng trưởng kinh tế không cùng nhịp với tiến bộ và phát triển xã hội. Có tăng trưởng kinh tế nhưng không có tiến bộ và công bằng xã hội; tăng trưởng kinh tế nhưng văn hóa, đạo đức bị suy đồi; tăng trưởng kinh tế làm dãn cách hơn sự phân hóa giàu nghèo, dẫn tới sự bất ổn trong xã hội. Vì vậy, quá trình phát triển cần có sự điều tiết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an ninh xã hội và bảo vệ môi trường hay phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu bức thiết đối với toàn thế giới.

Khái niệm phát triển bền vững

Năm 1980, trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN-International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) đã đưa ra mục tiêu của phát triển bền vững là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ phát triển bền vững ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật.

Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED-World Commission on Environment and Development) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” được định nghĩa là “Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.

Quan niệm này chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển. Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai (Gôdian và Hecdue, 1988, GS. Grima Lino).

Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: “Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).

Vai trò của pháp luật trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam


Quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về giải phóng con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức và ý nghĩa gợi mở đối với việc xây dựng con người Việt Nam hiện nay


Monday, December 5, 2022

Những nội dung cơ bản và mới trong các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII


Những nội dung cơ bản và mới trong các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII / Nguyễn Viết Thông. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 80 tr. ; 19 cm.

Trình bày những nội dung cơ bản và mới trong Nghị quyết số 18-NQ/TW lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII về: Nghị quyết một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao...

1. Đảng Cộng sản Việt Nam                     2. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm                  3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

21 phẩm chất vàng của nhà lãnh đạo = The 21 indispensable qualities of leadership


21 phẩm chất vàng của nhà lãnh đạo = The 21 indispensable qualities of leadership / John C. Maxwell; Hà Quang Hùng dịch. - H. : Lao động, 2022. - 212 tr. ; 21 cm. 

Giới thiệu 21 phẩm chất giúp bạn nâng cao và hoàn thiện trình độ mỗi ngày để trở thành nhà lãnh đạo thành công: Tính cách, sức hút, tận tâm, khả năng giao tiếp, năng lực, can đảm, sáng suốt, tập trung, phóng khoáng, chủ động, lắng nghe…

1. Phẩm chất vàng                     2. Nhà lãnh đạo 

Vận dụng quan điểm của Đảng trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII vào nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị


Vận dụng quan điểm của Đảng trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII vào nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị / Nguyễn Quốc Dũng, Võ Thành Khối, Phan Xuân Tuy,…. - Tp. Hồ Chí Minh : Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2022. - 856 tr. ; 24 cm.

Nội dung chính của cuốn sách gồm có 4 phần:

- Phần 1: Những nội dung cơ bản trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Phần 2: Vận dụng những nội dung về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Quốc phòng- an ninh - đối ngoại trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng vào nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị,

- Phần 3: Vận dụng quan điểm Đại hội XIII của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục và phát huy nguồn lực con người vào nghiên cứu. giảng dạy lý luận chính trị.

- Phần 4: Vận dụng quan điểm Đại hội XIII của Đảng về hệ thống chính trị vào nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị.

1. Vận dụng              2. Quan điểm                3. Đảng Cộng sản Việt Nam              4. Văn kiện                   5. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII             6. Nghiên cứu              7. Giảng dạy lý luận chính trị 

Kính chào thế hệ thứ tư


 Kính chào thế hệ thứ tư / Võ Văn Kiệt. - Tp. Hồ Chí Minh : Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2022. - 272 tr. ; 15 cm.

Tập hợp những bài phát biểu quan trọng của đồng chí Võ Văn Kiệt khi còn giữ cương vị Bí thư Thành uỷ Tp. Hồ Chí Minh về công tác vận động thanh niên, sự quan tâm chăm sóc của Đảng đối với thế hệ trẻ, phát triển toàn diện thế hệ trẻ. Trách nhiệm đoàn viên đối với thanh thiếu niên, nhi đồng Việt Nam

1. Đảng Cộng sản Việt Nam      2. Võ Văn Kiệt

Hồ Chí Minh - Người mang lại ánh sáng - T. 1 - Hội khoa học lịch sử Việt Nam


Hồ Chí Minh - Người mang lại ánh sáng - T. 1 - Hội khoa học lịch sử Việt Nam / Stanley Karnow, Pierre Brocheux, Alain Ruscio... ; Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tuyển chọn, biên soạn. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 292 tr. ; 21 cm.

Giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới qua những bài viết của các nhà khoa học trong nước và quốc tế

1. Hồ Chí Minh      2. Lịch sử     3. Việt Nam