Friday, October 1, 2021
Thursday, September 9, 2021
Wednesday, September 8, 2021
KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG
Lê Hữu Nghĩa
TCCS - Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và được bổ
sung, phát triển năm 2011 và các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc thời kỳ đổi
mới đều khẳng định: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Đồng thời
Đảng yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải “kiên định chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực
tiễn Việt Nam”(1). Kiên định và sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là hai mặt của một vấn đề thống nhất với nhau; kiên định phải
trên cơ sở sáng tạo và sáng tạo phải trên cơ sở kiên định, nếu không sẽ sa vào
sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, máy móc hoặc chủ nghĩa cơ hội, xét lại.
Trong hơn 88 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại; nhờ đó đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, vượt qua mọi thác ghềnh, vượt qua những thời điểm hiểm nghèo của cách mạng.
PH.ĂNGGHEN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH QUAN NIỆM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ
Hoàng Hải Bằng (*)
Từ nửa đầu những năm 40 của thế
kỷ XIX, Ph.Ăngghen đã có những nghiên cứu độc lập và tiến dần đến quan niệm duy
vật về lịch sử. Ông đã đưa ra một số kết luận quan trọng về vai trò của các
quan hệ kinh tế trong đời sống xã hội, chỉ ra nguồn gốc và tính tất yếu của
cách mạng xã hội, giải thích sự tiếp nối của hệ thống các yếu tố lực lượng sản
xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng chính trị, vạch rõ tính giai
cấp của ý thức xã hội… Với những đóng góp này, công lao của Ph.Ăngghen trong
việc xây dựng chủ nghĩa duy vật lịch sử là đặc biệt quan trọng, mặc dù ông luôn
coi thành tựu ấy là kết quả do sự lao động sáng tạo của riêng C.Mác. Đó là sự
khiêm nhường của một nhân cách lớn.
VỀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG GIAI ĐOẠN TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY
Nguyễn Ngọc Chuẩn
Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, cái giúp cho con người vượt qua những khó khăn, thử thách, giải thoát con người khỏi những thách đố và vướng mắc của cuộc sống, đáp ứng nhu cầu thường nhật và lâu dài của nhân loại không chỉ là kinh tế, kỹ thuật hiện đại và công nghệ cao, mà còn là triết học. Triết học giúp cho con người tìm ra lời giải không chỉ cho những thách đố muôn thuở, mà còn cho những vấn đề hoàn toàn mới do quá trình toàn cầu hoá đặt ra. Triết học không chỉ giúp con người nhận thức rõ địa vị của mình, lối sống xứng đáng với con người, mà còn giúp họ xác định mục tiêu và lý tưởng sống để từ đó, góp phần biến đổi hiện thực nhằm phục vụ cho chính mình. Không chỉ thế, trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, triết học còn giúp cho con người có được sự định hướng đúng đắn trong hành động và củng cố quyết tâm hành động, đánh giá đúng những biến động đang diễn ra, gợi mở cách đi, hướng giải quyết các vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra. Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, triết học cũng đang thực hiện chính những vai trò to lớn đó.
DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI GIÁ TRỊ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
TS. Cao Đức Thái
QĐND - Giá trị của một dân tộc là
nền tảng tinh thần được hình thành trong lịch sử lâu dài trong một cộng đồng,
đó là truyền thống dựng nước, giữ nước, đó là những phương châm về đạo lý, lẽ
sống của xã hội… Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển
những giá trị dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay...
QĐND - Giá trị của một dân tộc là nền tảng tinh thần được
hình thành trong lịch sử lâu dài trong một cộng đồng, đó là truyền thống dựng
nước, giữ nước, đó là những phương châm về đạo lý, lẽ sống của xã hội… Di chúc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển những giá trị dân tộc Việt
Nam trong thời đại ngày nay. Những giá trị cơ bản đó có thể được khái quát như
sau:
Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước, là
ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống các thế lực xâm lược. Cho dù
sức mạnh của chúng lớn đến đâu, sự tàn bạo của chúng như thế nào và âm mưu thâm
hiểm ra sao…, cũng không thể khuất phục được dân tộc ta. Phát triển chủ nghĩa
yêu nước, ý thức về độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh đã gắn truyền thống đó với
khái niệm về bình đẳng và quyền của mỗi dân tộc. Trong Tuyên ngôn độc lập,
Người viết: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,
tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Một trong những tư tưởng lớn của Người là gắn liền độc lập
dân tộc với tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân. Người nói: “Nếu nước độc
lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra ác liệt, Người nói: “ Không
có gì quý hơn độc, lập tự do”. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh đến mục tiêu của
Đảng ta là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt
Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh…”
Chủ
tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Monday, September 6, 2021
HỌC TẬP BÁC NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM
Nguyễn Thắm
Chủ tịch Hồ
Chí Minh là tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng “nói đi đôi với
làm”, cho mọi thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo, đặc biệt là thế hệ trẻ
- lực lượng góp phần quyết định sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc hiện tại
cũng như trong tương lai.
Nói đi đôi
với làm là một trong những phẩm chất sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mọi
thế hệ người Việt Nam học tập và làm theo. Trong suốt cuộc đời, Bác đã thực
hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ nói đi đôi với làm. Nhiều câu chuyện cảm
động về việc nêu gương, nói đi đôi với làm của Bác để cho chúng ta học tập, từ
đôi dép lốp Bác đi, áo vá vai Bác mặc đến cái ô tô cũ Bác dùng, việc nhịn bữa
ăn để cứu dân nghèo... đã thể hiện tấm lòng nhân ái, tấm gương đạo đức, tư
tưởng vì nước vì dân, Người nói: cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu
chúng ta dùng, đều do mồ hôi , nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta
phải đền bù xứng đáng cho nhân dân.
KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN NHỮNG PHÁT NGÔN LỆCH LẠC, PHIẾN DIỆN VỀ PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID -19 !
LÊ NGUYỄN
Trên
cơ sở phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, thời gian qua chúng ta đã từng
bước ngăn chặn có hiệu quả dịch bệnh Covid-19. Tuy vậy, với góc nhìn phiến diện,
thiển cận, thiên kiến, một số cá nhân, tổ chức đang cố tình phủ nhận những
thành quả trong phòng, chống dịch Covid-19 của nước ta. Nhận thức của những cá
nhân, tổ chức này là không thể chấp nhận được và đáng bị xã hội lên án.
1. Cố tình phủ nhận những thành quả trong phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam, một số tổ chức, cá nhân cho rằng “Việt Nam chống dịch thành công là nhờ may mắn”(?). Gần đây (vào tối 3/8/2021), trên mạng xã hội xuất hiện một video dài 3 phút 59 giây ghi lại cuộc hội thoại diễn ra trong một tiết học online giữa một sinh viên và giảng viên của Trường Đại học ở Đà Nẵng - trong phần tranh luận, giảng viên T.T.T đã có những phát ngôn phủ nhận những thành quả chống dịch của Đảng, Nhà nước, chính quyền các địa phương, các tầng lớp nhân dân: “Từ đầu mùa dịch tới giờ Chính phủ đã hỗ trợ cho em cái gì chưa?”, “Có dân nước nào chạy 1.500 km về quê, như vậy hệ thống an sinh xã hội của chúng ta quá kém đúng không?... Cô cảm thấy rất nhục nhã vì đều đó. Khi dịch đến, những quốc gia trên thế giới người ta được hỗ trợ rất nhiều,… còn chúng ta thì thế nào? Em lên thử đèo Hải Vân coi, đó mới là sự nhục nhã...”.
HAI LỜI KÊU GỌI - MỘT QUYẾT TÂM CHÍNH TRỊ
NGUYỄN CÔNG
Trong
hơn một năm người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam đã hai lần ra Lời kêu gọi nhằm
hiệu triệu sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cùng chung sức chống lại
sự bùng phát của dịch bệnh Covid -19 ở Việt Nam. Hai lời kêu gọi ở hai thời điểm
khác nhau nhưng với một quyết tâm chính trị cao nhất: nhanh chóng ngăn chặn, đẩy
lùi dịch bệnh để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân, giữ vững thành quả
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh mới.
Đại dịch Covid-19 khởi nguồn từ Thành phố Vũ Hán (Trung Quốc) từ cuối năm 2019 và nhanh chóng lan rộng sang các nước châu Âu như Italy, Tây Ban Nha, Pháp, Anh vào tháng 3-2020. Sau đó, tâm dịch chuyển sang Ấn Độ, Iran ở châu Á, rồi đến Mỹ, Brazil ở châu Mỹ và đến nay dịch bệnh đã tấn công ở tất cả các quốc gia và châu lục trên toàn thế giới. Hiện nay, thế giới đang đối mặt với làn sóng bùng phát dịch Covid-19 mới với sự gia tăng nhanh chóng các ca nhiễm trên phạm vi toàn cầu. Thống kê mới nhất cho thấy, tổng số người nhiễm bệnh trên thế giới đến nay là 198.905.983, trong đó có 4.238.566 người tử vong, cụ thể số người nhiễm bệnh ở các châu lục: Châu Á: 62.273.770; Châu Âu: 51.584.509; Bắc Mỹ: 42.607.425; Nam Mỹ 35.539.924; Châu Phi: 6.793.591.
DÂN CHỦ VÀ KỶ CƯƠNG - NHÌN TỪ ĐẠI DỊCH COVID-19
HÀ SƠN
Covid-19
xuất hiện và tồn tại đến nay đã hơn một năm rưỡi và chắc chắn sẽ còn tồn tại
trong một khoảng thời gian không ngắn. Sức tàn phá khủng khiếp cả về tính mạng
và tài sản do con virut này gây ra đã biến nó trở thành một đại dịch toàn cầu.
Không chỉ có thế, Covid-19 còn như “một chất thử liều cao” đối với các thể chế
chính trị, các chính phủ trong việc nhìn nhận, đánh giá và xử lý các vấn đề
kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội có liên quan mật thiết đến đời sống người
dân.
Quả thực, nhìn vào thực
tế những gì đã và đang diễn ra ở các nước đứng đầu thế giới về số người chết và
số ca nhiễm, nghi nhiễm Covid-19 từ khi dịch bệnh này xuất hiện cho đến nay,
chúng ta thấy được sự khác biệt rất rõ nét về cách thức các chính phủ nhìn nhận
và giải quyết các thách thức do đại dịch Covid gây ra trong rất nhiều mối quan
hệ, như: giữa tăng trưởng kinh tế và sức khỏe nhân dân; giữa lợi ích quốc gia
dân tộc và trách nhiệm quốc tế; giữa nhà nước và thị trường trong cung ứng một
số dịch vụ công thiết yếu; giữa bảo đảm dân chủ và tăng cường kỷ cương, kỷ
luật…
Monday, August 9, 2021
HỒ CHÍ MINH VÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN ỨNG XỬ NGOẠI GIAO
ThS. Vũ Kim Yến
(Chinhphu.vn)
- Chủ tịch Hồ Chí Minh không câu nệ về “đối đẳng chức vụ”, không bị ràng buộc
bởi nghi thức ngoại giao mà luôn chủ động, linh hoạt và hết sức chú trọng đến
mục tiêu, hiệu quả của công tác đối ngoại. Đúng như lời cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng nhận xét: “Sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh trong giao tiếp ngoại giao
đã trở thành những câu chuyện huyền thoại”.
Dù
người đối thoại là nguyên thủ quốc gia, lãnh tụ Đảng, chính khách, trí thức hay
chỉ là người công nhân, nông dân bình thường, Hồ Chí Minh cũng luôn chủ động
trong ứng xử. Sự chủ động đó vừa tự nhiên, bình dị, chân thành vừa ân cần tế
nhị, được thể hiện hết sức sinh động và phong phú trong tư thế chủ động, với
ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn và dễ hiểu, với nụ cười luôn đem lại sự bất ngờ làm
xóa nhòa mọi khoảng cách, đem lại hiệu quả cao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận hoa từ các em bé trong chuyến thăm Cộng hoà Dân chủ Đức tháng 7/1957
Tuesday, August 3, 2021
Monday, August 2, 2021
Tuesday, July 6, 2021
Monday, July 5, 2021
BÁC HỒ TỚI THĂM CÁC CHÁU ĐÓ!
Ngày 31-5-1959, Bác Hồ ra thăm đảo Cát Bà, vào một xóm chài. Một đoàn thuyền đi đánh cá đêm về vừa cập bến, cá trắng đầy khoang. Bác dừng lại giơ tay chào bà con rồi quay lại bảo đồng chí Bí thư Huyện ủy Cát Bà đi sau:
– Trời sa mù thường hay lắm cá.
– Vâng ạ.
– Mùa này thường nhiều cá đẻ phải không chú?
– Vâng ạ.
– Ở đây đã có thuyền lắp máy để đánh cá chưa?
– Dạ thưa Bác, chưa có ạ.
Bác nói:
– Rồi đây phải đưa máy móc vào nghề cá. Đảng và Chính
phủ sẽ giúp đỡ bà con sắm thêm thuyền lưới tốt hơn.
Bác vào một gia đình đánh cá ở đầu xóm. Người lớn đi vắng
cả, chỉ có một em gái nhỏ đang ngồi nấu cơm. Bác hỏi em nhỏ:
– Bố mẹ cháu đi đâu?
Em bé đứng dậy, lễ phép thưa:
– Bố cháu đi đánh cá, mẹ cháu ra chợ ạ.
Friday, July 2, 2021
QUYỀN CON NGƯỜI GẮN VỚI QUYỀN DÂN TỘC CƠ BẢN VÀ THUỘC PHẠM VI CHỦ QUYỀN QUỐC GIA
Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
(ĐCSVN) - Có thể khẳng định, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là
tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong những năm qua, Việt Nam đã
đạt nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trong tất cả các lĩnh vực
dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở
thành một nước độc lập có chủ quyền, có quyền dân tộc tự quyết, quyền lựa chọn
quyết định thể chế chính trị của mình. Người dân có quyền tham gia vào việc xây
dựng và quyết định các quyết sách của đất nước.
Quyền bầu cử, ứng cử, ngày càng được phát huy.
Ngoài tổ chức chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam, còn có các
tổ chức chính trị-xã hội và hàng trăm tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo lứa
tuổi, giới tính, lĩnh vực nghề nghiệp hoạt động thu hút hàng chục triệu hội
viên tham gia. Mọi tư tưởng và chính kiến khác nhau được tự do đề đạt có tổ
chức.
Quyền tự do báo chí, tự do hội họp theo quy định của pháp luật
được tôn trọng. Với số đầu báo, tạp chí tăng nhanh, thông tin đa dạng, phong
phú đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin của người dân. Hệ thống phát thanh,
truyền hình phát triển nhanh, tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
có đài phát thanh, truyền hình, với trên 95% số xã được phủ sóng truyền hình,
gần 99% số xã được phủ sóng phát thanh.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn
giáo được đảm bảo. Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo theo quy định của
pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo
pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Các dân tộc được đảm bảo bình đẳng về quyền
lợi và nghĩa vụ, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển; được tạo cơ
hội phát triển như nhau, được duy trì tiếng nói và chữ viết riêng, bảo tồn văn
hoá truyền thống. Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng được nâng
cao.
Quyền khiếu nại, tố cáo được đảm bảo; quyền bất khả xâm phạm thân
thể và quyền được bảo vệ tính mạng sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của người dân
luôn được tôn trọng.
ĐỂ TẤT CẢ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THUỘC VỀ NHÂN DÂN
Danh Sơn
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, thời gian qua, cả hệ
thống chính trị tham gia vào cuộc đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
trong thực thi quyền lực nhà nước, để “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế,
luật pháp”(1) nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.
Thực tế trong những năm qua khẳng định, đó không phải là khẩu hiệu suông, càng
không phải là việc “triệt hạ phe phái”, như các thế lực thù địch đã rêu rao,
xuyên tạc.
Sinh thời, khi nói về bản chất nhà nước mà chúng ta đang xây dựng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ngay ở Điều 1, Hiến pháp năm 1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Người nhấn mạnh: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Do vậy có quyền nhân dân trực tiếp làm, trực tiếp thực hiện; có quyền nhân dân giao hay ủy quyền cho một tổ chức, một nhóm người hoặc cho một người thực hiện để thực hiện mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: Để chống lại tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, đòi hỏi các cơ quan Đảng, Nhà nước và cán bộ phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng, của nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ là cái gốc của mọi công việc: “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(2). Khi có đường lối đúng thì khâu quyết định là lựa chọn đúng cán bộ. Người căn dặn các cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(3). Để bảo đảm yêu cầu đó, một trong những điều kiện tiên quyết là phải thiết lập cơ chế bầu cử thực chất, phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân khi bầu ra thành viên các cơ quan dân cử.
CÁC NƯỚC NHỎ TRONG HỆ THỐNG QUỐC TẾ
Quỳnh Mai - Quang Chinh
LTS: Quan hệ giữa nước lớn - nước nhỏ luôn là một trong những vấn đề căn bản nhất trong nghiên cứu quan hệ quốc tế. Trong hoàn cảnh "vô chính phủ" của hệ thống quốc tế hiện đại, các nước lớn với sức mạnh kinh tế, quân sự vượt trội luôn đe dọa sự tồn vong của các nước nhỏ. Vậy, các nước nhỏ phải làm gì trước những thách thức nghiêm trọng về an ninh và lợi ích quốc gia như vậy? Trong bài viết riêng dành cho TG&VN, dựa trên các lý thuyết của quan hệ quốc tế, đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực, TS. Rob Kevlihan đã đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi trên.
Monday, June 14, 2021
VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
Nguyễn Trọng Phúc
Sự lãnh đạo của Ðảng trước hết ở sự bổ sung,
phát triển hoàn chỉnh hệ thống các quan điểm về cách mạng giải phóng dân tộc; ở
sự lựa chọn hình thức và phương pháp cách mạng phù hợp với điều kiện lịch sử cụ
thể; ở sự tổ chức xây dựng lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị và
lực lượng vũ trang; ở sự nhận thức tình thế và thời cơ cách mạng để đưa quần
chúng vào hành động cách mạng; ở sự chỉ đạo kiên quyết, tập trung, thống
nhất trong giờ phút có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi.
Ðể đưa cao trào giải phóng dân tộc (1939-1945)
đến thắng lợi bằng cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, có ba thời điểm lịch sử thể
hiện bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo đặc biệt của Ðảng ta: đó là
các hội nghị Trung ương từ cuối năm 1939 đến đầu năm 1941 phát triển hoàn
chỉnh, sáng tạo đường lối giải phóng dân tộc; những quyết sách quan trọng cuối
năm 1944 đầu năm 1945 thổi bùng lên cao trào kháng Nhật cứu nước; quyết định
Tổng khởi nghĩa của Hội nghị Ðảng toàn quốc tháng 8-1945.
Các Hội nghị Trung ương Ðảng (11-1939),
(11-1940) và nhất là Hội nghị Trung ương tám (5-1941) đã đề ra những quan
điểm và biện pháp cơ bản chỉ đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
GIÁ TRỊ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
GS.TS. Mạch Quang Thắng
Tư tưởng Hồ Chí Minh không những có tác động tích cực đối với
tiến trình lịch sử mà còn soi sáng con đường phát triển của dân tộc Việt Nam.
Đặc biệt, trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tư tưởng Hồ Chí Minh
đã khẳng định ý nghĩa và giá trị lý luận, thực tiễn, bởi đó là giá trị văn hóa
của dân tộc Việt Nam và cũng là một phần giá trị của văn hóa nhân loại. Việc
kiên định mục tiêu, con đường phát triển của dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh,
nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng là yêu cầu tất yếu trong quá trình
lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
“HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” - TÁC PHẨM ĐÁNH DẤU SỰ RA ĐỜI, MỘT THẾ GIỚI QUAN MỚI, MỘT QUAN NIỆM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ"
Đặng Hữu Toàn (*)
Trên cơ sở phân tích và luận giải
những luận điểm cơ bản mà lần đầu tiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra và trình
bày một cách tương đối hoàn chỉnh, có hệ thống, sâu sắc để trên cơ sở đó, xây
dựng một quan niệm mới, duy vật biện chứng về thế giới và về lịch sử nhân loại,
tác giả đã khẳng định rằng, cái làm nên giá trị trường tồn, sức sống bền vững
và ý nghĩa lịch sử lớn lao của “Hệ tư tưởng Đức” chính là thế giới quan duy vật
biện chứng và quan niệm duy vật về lịch sử. Bởi lẽ, đó là những thành tố đã làm
nên bước ngoặt cách mạng thực sự trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại,
tạo ra một phương pháp luận thực sự khoa học cho việc nghiên cứu tiến trình
phát triển của xã hội loài người và bước đầu đặt cơ sở lý luận cho chủ nghĩa xã
hội khoa học với tư cách kết quả có tính quy luật của tiến trình lịch sử khách
quan, một cuộc vận động hiện thực trên cơ sở và nền tảng kinh tế - xã hội phát
triển mà hiện đang được chúng ta lấy làm nền tảng tư tưởng, làm cơ sở lý luận
cho công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Lê Văn Quang(*)
Trong bài viết này, tác giả
khẳng định rằng, trong hàng loạt nhân tố tạo nên sự thành công của quá trình
đổi mới tư duy lý luận ở Việt Nam, triết học Mác - Lênin có vai trò đặc biệt
quan trọng. Theo tác giả, trong điều kiện hiện nay, triết học Mác - Lênin vẫn
giữ được tính khoa học và đúng đắn, vẫn giữ nguyên giá trị định hướng cho những
người cách mạng; nó giúp cho Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam nhận thức đúng
các vấn đề của thời đại có liên quan chặt chẽ đến đổi mới tư duy lý luận; đồng
thời, là cơ sở lý luận và phương pháp để tư duy đúng đắn về con đường phát
triển của cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả nhấn mạnh rằng, nắm vững
các vấn đề cơ bản của triết học mácxít và không ngừng hoàn thiện phương pháp tư
duy có ý nghĩa vô cùng to lớn trong đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy lý luận.
Saturday, June 12, 2021
Monday, June 7, 2021
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO BÁC VỀ "TRUNG THỰC" VÀ "TRÁCH NHIỆM"
Hoàng Anh
Chủ
tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về trung thực, trách nhiệm. Trung thực
và trách nhiệm với mình, với người, với việc được thể hiện trong tư tưởng và lẽ
sống của Người.
Tư tưởng Hồ chí Minh về trung thực, trách nhiệm
Trung
thực là thành thực với chính mình, với mọi người, với công việc; luôn tuân thủ
chuẩn mực đạo đức, chân thật trong từng lời nói và hành động. Đó là một trong
những phẩm chất quan trọng nhất, tạo nên định hướng giá trị nhân cách chân
chính. Tính trung thực giúp con người được tin cậy. Người trung thực không chấp
nhận gian dối trong bất kỳ việc gì. Trung thực làm nên tính tự trọng thẳng thắn
của cá nhân; tạo nên uy tín, sức mạnh cho tập thể. Sống trung thực đòi hỏi phải
dũng cảm và nghiêm khắc với chính bản thân. Do đó, trung thực luôn luôn gắn
liền với trách nhiệm.
Trung
thực là phẩm chất hàng đầu của cán bộ, đảng viên làm công tác lãnh đạo, quản
lý. Những người thiếu trung thực sớm muộn cũng bị phát hiện, làm mất lòng tin
của người khác. Người thiếu trung thực thì không thể duy trì mối quan hệ chặt
chẽ, lâu dài với những người xung quanh. “Một sự bất tín, vạn sự bất tin”. Để
củng cố, tăng cường lòng tin của nhân dân đối với lãnh đạo của Đảng, Nhà nước,
cần đề cao tính trung thực đi đôi với trách nhiệm của từng cấp ủy, tổ chức
đảng, cơ quan, đơn vị và mỗi đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ cương vị
lãnh đạo, quản lý.

























