Monday, June 3, 2024

Quan điểm của Hồ Chí Minh về phòng, chống tha hóa quyền lực chính trị

 


MỘT SỐ XU HƯỚNG CỦA CỤC DIỆN THẾ GIỚI VÀ LỰA CHỌN CỦA TRUNG QUỐC

 

Hoàng Lan (gt)

 




Cục diện thế giới đang trong giai đoạn định hình, “quyền lực chuyển dịch về phía Đông”, “đọ sức Trung-Mỹ” ,“thế chân vạc”, “thế giới đa cực”, “rối loạn và mất trật tự” xu hướng cục diện thế giới đang định hình triển vọng trong tương lai có thể hình thành. Bài viết phân tích ngắn gọn những xu thế này và sự lựa chọn chiến lược của Trung Quốc trước mắt cũng như trong tương lai.

Lời mở đầu

Cục diện thế giới đang trong giai đoạn định hình, “quyền lực chuyển dịch về phía Đông”, “đọ sức Trung-Mỹ” ,“thế chân vạc”, “thế giới đa cực”, “rối loạn và mất trật tự” xu hướng cục diện thế giới đang định hình triển vọng trong tương lai thể hình thành. Không loại trừ thế giới thể phải trải qua thời kỳ rối loạn và mất trật tự. Thời kỳ này kéo dài bao lâu, phải xem tình hình khách quan và nỗ lực chủ quan. Một mặt tình thế mạnh hơn con người, mặt khác lịch sử lại chính là do con người tạo ra. Trung Quốc phát triển theo hướng nào trong đại dương mênh mông của thế giới, phát triển như thế nào, phát triển cùng ai, đều liên quan đến đại cục và tình hình chung. Chỉ cần Trung Quốc duy trì bản lĩnh chiến lược của mình, đi đúng hướng, vững bước tiến lên, đến khi đạt được 2 mục tiêu 100 năm, thì việc dân tộc Trung Hoa thực hiện sự phục hưng vĩ đại và nhân dân thế giới hòa bình phát triển sẽ trở thành những mong ước tốt đẹp.

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945, thế giới bị chia làm hai mặt trận lớn Đông và Tây, và bắt đầu Chiến tranh Lạnh gần nửa thế kỷ, Mỹ và Liên Xô - hai cường quốc tranh bá đã tạo nên cục diện cơ bản của thế giới. Năm 1991, Liên tan rã, Chiến tranh Lạnh từ đó cũng kết thúc, cục diện thế giới bước vào thế giới đơn cực do siêu cường Mỹ “độc bá”. Nhưng vụ tấn công khủng bố “11/9” đã xáo trộn cục diện này, sự trỗi dậy của các nước không phải phương Tây như Trung Quốc càng làm thay đổi cục diện “gió Tây mạnh”. Tiếp theo là bão táp tài chính năm 2008 lại giáng một đòn mạnh vào thế giới phương Tây đứng đầu là Mỹ, cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn hồi phục. Bài viết phân tích ngắn gọn vài xu thế có thể xảy ra đối với cục diện thế giới và sự lựa chọn chiến lược của Trung Quốc trước mắt cũng như về sau này.

Chiến thắng Sa Thầy (1966) - Biểu hiện sinh động của nghệ thuật "lừa địch, dụ địch, điều địch"


Mấy vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ủy quân sự tỉnh (thành phố)


Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không 1972" - Sức mạnh Việt Nam và tầm vóc thời đại


 Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không 1972" - Sức mạnh Việt Nam và tầm vóc thời đại / Phan Văn Giang, Đinh Tiến Dũng, Lương Cường,…. - H.  : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 1215 tr. ; 27 cm.

Cuốn sách được kết cấu thành ba phần:

- Phần thứ nhất: Những vấn đề chung

- Phần thứ hai: Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không 1972" - Biểu tượng của sức mạnh Việt Nam

- Phần thứ ba: Ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại

1. Chiến thắng        2. Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không 1972         3. Việt Nam

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam hiện nay


 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam hiện nay / Bùi Thanh Tuấn (ch.b), Trần Ngọc Ánh, Vũ Thị Hương,…. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 399 tr. ; 24 cm.

Trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam; nghiên cứu thực trạng, dự báo, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam thời gian tới

1. Bảo đảm      2. An ninh con người        3. Việt Nam

Bảo đảm và phát huy sự liêm chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay


 Bảo đảm và phát huy sự liêm chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay / Lê Khánh Ly (ch.b), Vũ Trọng Lâm, Đỗ Ngọc Ninh,…. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 327 tr. ; 21 cm.

Nội dung cuốn sách gồm ba chương:

- Chương 1: Bảo đảm và phát huy sự liêm chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn.

- Chương 2: Thực trạng bảo đảm và phát huy sự liêm chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.

- Chương 3: Phương pháp, giải pháp tiếp tục bảo đảm và phát huy sự liêm chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam trong thời gian tới.

1. Bảo đảm     2. Phát huy      3. Liêm chính     3. Cán bộ      4. Việt Nam

Phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

 

Phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước: Sách chuyên khảo / Nguyễn Duy Bắc, Vũ Thị Phương Hậu (đồng ch.b), Bùi Thị Kim Chi,.... - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 360 tr. ; 24 cm.

Trên cơ sở tổng hợp, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam trên các lĩnh vực: kinh tế, xây dựng Đảng, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam, an sinh xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc, các tác giả đã đề xuất các định hướng và các giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

1. Phát huy    2. Văn hóa    3. Con người   4. Xây dựng      5. Phát triển     6. Việt Nam

Kinh nghiệm của Đảng về xây dựng bộ đội chủ lực trong cuộc chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)

 


Tuesday, May 7, 2024

Luật Phòng cháy và chữa cháy - Công tác thanh tra, kiểm tra an toàn, phòng chống cháy nổ trong các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, kỹ năng thoát hiểm khi xảy ra hỏa hoạn

 

Luật Phòng cháy và chữa cháy - Công tác thanh tra, kiểm tra an toàn, phòng chống cháy nổ trong các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, kỹ năng thoát hiểm khi xảy ra hỏa hoạn / Vũ Tươi hệ thống. - H. : Công an nhân dân, 2023. - 392 tr. ; 28 cm.

Nội dung cuốn sách gồm những phần sau:

- Phần thứ nhất: Luật Phòng cháy và chữa cháy - Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành

- Phần thứ hai: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Phương tiện phòng cháy và chữa cháy

- Phần thứ ba: Quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ phòng cháy, chữa cháy

- Phần thứ tư: Quản lý nhà nước về công tác chữa cháy trong tình hình mới

- Phần thứ năm: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ

- Phần thứ sáu: Một số kỹ năng thoát hiểm khi xảy ra hỏa hoạn trong các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, hộ kinh doanh 

1. Luật Phòng cháy và chữa cháy                         2. Công tác thanh tra                           3. Kiểm tra                   4. An toàn

Sổ tay nghiệp vụ thuế quy trình thanh tra, kiểm tra, hoàn thuế, phí, lệ phí

 

Sổ tay nghiệp vụ thuế quy trình thanh tra, kiểm tra, hoàn thuế, phí, lệ phí / Bích Phương hệ thống. - H. : Tài chính, 2023. - 400 tr. ; 28 cm.

Nội dung cuốn sách gồm các phần chính sau:

- Phần thứ nhất: Quy trình kiểm tra thuế, hoàn thuế, thanh tra thuế

- Phần thứ hai: Luật quản lý thuế và văn bản hướng dẫn thi hành

- Phần thứ ba: Hướng dẫn thi hành luật thuế giá trị gia tăng mới nhất

- Phần thứ tư: Văn bản hợp nhất luật thuế thu nhập doanh nghiệp

- Phần thứ năm: Quy định về phí và lệ phí mới 

1. Sổ tay                               2. Nghiệp vụ thuế                  3. Quy trình thanh tra                     4. Kiểm tra                  5. Hoàn thuế                   6. Phí                                     7. Lệ phí

Phạm Xuân Ẩn - Tên người như cuộc đời


 Phạm Xuân Ẩn - Tên người như cuộc đời / Nguyễn Thị Ngọc Hải. - Tp. Hồ Chí Minh : Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2023. - 320 tr. ; 20 cm.

Cuốn sách này của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hải là khởi đầu của việc giới thiệu nhà tình báo huyền thoại với công chúng. Còn đây là cảm nhận riêng của Giáo sư Larry Berman khi đến nhà mang tặng cuốn Điệp viên hoản hảo bằng tiếng Anh  chưa xuất bản ở Việt Nam với lời đề: "Cuốn sách của bà đã mở đường cho tất cả chúng tôi: Your biography of Pham Xuan An led the way for the rest of us..." 

1. Phạm Xuân Ẩn                    

Wednesday, May 1, 2024

ĐỂ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM THỰC SỰ LÀ LỰC LƯỢNG TIÊN PHONG TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

 PGS, TS. Phạm Công Nhất

TCCSĐT - Trong tiến trình lịch sử, giai cấp công nhân luôn là lực lượng tiên phong của Cách mạng Việt Nam. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân đang đứng trước những thách thức mới. Vì vậy, việc “Xây dựng giai cấp công nhân nước ta lớn mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” lại đang “là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Ðảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của mỗi người công nhân và của toàn xã hội”(1).

Sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam cơ bản gắn với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp những năm nửa cuối thế kỷ XIX. Đó thực chất cũng là khởi nguồn của quá trình công nghiệp hóa ở một quốc gia nông nghiệp. Trước khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng (ngày 01-9-1858), mở màn cho cuộc xâm lược, Việt Nam lúc đó vẫn là một nước phong kiến lạc hậu với nền kinh tế dựa vào sản xuất tiểu nông là chính, cơ sở kinh tế về công nghiệp, dịch vụ chưa hề thấy. Xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến với hai giai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân(2). Khi cuộc xâm lăng và bình định đã cơ bản hoàn thành vào cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt tay tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất với quy mô mở rộng ra cả nước. Các nhà máy xay xát, rượu bia, vải sợi, điện nước, đồn điền cao su, cà phê… lần lượt ra đời. Cùng với các cơ sở kinh tế công nghiệp được thành lập, đội ngũ những người công nhân Việt Nam đầu tiên đã ra đời. Họ là những nông dân Việt Nam bị tước đoạt hết ruộng đất, những người thợ thủ công nghiệp bị phá sản. Sự mở rộng quy mô khai thác thuộc địa và phát triển công nghiệp của thực dân Pháp đã làm cho đội ngũ những người công nhân Việt Nam ngày càng đông đảo và dần hình thành một giai cấp, mặc dù, thực chất chỉ mới là giai cấp “tự nó”.

Khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc (1918), thực dân Pháp tiến hành chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô và tốc độ lớn hơn trước nhiều lần hòng bù đắp phần nào thiệt hại do chiến tranh thế giới gây ra. Thời kỳ này, số lượng công nhân Việt Nam phát triển nhanh chóng. Theo niên giám thống kê của Pháp thì đến năm 1929 số lượng công nhân trên toàn Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam) là 220.000 người. Cùng với sự tăng lên về số lượng, chất lượng chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề của công nhân cũng được nâng lên.

Cho đến trước ngày 19-12-1946 toàn bộ số công nhân ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có khoảng 100.000 người, trong đó có 25.000 làm việc tại các xí nghiệp, nhà máy và cơ sở kinh doanh của tư bản Pháp và tư bản ngoại quốc. Công nhân ở Nam Bộ đông hơn nhưng đã bị phân tán và chuyển hóa khá phức tạp khi chiến tranh xảy ra. Kháng chiến càng diễn ra ác liệt tại Nam Bộ thì sự phân tán của đội ngũ công nhân ở đây diễn ra càng mạnh. Tháng 10-1950, chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi, 5 thị xã, 13 thị trấn cùng nhiều vùng đất dọc theo giải biên giới dài 750 km gồm 35 vạn dân được giải phóng, số lượng công nhân trong các vùng do ta kiểm soát tăng lên đến 346.000 người, trong đó, chủ yếu là thợ thủ công. Càng về những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, số lượng công nhân thủ, công nghiệp càng tăng. Tỷ trọng công nhân công nghiệp (công nghiệp quốc phòng và công nhân kinh tế quốc doanh) rất thấp, chỉ chiếm khoảng 10%.

Như vậy, xét về lịch sử hình thành, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời không phải là sản phẩm trực tiếp của nền sản xuất công nghiệp hiện đại Việt Nam mà ra đời từ chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Đại đa số công nhân Việt Nam đều xuất thân từ tầng lớp nông dân với trình độ lao động giản đơn. Vì thế, có thể nhận định khái quát là giai cấp công nhân Việt Nam ra đời muộn hơn so với giai cấp công nhân thế giới, số lượng ban đầu còn ít và trình độ tay nghề thấp.

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA TRONG CƯƠNG LĨNH 2011 VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN NAY

 ThS. Trương Văn Khanh

Bàn về chủ nghĩa tư bản (CNTB) ngày nay là một trong những nội dung được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đề cập tới. Với vai trò là nền tảng lý luận, tư tưởng và chính trị, Cương lĩnh định hướng cho việc xem xét, đánh giá về CNTB hiện đại, qua đó thấy được đằng sau sự phát triển của CNTB đương đại là những mặt trái và bản chất của phương thức sản xuất này.

Các nhà kinh điển C.Mác và Ph.Ăngghen khi phân tích về CNTB đã chỉ ra: từ khi mới ra đời, CNTB đã cho thấy tính ưu việt của nó. Đó là một bước tiến vĩ đại về phía trước trên con đường phát triển của xã hội loài người. Nó giải phóng lực lượng sản xuất khỏi “gông xiềng” trói buộc của quan hệ sản xuất cũ, tạo ra khả năng to lớn để phát triển nền sản xuất xã hội. Nó mở đường thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đưa con người tiến tới những thành tựu vĩ đại mà toàn bộ sự phát triển của lịch sử loài người hàng nghìn năm trước đó chưa bao giờ có. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN) đóng vai trò công cụ lịch sử làm cho tiến trình văn minh công nghiệp thay thế văn minh nông nghiệp, đã có tác dụng tiến bộ to lớn. Nhưng CNTB không phải là hình thái xã hội vĩnh hằng, khi nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội hóa sẽ bị hình thái xã hội thích ứng với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất mới thay thế. Sự phát triển của đại công nghiệp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất TBCN sẽ phát triển nhanh chóng, tuy nhiên không thể biết được lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ nào, với công nghệ gì thì sẽ chín muồi để xóa bỏ phương thức sản xuất TBCN. Tuy vậy, với bản chất của CNTB là bóc lột giá trị thặng dư, theo đuổi lợi nhuận cao là tác nhân kinh tế chủ yếu dẫn đến sự khẳng định và phủ định chính CNTB. Chủ nghĩa tư bản làm cho lực lượng sản xuất phát triển cao chưa từng thấy trong lịch sử, song quá trình đó không tránh khỏi những khuyết tật như khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát… Sự phát triển của các mâu thuẫn đối kháng trong xã hội là tất yếu và đây là tiền đề cho một cuộc cách mạng mới ra đời.

VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI HỌC VIÊN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ

Hoàng Việt Hưng

 “Thế giới quan là hệ thống quan niệm về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó”[1]. Như vậy, có thể hiểu thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một người hoặc một tập đoàn người, một giai cấp hay toàn xã hội về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó, về chính bản thân cuộc sống con người và loài người trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Trên cơ sở đó, thế giới quan định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo thế giới của họ, điều chỉnh hành vi của con người trong cuộc sống hàng ngày.

 Thế giới quan bao gồm những yếu tố cơ bản: tri thức, niềm tin và lý tưởng. Trong ba yếu tố cấu thành thế giới quan, tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, nhưng tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan khi đã trở thành niềm tin của con người qua sự thể nghiệm lâu dài trong cuộc sống của họ và sự hình thành lý tưởng là sự phát triển ở trình độ cao của thế giới quan. Trong lịch sử phát triển của xã hội, thế giới quan được thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng khác nhau, nhưng tập trung ở ba hình thức chủ yếu: thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học.

 Thế giới quan duy vật biện chứng là đỉnh cao của thế giới quan triết học và cũng là đỉnh cao của thế giới quan đã có trong lịch sử. Có thể khẳng định rằng, thế giới quan duy vật biện chứng là hệ thống những quan niệm khoa học chung nhất về tự nhiên, xã hội và con người.

 Thế giới quan duy vật biện chứng gồm ba yếu tố cơ bản quan hệ hữu cơ với nhau: đó là tri thức khoa học, niềm tin khoa học và lý tưởng cách mạng.
          Tri thức trong thế giới quan duy vật biện chứng bao gồm chủ nghĩa duy vật, phép biện chứng, các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Những tri thức đó góp phần định hướng cho con người trong hoạt động cải tạo hiện thực. Trong đó, những tri thức của Triết học Mác - Lênin đóng vai trò nền tảng, là hạt nhân lý luận của thế giới quan duy vật biện chứng.

Niềm tin khoa học có cơ sở từ những tri thức khoa học và gắn kết giữa tri thức khoa học với hoạt động thực tiễn. Niềm tin khoa học giúp con người tin tưởng vào những hành động hướng tới chân lý, xác định những mục tiêu cao cả để vươn tới.

Lý tưởng cách mạng trong thế giới quan duy vật biện chứng là sự kết hợp giữa tri thức khoa học và niềm tin khoa học. Đó là lý tưởng cao đẹp. Nó vừa là mục tiêu cao cả mà con người hướng tới, vừa là động lực thôi thúc con người hành động, thiếu lý tưởng con người cảm thấy mất phương hướng, mất niềm tin và cảm thấy cuộc đời tẻ nhạt. Chính lý tưởng khơi dậy sự nỗ lực nhận thức, sự nồng nhiệt của tình cảm, sự mãnh liệt của ý chí và quyết tâm trong hành động giúp con người vươn tới mục tiêu cao cả không quản gian khổ, hy sinh. Lý tưởng cách mạng là sự thống nhất giữa tri thức, tình cảm, ý chí sẵn sàng hoạt động, trong đó yếu tố tri thức khoa học đóng vai trò quan trọng nhất bởi lý tưởng chỉ thật sự có tính hiện thực khi nó được xây dựng trên cơ sở niềm tin vững chắc vào chân lý mà tri thức khoa học đem lại. Sống có lý tưởng, có hoài bão ước mơ, con người sẽ nhân đôi ý nghĩa cuộc sống của chính mình, giúp con người vươn lên làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân.

Tóm lại, thế giới quan duy vật biện chứng có ý nghĩa không chỉ thiên về mặt lý luận nhận thức mà còn có một ý nghĩa lớn lao về mặt thực tiễn. Sự thống nhất biện chứng của những yếu tố tri thức, niềm tin, lý tưởng, giúp cho con người nhận thức và cải tạo thế giới ngày càng hiệu quả hơn theo sự vận động của quy luật khách quan.

Động thái của nhà nước dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa


Nguồn lực tôn giáo trong quá trình phát triển đất nước

 



Khoảng trống giữa chính sách và thực thi chính sách bình đẳng giới (Nghiên cứu trường hợp phụ nữ tham gia quản lý công)

 


Một số đặc điểm sự biến đổi gia đình Việt Nam trong mấy thập niên qua

 


VĂN HÓA - NGUỒN LỰC NỘI SINH ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NƯỚC

 Nguyễn Huy Phòng

TCCSĐT - Cùng với các nguồn lực kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, quốc phòng an ninh,… văn hóa với hạt nhân cơ bản là phẩm chất, trí tuệ và những giá trị sáng tạo của con người cũng là một nguồn lực nội sinh quan trọng, quyết định đến sự phát triển bền vững của đất nước. Việc nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của văn hóa cũng như có những cơ chế, chính sách hợp lý để phát triển nguồn lực này là những yêu cầu, điều kiện cần thiết để văn hóa phát huy được sức mạnh to lớn của mình, nhất là trong bối cảnh hiện nay.

Về tầm quan trọng của văn hóa

Năm 1961, trong bài trả lời phỏng vấn báo Nhân đạo thường trú tại Hà Nội, trước câu hỏi của phóng viên về nguyên nhân làm nên sức mạnh kỳ diệu của nhân dân trong chín năm kháng chiến chống Pháp để bảo vệ chính quyền non trẻ cũng như khí thế mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước sau khi hòa bình lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhân dân nước chúng tôi có ý chí phi thường là do lòng tự trọng muốn sống làm người chứ không chịu làm nô lệ. Điều này cũng đúng với những nhà tri thức nước chúng tôi thiết tha với nền văn hóa dân tộc,… Có lẽ phải để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa,… Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân chúng tôi tiến bộ”(1). Những khẳng định đó của Người đã nói lên vai trò quan trọng của văn hóa trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như trong công cuộc hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Monday, April 1, 2024

Hoàn thiện tổ chức, hoạt động của Chính Phủ đáp ứng yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả


 Hoàn thiện tổ chức, hoạt động của Chính Phủ đáp ứng yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả / Lê Anh Tuấn (ch.b), Vũ Công Giao, Nguyễn Hoàng Anh,…. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 251 tr. ; 24 cm.

Cuốn sách gồm ba chương:

- Chương I: Trình bày cơ sở lý luận về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Chính phủ đáp ứng, gồm những yêu cầu và các yếu tố chi phối về đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và giá trị tham khảo cho Việt Nam;

- Chương II: Phân tích thực trạng quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ so với yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả;

- Chương III: Đưa ra quan điểm và giải pháp hoàn thiện tổ chức, hoạt động của Chính phủ đáp ứng yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại. 

1. Hoàn thiện                     2. Tổ chức                           3. Hoạt động                           4. Chính Phủ đáp                           5. Đổi mới                 6. Quản trị quốc gia                             7. Hiện đại                          8. Hiệu quả

Phúc lợi xã hội góp phần bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong điều kiện mới


 Phúc lợi xã hội góp phần bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong điều kiện mới / Đoàn Minh Huấn (ch.b), Nguyễn Quốc Sửu, Phạm Thị Thanh Bình,…. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 363 tr. ; 21 cm.

Cuốn sách góp phần làm rõ các đặc trưng, nội dung, cấu trúc, chức năng phúc lợi xã hội trong điều kiện phát triển mới của đất nước, góp phần bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa suốt thời kỳ quá độ. 

1. Phúc lợi xã hội                      2. Bảo đảm                        3. Xã hội chủ nghĩa                     4. Việt Nam                           5. Điều kiện mới

Phát huy giá trị biển, đảo Việt Nam hướng tới nền kinh tế biển xanh và bền vững


 Phát huy giá trị biển, đảo Việt Nam hướng tới nền kinh tế biển xanh và bền vững / Nguyễn Chu Hồi. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 407 tr. ; 24 cm.

Cuốn sách tập hợp các bài viết và trả lời phỏng vấn báo chí của tác giả về phát triển kinh tế biển xanh hiệu quả và phát triển bền vững ở nước ta để Việt Nam thực sự là quốc gia "mạnh về biển và giàu từ biển". Cuốn sách cung cấp các nội dung cơ bản, khá đầy đủ về thực trạng biển, đảo Việt Nam; khuyến nghị nhiều giải pháp trong việc thực hiện Chiến lược biển Việt Nam, nhấn mạnh đến phát triển bền vững kinh tế biển. Theo đó, tác giả tập trung vào "trục chính" là phát triển bền vững kinh tế biển để điều chỉnh các mối quan hệ với quốc phòng, an ninh biển, đảo; với vấn đề tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo; với việc giải quyết các vấn đề xã hội biển, đảo; phát huy các giá trị văn hóa biển; với việc điều chỉnh các mảng không gian kinh tế biển - ven biển - đảo với không gian kinh tế nội địa; thậm chí với không gian kinh tế đại dương trong tương lai. 

1. Phát huy              2.  Giá trị                     3. Biển                   4. Đảo                       5. Việt Nam                     6. Nền kinh tế biển xanh                    7. Bền vững

Phát triển kinh tế số ở Việt Nam

 

Phát triển kinh tế số ở Việt Nam / Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Mạnh Hùng (ch.b), Lê Minh Nghĩa,…. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 319 tr. ; 24 cm.

Nội dung cuốn sách gồm 3 chương: 

- Chương I: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển kinh tế số.

- Chương II: Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với phát triển kinh tế số của Việt Nam giai đoạn 2016-2020.

- Chương III: Quan điểm, giải pháp phát triển kinh tế số ở Việt Nam đến năm 2025. 

1. Phát triển                   2. Kinh tế số                    3. Việt Nam

Sổ tay bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng


 Sổ tay bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng / Lê Văn Lợi (ch.b), Hoàng Phúc Lâm, Dương Trung Ý,.... - H. : Lý luận chính trị, 2023. - 256 tr. ; 21 cm.

Nội dung cuốn Sổ tay tập trung vào những vấn đề chung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng; đồng thời cung cấp những luận cứ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng qua một số lĩnh vực chủ yếu và cung cấp các kỹ năng cơ bản về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

1. Sổ tay                      2. Bảo vệ                  3. Nền tảng tư tưởng             4. Đảng Cộng sản Việt Nam               5. Không gian mạng

Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam


Vai trò của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định của các bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay

 


Điều hành chính sách tiền tệ góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội


Đánh giá tác động pháp luật trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

 


Quá trình phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền lực và kiểm soát quyền lực trong thời kỳ đổi mới

 


ĐẶC ĐIỂM CỦA CỤC DIỆN THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆT NAM


ThS. Lương Thị Bằng

Thế giới trong thế kỷ XXI tiếp tục chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp khó lường. Toàn cầu hoá tiếp tục phát triển sâu rộng, đã và đang tác động tới tất cả các nước trên thế giới. Các quốc gia lớn nhỏ đang tham gia ngày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản ánh những đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố vẫn xẩy ra ở nhiều nơi với tính chất và hình thức ngày càng đa dạng và phức tạp. Có thể khái quát một số đặc điểm chính của cục diện thế giới như sau:

Thứ nhất, cục diện thế giới diễn biến phức tạp. Sự sụp đổ chế độ xã hội   chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đầu thập niên 90 của thế kỉ XX làm cho cục diện thế giới và quan hệ quốc tế thay đổi một cách cơ bản. Chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào thoái trào, phong trào cộng sản và và công nhân quốc tế bị khủng hoảng sâu sắc, toàn diện. Cơ cấu địa chính trị và sự phân bố quyền lực  toàn cầu bị đảo lộn, cán cân so sánh lực lượng trên thế giới nghiêng về phía    lợi cho chủ nghĩa tư sản. Sau gần nửa thế kỉ tồn tại kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trật tự thế giới hai cực chấm dứt. Quá trình hình thành trật tự thế giới mới chứa đựng nhiều yếu tố bất trắc, khó đoán định, trong đó nổi lên hai khuynh hướng đối nghịch nhau: Mỹ tham vọng lập lại trật tự thế giới đơn cực, trong khi Nga, Trung Quốc và một số nước lớn khác đấu tranh cho trật tự thế giới đa cực. Phương thức tập hợp lực lượng trong quan hệ hợp tác đấu tranh, hợp tác cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất  là giữa các nước  lớn ngày càng tăng.

Thứ hai, cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất thế giới, làm quốc tế hóa sâu sắc quá trình mở rộng sản xuất, phân phối trên phạm vi toàn cầu, tạo nên sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Cách mạng khoa học công nghệ đang biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp, làm gia tăng các phát minh, sáng chế và tốc độ ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất và sinh hoạt của con người. Đây là những tiền đề phát triển hoàn toàn mới, phi truyền thống, làm thay đổi tư duy và phương thức quan hệ giữa các nước, đặc biệt là các trung tâm quyền lực đã và sẽ thay đổi đáng kể. Cách mạng khoa học công nghệ còn làm thay đổi tư duy của các nước về thế giới quan và chiến lược đối ngoại, thay đổi phương thức quan hệ giữa các quốc gia.

Tư tưởng về quyền con người trong Phật giáo


Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 - Bước phát triển cao của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước


Tuesday, March 5, 2024

Tín ngưỡng lễ hội cổ truyền ở Việt Nam


 Tín ngưỡng lễ hội cổ truyền ở Việt Nam / Ngô Đức Thịnh (ch.b). - H. : Tri thức, 2023. - 414 tr. ; 24 cm.

Cuốn sách bao gồm nhiều bài nghiên cứu, nội dung tập trung vào một số cụm vấn đề sau:

- Phần thứ nhất, gồm 10 bài, nêu khái quát về tín ngưỡng dân gian các dân tộc ở Việt Nam, và đi sâu nghiên cứu một số tín ngưỡng riêng lẻ. Đặc biệt, thông qua các bài nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Tản Viên, Chử Đạo Tổ, Bà Chúa Kho, thờ Tà thần..., tác giả thử áp dụng phương pháp bóc tách các lớp văn hóa và biểu tượng tiềm ẩn trong mỗi hình thức thờ cúng.

- Phần thứ hai, gồm 8 bài, đề cập tới các vấn đề tín ngưỡng Thờ Mẫu và nghi lễ Shaman (Lên đồng) của người Việt, Chăm và Tày, Nùng.

- Phần thứ ba, gồm 10 bài, đề cập chủ yếu tới vấn đề Lễ hội và văn hóa tín ngưỡng. Ngoài ra còn có một số bài tổng thuật về tình hình nghiên cứu tín ngưỡng, lễ hội ở Việt Nam và nước ngoài. 

1. Tín ngưỡng                   2. Lễ hội cổ truyền                          3. Việt Nam

Bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam


 Bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam / Ngô Đức Thịnh (ch.b). - H. : Tri thức, 2023. - 288 tr. ; 24 cm.

Phác thảo phân vùng văn hoá ở Việt Nam gồm: Vùng văn hoá đồng bằng Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung và Nam Trung Bộ, Trường Sơn - Tây Nguyên, Nam Bộ. Phân tích đa dạng bản sắc văn hoá vùng và tổng thể sự phát triển văn hoá các dân tộc ở Việt Nam

 1. Bản sắc                      2. Văn hóa vùng                         3. Việt Nam

Nam Phương Hoàng Hậu - Vị quốc mẫu tân thời qua tư liệu báo chí (1934 - 1945)

 

Nam Phương Hoàng Hậu - Vị quốc mẫu tân thời qua tư liệu báo chí (1934 - 1945) / Tử Yếng Lương Hoài Trọng Tính. - Tp. Hồ Chí Minh : Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2023. - 191 tr. ; 21 cm.

Trong khuôn khổ của cuốn sách này, tác giả muốn gửi đến bạn đọc hình tượng một vị Hoàng hậu cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn đã thoát ly khỏi những bó buộc ngặt nghèo của truyền thống đối với người phụ nữ Việt Nam thông qua tài liệu báo chí trong giai đoạn 1934 - 1945, cũng tức là trong khoảng thời gian bà tại vị Hoàng hậu. Từ đó, góp phần giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về Hoàng hậu - Hoàng đế, Hoàng thất, cũng như những công việc mà Hoàng Hậu Nam Phương đã làm có ảnh hưởng đến công cuộc trị vì và giúp đỡ cho thần dân của mình lúc bấy giờ. 

1. Nam Phương Hoàng Hậu

Bạn đã có sẵn mọi tố chất cần thiết để khởi nghiệp thành công


 Bạn đã có sẵn mọi tố chất cần thiết để khởi nghiệp thành công / Ash Ali, Hasan Kubba; Thúy Thúy dịch. - Tp. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2023. - 284 tr. ; 21 cm.

Sau khi đi đọc cuốn sách này, bạn sẽ có hành trang là:

- Hiểu biết chắc chắn về Lợi thế Bất công đối với một cá nhân và một startup.

- Hiểu cách xác định và vận dụng Lợi thế Bất công của chính bạn để thành công trong kinh doanh.

- Hướng dẫn Khởi động Nhanh một startup - để giúp bạn bắt đầu với một nền tảng thực sự vững chắc trên hành trình điên rồ này. 

1. Khởi nghiệp                          2. Thành công

Monday, March 4, 2024

Hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong thời kỳ đổi mới


Kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)


GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LỢI ÍCH DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ THỰC TIỄN ĐỔI MỚI HIỆN NAY

Nguyễn Văn Nguyên

  TCCS - Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nghiên cứu giải quyết lợi ích giữa dân tộc và quốc tế trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích dân tộc. Đây là quan điểm nhất quán của Người và được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong mọi quyết sách phát triển đất nước.

Ngay từ khi tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, rồi hoạt động ở Quốc tế Cộng sản, Người luôn tuân thủ sự chỉ đạo và phân công của Quốc tế Cộng sản, nhưng cũng sáng tạo dựa trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam và Đông Dương. Hồ Chí Minh coi cách mạng Việt Nam nằm trong phạm trù cách mạng vô sản thế giới, nhưng trong điều kiện là một nước thuộc địa (mất quyền dân tộc), Người luôn khẳng định, cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc. Vì vậy, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930), với mục tiêu giải phóng dân tộc, Người đặt vấn đề dân tộc lên trên vấn đề giai cấp. Người kiên trì quan điểm của mình cho đến khi đường lối cách mạng giải phóng dân tộc chính thức trở thành đường lối của cách mạng Việt Nam.

Năm 1941, sau khi về nước nắm vai trò lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và chuẩn bị lực lượng giành chính quyền, vấn đề lợi ích dân tộc càng được đề cao trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”(1), quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Tư tưởng phục vụ quyền lợi dân tộc của Người ngày càng được quán triệt và thấm nhuần trong những người cộng sản Việt Nam và đấy chính là động lực vô cùng quan trọng để Đảng và nhân dân ta vượt qua những khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công để nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Từ khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh cho rằng, sự viện trợ, giúp đỡ của bầu bạn quốc tế là rất quan trọng nhưng không thể trông chờ vào đó mà cần tự lực cánh sinh, tự lực tự cường: “...muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(2). Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thách thức lớn đối với vận mệnh dân tộc. Vì vậy, việc tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa là rất cần thiết nhằm góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Bằng những hoạt động tích cực, Hồ Chí Minh góp phần củng cố tình đoàn kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lợi ích dân tộc còn được coi là tiêu chí để phân biệt bạn - thù, là cơ sở để phân hóa kẻ thù và tập hợp lực lượng. Người cho rằng: “Đối với người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta tức là kẻ thù. Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù”(3).

Từ cuối thập niên 50 của thế kỷ XX, đứng vững trên lập trường nguyên tắc, chú trọng vận động, thuyết phục, kiên trì chờ đợi, đấu tranh có lý có tình, cùng với nghệ thuật ứng xử khôn khéo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp quan trọng vào việc giữ được quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam với hai nước lớn xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc. Trong xử lý mối quan hệ quốc tế, Hồ Chí Minh cho rằng, phải bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài của dân tộc, phải tăng cường tình đoàn kết quốc tế, tránh gây mất đoàn kết. Người nói: “Vì đoàn kết mà phải tranh đấu... phải làm sao trong Đảng và trong nhân dân giữ được lòng yêu mến và biết ơn các nước bạn anh em”(4). Luôn đặt lợi ích của Việt Nam lên trên hết, nhưng Hồ Chí Minh kiên quyết chống tư tưởng dân tộc vị kỷ, dân tộc hẹp hòi. Thậm chí đối với nước thù địch, Nguời cũng tính tới lợi ích của họ, ứng xử độ lượng. Tháng 7-1946, trong thư gửi Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại, Người khẳng định, nếu nước Pháp không thừa nhận độc lập của Việt Nam, đó sẽ là một thiệt thòi cho nước Pháp và cho cả nước Việt Nam nữa. Song đối với nước Pháp sự thiệt thòi sẽ là vĩnh viễn.

170 NĂM TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN – NGHĨ VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

 Nguyễn Thị Thanh Huyền,

 Hoàng Trung Thành


TCCSĐT - Tuyên ngôn của Đảng cộng sản do C.Mác và Ph.Ăng-ghen soạn thảo, một văn kiện mang tính Cương lĩnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trên thế giới được đánh giá là giữ địa vị đặc biệt quan trọng trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, và là cột mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của phong trào công nhân quốc tế từ tự phát sang tự giác.

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Tư tưởng xuyên suốt Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức bóc lột, khỏi mọi sự tha hóa. Nhiệm vụ lịch sử ấy đặt lên vai giai cấp công nhân. Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga là thắng lợi tư tưởng của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản được hiện thực hóa từng bước trên lãnh thổ rộng 1/6 trái đất, nối với thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô rồi sau đó là thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cách mạng Trung Quốc, Cu-ba…

Về nội dung sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử cao cả, là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn sự phân chia giai cấp. Vì thế, sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân không phải là duy trì giai cấp công nhân mà là giải phóng triệt để con người. Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C.Mác-Ph.Ăng-ghen đã khẳng định: “Toàn bộ lý luận của chủ nghĩa cộng sản là thủ tiêu chế độ tư hữu”. Một khi chế độ tư hữu không còn thì nguyên nhân phân chia xã hội thành giai cấp, nhà nước cũng bị xóa bỏ. Do đó với tư cách là một giai cấp, giai cấp công nhân cũng sẽ không còn lý do tồn tại. Con đường đi tới xã hội không giai cấp là con đường quanh co và nhiều phức tạp. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân lao động, tiếp thu lý luận khoa học cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để thành lập nên chính đảng tiên phong của mình và sẵn sàng đấu tranh khi có thời cơ cách mạng. 

170 năm qua, lịch sử thế giới đã có nhiều đổi thay, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã trải qua những thăng trầm, biến đổi. Trên con đường ấy, có những thời điểm con đường cách mạng của giai cấp vô sản gặp nhiều khó khăn với sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu - một tổn thất to lớn đối với phong trào cộng sản và xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Song đó là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực được xây dựng ở Nga và sau đó là ở Liên bang Xô viết, chứ không phải là sự sụp đổ của học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. Những tư tưởng về giai cấp công nhân được phản ánh trong tuyên ngôn không những không bị lỗi thời mà vẫn có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn lớn lao đối với giai cấp công nhân nước ta cũng như giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, thế giới vừa hợp tác, vừa đấu tranh nên việc nhận thức một cách rõ ràng, không mơ hồ, không ảo tưởng về chủ nghĩa tư bản hiện đại, về bản chất giai cấp của Nhà nước tư sản giúp chúng ta có một cách nhìn đúng đắn. Tuyên ngôn đã khẳng định sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đem lại những thành tựu rất lớn cho xã hội loài người. Tuy nhiên, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng được xã hội hoá cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ngày càng gay gắt. Mâu thuẫn đó tất yếu dẫn đến cách mạng vô sản. 

Hiện nay, những thành tựu khoa học - công nghệ phát triển, đặc biệt là từ nửa sau thế kỷ XX, giai cấp công nhân đã có những biến đổi nhất định về phương thức lao động và phương diện đời sống (tình trạng sở hữu, điều kiện lao động, mức thu nhập, trình độ học vấn, trình độ tay nghề,...). Một bộ phận giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa đã có một số tư liệu sản xuất, đã góp cổ phần tại các xí nghiệp tư bản. Nhưng, thực tế số tư liệu sản xuất và lượng cổ phần của giai cấp công nhân chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số tài sản “khổng lồ” của các nhà tư bản. Là một cổ đông nhỏ, giai cấp công nhân không thể cùng với nhà tư bản phân chia quyền lực. Do đó, xét về bản chất vẫn phải làm thuê cho nhà tư bản. Giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành giai cấp cầm quyền và là chủ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, thì khái niệm giai cấp vô sản theo đúng nghĩa của từ đó cũng hoàn toàn không còn nữa. Tuy nhiên, giai cấp công nhân ở các nước này vẫn là một bộ phận của giai cấp vô sản (giai cấp công nhân) toàn thế giới.

Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, giai cấp công nhân có xu hướng “trí thức hóa” ngày càng tăng. Điều đó không làm thay đổi bản chất và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân vẫn là giai cấp có sứ mệnh xóa bỏ tình cảnh vô sản, trở thành giai cấp có địa vị làm chủ để tiến tới “tự thủ tiêu” chính mình với tư cách là một giai cấp.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới chính là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Lớp công nhân Việt Nam đầu tiên xuất hiện gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (năm 1897) và thực sự trở thành giai cấp công nhân Việt Nam từ công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp lần thứ hai (1924-1929). Cùng với quá trình phát triển của cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành bộ phận của đội ngũ giai cấp công nhân quốc tế. Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam còn có đặc điểm riêng. Đó là:

Phát triển tư bản tài chính và con đường đi đến khủng hoảng


TRIẾT HỌC MÁC XÍT – HÌNH THỨC TƯ DUY LÝ LUẬN ĐÚNG ĐẮN ĐỂ TIẾP CẬN TÍNH TOÀN VẸN VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI CON NGƯỜI

Đỗ Huy(*)

Con người và thế giới của con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, như tâm lý học, xã hội học, lịch sử, văn hoá học... Song, theo chúng tôi, chỉ có triết học và triết học mácxít chứ không phải triết học Cantơ, Hêgen, Phoiơbắc hay những trào lưu triết học sau này như chủ nghĩa Tômát mới, chủ nghĩa hiện sinh mới có cách giải quyết đúng đắn vấn đề này. Làm được điều này, các nhà triết học mácxít đã dựa trên quan điểm thực tiễn vật chất – tinh thần, trong đó, tâm điểm của nó là lao động của con người.

Con người cùng với thế giới người mà nó tạo ra là cả một thiên hà các vấn đề. Vấn đề con người từ đâu tới, các quan hệ của nó, sự tồn tại thế giới bên trong, thế giới bên ngoài trong thực tiễn lịch sử - xã hội của con người; cá thể và cá tính của con người, các hoạt động và khả năng sáng tạo của con người; con người đi đâu và về đâu; các tổ chức xã hội của con người, các kiểu con người trong tiến trình lịch sử v.v. và v.v. đã từng là cội nguồn tạo ra những khoa học nghiên cứu con người và thế giới của con người.

Các khoa học vật lý học, sinh học, y học, ưu sinh học... đã từng đạt được những thành tựu to lớn trong quá trình lý giải bản chất tự nhiên của con người. Các thành tựu của ưu sinh học người đã khám phá ra bộ gien người và đặc biệt, đã tạo ra con người bằng sinh sản vô tính. Sau khi tạo ra được con người từ trong các ống nghiệm, các cá thể người ấy sống như thế nào. Nó có gia đình không? Nó có chuẩn mực đạo đức xã hội không? Nó có mỹ cảm bình thường không?... rõ ràng chưa có khoa học nào nghiên cứu các con người ấy sẽ tồn tại như thế nào và nó đi đâu, về đâu, ảnh hưởng của nó đến toàn bộ đạo đức xã hội ra sao?

Con người đã tạo ra các khoa học tự nhiên để nghiên cứu mình. Ngoài khoa học tự nhiên, con người còn tạo ra các khoa học xã hội và khoa học nhân văn để lý giải bản chất xã hội, những tầng, những lớp, tâm linh, ứng xử, giao tiếp và các khả năng tiềm ẩn của mình. Trong số các khoa học xã hội và khoa học nhân văn nghiên cứu các hoạt động người, trước hết phải kể đến Khoa xã hội học. Khoa xã hội học đã đạt được rất nhiều thành tựu khi giải quyết và lý giải các vấn đề xã hội của con người. Mặc dù ngành khoa học này đã nghiên cứu các hình thái ý thức và tồn tại xã hội, các tổ chức và cơ cấu xã hội của con người, song nó lại không có khả năng xây dựng một hệ thống lý luận về mặt tự nhiên trong bản chất của con người. Dù là xã hội học cổ điển hay xã hội học hiện đại, xã hội học mácxít hay ngoài mácxít, mặt tự nhiên của con người đều nằm ngoài hệ thống lý luận của nó. Bản chất toàn vẹn của con người là sự thống nhất giữa cái tự nhiên và cái xã hội. Nếu xã hội học không bao chứa được mặt tự nhiên trong con người thì nó không thể chứa đựng được việc nghiên cứu các hình thức vận động tự nhiên của bản thân con người và các sáng tạo về mặt tự nhiên của con người.

Điều luật nhân quyền Magnitsky vi phạm nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết

 


Một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam