Tuesday, March 5, 2024

Tín ngưỡng lễ hội cổ truyền ở Việt Nam


 Tín ngưỡng lễ hội cổ truyền ở Việt Nam / Ngô Đức Thịnh (ch.b). - H. : Tri thức, 2023. - 414 tr. ; 24 cm.

Cuốn sách bao gồm nhiều bài nghiên cứu, nội dung tập trung vào một số cụm vấn đề sau:

- Phần thứ nhất, gồm 10 bài, nêu khái quát về tín ngưỡng dân gian các dân tộc ở Việt Nam, và đi sâu nghiên cứu một số tín ngưỡng riêng lẻ. Đặc biệt, thông qua các bài nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Tản Viên, Chử Đạo Tổ, Bà Chúa Kho, thờ Tà thần..., tác giả thử áp dụng phương pháp bóc tách các lớp văn hóa và biểu tượng tiềm ẩn trong mỗi hình thức thờ cúng.

- Phần thứ hai, gồm 8 bài, đề cập tới các vấn đề tín ngưỡng Thờ Mẫu và nghi lễ Shaman (Lên đồng) của người Việt, Chăm và Tày, Nùng.

- Phần thứ ba, gồm 10 bài, đề cập chủ yếu tới vấn đề Lễ hội và văn hóa tín ngưỡng. Ngoài ra còn có một số bài tổng thuật về tình hình nghiên cứu tín ngưỡng, lễ hội ở Việt Nam và nước ngoài. 

1. Tín ngưỡng                   2. Lễ hội cổ truyền                          3. Việt Nam

Bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam


 Bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam / Ngô Đức Thịnh (ch.b). - H. : Tri thức, 2023. - 288 tr. ; 24 cm.

Phác thảo phân vùng văn hoá ở Việt Nam gồm: Vùng văn hoá đồng bằng Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung và Nam Trung Bộ, Trường Sơn - Tây Nguyên, Nam Bộ. Phân tích đa dạng bản sắc văn hoá vùng và tổng thể sự phát triển văn hoá các dân tộc ở Việt Nam

 1. Bản sắc                      2. Văn hóa vùng                         3. Việt Nam

Nam Phương Hoàng Hậu - Vị quốc mẫu tân thời qua tư liệu báo chí (1934 - 1945)

 

Nam Phương Hoàng Hậu - Vị quốc mẫu tân thời qua tư liệu báo chí (1934 - 1945) / Tử Yếng Lương Hoài Trọng Tính. - Tp. Hồ Chí Minh : Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2023. - 191 tr. ; 21 cm.

Trong khuôn khổ của cuốn sách này, tác giả muốn gửi đến bạn đọc hình tượng một vị Hoàng hậu cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn đã thoát ly khỏi những bó buộc ngặt nghèo của truyền thống đối với người phụ nữ Việt Nam thông qua tài liệu báo chí trong giai đoạn 1934 - 1945, cũng tức là trong khoảng thời gian bà tại vị Hoàng hậu. Từ đó, góp phần giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về Hoàng hậu - Hoàng đế, Hoàng thất, cũng như những công việc mà Hoàng Hậu Nam Phương đã làm có ảnh hưởng đến công cuộc trị vì và giúp đỡ cho thần dân của mình lúc bấy giờ. 

1. Nam Phương Hoàng Hậu

Bạn đã có sẵn mọi tố chất cần thiết để khởi nghiệp thành công


 Bạn đã có sẵn mọi tố chất cần thiết để khởi nghiệp thành công / Ash Ali, Hasan Kubba; Thúy Thúy dịch. - Tp. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2023. - 284 tr. ; 21 cm.

Sau khi đi đọc cuốn sách này, bạn sẽ có hành trang là:

- Hiểu biết chắc chắn về Lợi thế Bất công đối với một cá nhân và một startup.

- Hiểu cách xác định và vận dụng Lợi thế Bất công của chính bạn để thành công trong kinh doanh.

- Hướng dẫn Khởi động Nhanh một startup - để giúp bạn bắt đầu với một nền tảng thực sự vững chắc trên hành trình điên rồ này. 

1. Khởi nghiệp                          2. Thành công

Monday, March 4, 2024

Hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong thời kỳ đổi mới


Kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)


GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LỢI ÍCH DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ THỰC TIỄN ĐỔI MỚI HIỆN NAY

Nguyễn Văn Nguyên

  TCCS - Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nghiên cứu giải quyết lợi ích giữa dân tộc và quốc tế trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích dân tộc. Đây là quan điểm nhất quán của Người và được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong mọi quyết sách phát triển đất nước.

Ngay từ khi tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, rồi hoạt động ở Quốc tế Cộng sản, Người luôn tuân thủ sự chỉ đạo và phân công của Quốc tế Cộng sản, nhưng cũng sáng tạo dựa trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam và Đông Dương. Hồ Chí Minh coi cách mạng Việt Nam nằm trong phạm trù cách mạng vô sản thế giới, nhưng trong điều kiện là một nước thuộc địa (mất quyền dân tộc), Người luôn khẳng định, cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc. Vì vậy, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930), với mục tiêu giải phóng dân tộc, Người đặt vấn đề dân tộc lên trên vấn đề giai cấp. Người kiên trì quan điểm của mình cho đến khi đường lối cách mạng giải phóng dân tộc chính thức trở thành đường lối của cách mạng Việt Nam.

Năm 1941, sau khi về nước nắm vai trò lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và chuẩn bị lực lượng giành chính quyền, vấn đề lợi ích dân tộc càng được đề cao trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”(1), quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Tư tưởng phục vụ quyền lợi dân tộc của Người ngày càng được quán triệt và thấm nhuần trong những người cộng sản Việt Nam và đấy chính là động lực vô cùng quan trọng để Đảng và nhân dân ta vượt qua những khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công để nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Từ khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh cho rằng, sự viện trợ, giúp đỡ của bầu bạn quốc tế là rất quan trọng nhưng không thể trông chờ vào đó mà cần tự lực cánh sinh, tự lực tự cường: “...muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(2). Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thách thức lớn đối với vận mệnh dân tộc. Vì vậy, việc tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa là rất cần thiết nhằm góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Bằng những hoạt động tích cực, Hồ Chí Minh góp phần củng cố tình đoàn kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lợi ích dân tộc còn được coi là tiêu chí để phân biệt bạn - thù, là cơ sở để phân hóa kẻ thù và tập hợp lực lượng. Người cho rằng: “Đối với người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta tức là kẻ thù. Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù”(3).

Từ cuối thập niên 50 của thế kỷ XX, đứng vững trên lập trường nguyên tắc, chú trọng vận động, thuyết phục, kiên trì chờ đợi, đấu tranh có lý có tình, cùng với nghệ thuật ứng xử khôn khéo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp quan trọng vào việc giữ được quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam với hai nước lớn xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc. Trong xử lý mối quan hệ quốc tế, Hồ Chí Minh cho rằng, phải bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài của dân tộc, phải tăng cường tình đoàn kết quốc tế, tránh gây mất đoàn kết. Người nói: “Vì đoàn kết mà phải tranh đấu... phải làm sao trong Đảng và trong nhân dân giữ được lòng yêu mến và biết ơn các nước bạn anh em”(4). Luôn đặt lợi ích của Việt Nam lên trên hết, nhưng Hồ Chí Minh kiên quyết chống tư tưởng dân tộc vị kỷ, dân tộc hẹp hòi. Thậm chí đối với nước thù địch, Nguời cũng tính tới lợi ích của họ, ứng xử độ lượng. Tháng 7-1946, trong thư gửi Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại, Người khẳng định, nếu nước Pháp không thừa nhận độc lập của Việt Nam, đó sẽ là một thiệt thòi cho nước Pháp và cho cả nước Việt Nam nữa. Song đối với nước Pháp sự thiệt thòi sẽ là vĩnh viễn.

170 NĂM TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN – NGHĨ VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

 Nguyễn Thị Thanh Huyền,

 Hoàng Trung Thành


TCCSĐT - Tuyên ngôn của Đảng cộng sản do C.Mác và Ph.Ăng-ghen soạn thảo, một văn kiện mang tính Cương lĩnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trên thế giới được đánh giá là giữ địa vị đặc biệt quan trọng trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, và là cột mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của phong trào công nhân quốc tế từ tự phát sang tự giác.

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Tư tưởng xuyên suốt Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức bóc lột, khỏi mọi sự tha hóa. Nhiệm vụ lịch sử ấy đặt lên vai giai cấp công nhân. Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga là thắng lợi tư tưởng của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản được hiện thực hóa từng bước trên lãnh thổ rộng 1/6 trái đất, nối với thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô rồi sau đó là thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cách mạng Trung Quốc, Cu-ba…

Về nội dung sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử cao cả, là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn sự phân chia giai cấp. Vì thế, sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân không phải là duy trì giai cấp công nhân mà là giải phóng triệt để con người. Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C.Mác-Ph.Ăng-ghen đã khẳng định: “Toàn bộ lý luận của chủ nghĩa cộng sản là thủ tiêu chế độ tư hữu”. Một khi chế độ tư hữu không còn thì nguyên nhân phân chia xã hội thành giai cấp, nhà nước cũng bị xóa bỏ. Do đó với tư cách là một giai cấp, giai cấp công nhân cũng sẽ không còn lý do tồn tại. Con đường đi tới xã hội không giai cấp là con đường quanh co và nhiều phức tạp. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân lao động, tiếp thu lý luận khoa học cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để thành lập nên chính đảng tiên phong của mình và sẵn sàng đấu tranh khi có thời cơ cách mạng. 

170 năm qua, lịch sử thế giới đã có nhiều đổi thay, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã trải qua những thăng trầm, biến đổi. Trên con đường ấy, có những thời điểm con đường cách mạng của giai cấp vô sản gặp nhiều khó khăn với sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu - một tổn thất to lớn đối với phong trào cộng sản và xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Song đó là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực được xây dựng ở Nga và sau đó là ở Liên bang Xô viết, chứ không phải là sự sụp đổ của học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. Những tư tưởng về giai cấp công nhân được phản ánh trong tuyên ngôn không những không bị lỗi thời mà vẫn có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn lớn lao đối với giai cấp công nhân nước ta cũng như giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, thế giới vừa hợp tác, vừa đấu tranh nên việc nhận thức một cách rõ ràng, không mơ hồ, không ảo tưởng về chủ nghĩa tư bản hiện đại, về bản chất giai cấp của Nhà nước tư sản giúp chúng ta có một cách nhìn đúng đắn. Tuyên ngôn đã khẳng định sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đem lại những thành tựu rất lớn cho xã hội loài người. Tuy nhiên, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng được xã hội hoá cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ngày càng gay gắt. Mâu thuẫn đó tất yếu dẫn đến cách mạng vô sản. 

Hiện nay, những thành tựu khoa học - công nghệ phát triển, đặc biệt là từ nửa sau thế kỷ XX, giai cấp công nhân đã có những biến đổi nhất định về phương thức lao động và phương diện đời sống (tình trạng sở hữu, điều kiện lao động, mức thu nhập, trình độ học vấn, trình độ tay nghề,...). Một bộ phận giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa đã có một số tư liệu sản xuất, đã góp cổ phần tại các xí nghiệp tư bản. Nhưng, thực tế số tư liệu sản xuất và lượng cổ phần của giai cấp công nhân chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số tài sản “khổng lồ” của các nhà tư bản. Là một cổ đông nhỏ, giai cấp công nhân không thể cùng với nhà tư bản phân chia quyền lực. Do đó, xét về bản chất vẫn phải làm thuê cho nhà tư bản. Giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành giai cấp cầm quyền và là chủ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, thì khái niệm giai cấp vô sản theo đúng nghĩa của từ đó cũng hoàn toàn không còn nữa. Tuy nhiên, giai cấp công nhân ở các nước này vẫn là một bộ phận của giai cấp vô sản (giai cấp công nhân) toàn thế giới.

Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, giai cấp công nhân có xu hướng “trí thức hóa” ngày càng tăng. Điều đó không làm thay đổi bản chất và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân vẫn là giai cấp có sứ mệnh xóa bỏ tình cảnh vô sản, trở thành giai cấp có địa vị làm chủ để tiến tới “tự thủ tiêu” chính mình với tư cách là một giai cấp.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới chính là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Lớp công nhân Việt Nam đầu tiên xuất hiện gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (năm 1897) và thực sự trở thành giai cấp công nhân Việt Nam từ công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp lần thứ hai (1924-1929). Cùng với quá trình phát triển của cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành bộ phận của đội ngũ giai cấp công nhân quốc tế. Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam còn có đặc điểm riêng. Đó là:

Phát triển tư bản tài chính và con đường đi đến khủng hoảng


TRIẾT HỌC MÁC XÍT – HÌNH THỨC TƯ DUY LÝ LUẬN ĐÚNG ĐẮN ĐỂ TIẾP CẬN TÍNH TOÀN VẸN VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI CON NGƯỜI

Đỗ Huy(*)

Con người và thế giới của con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, như tâm lý học, xã hội học, lịch sử, văn hoá học... Song, theo chúng tôi, chỉ có triết học và triết học mácxít chứ không phải triết học Cantơ, Hêgen, Phoiơbắc hay những trào lưu triết học sau này như chủ nghĩa Tômát mới, chủ nghĩa hiện sinh mới có cách giải quyết đúng đắn vấn đề này. Làm được điều này, các nhà triết học mácxít đã dựa trên quan điểm thực tiễn vật chất – tinh thần, trong đó, tâm điểm của nó là lao động của con người.

Con người cùng với thế giới người mà nó tạo ra là cả một thiên hà các vấn đề. Vấn đề con người từ đâu tới, các quan hệ của nó, sự tồn tại thế giới bên trong, thế giới bên ngoài trong thực tiễn lịch sử - xã hội của con người; cá thể và cá tính của con người, các hoạt động và khả năng sáng tạo của con người; con người đi đâu và về đâu; các tổ chức xã hội của con người, các kiểu con người trong tiến trình lịch sử v.v. và v.v. đã từng là cội nguồn tạo ra những khoa học nghiên cứu con người và thế giới của con người.

Các khoa học vật lý học, sinh học, y học, ưu sinh học... đã từng đạt được những thành tựu to lớn trong quá trình lý giải bản chất tự nhiên của con người. Các thành tựu của ưu sinh học người đã khám phá ra bộ gien người và đặc biệt, đã tạo ra con người bằng sinh sản vô tính. Sau khi tạo ra được con người từ trong các ống nghiệm, các cá thể người ấy sống như thế nào. Nó có gia đình không? Nó có chuẩn mực đạo đức xã hội không? Nó có mỹ cảm bình thường không?... rõ ràng chưa có khoa học nào nghiên cứu các con người ấy sẽ tồn tại như thế nào và nó đi đâu, về đâu, ảnh hưởng của nó đến toàn bộ đạo đức xã hội ra sao?

Con người đã tạo ra các khoa học tự nhiên để nghiên cứu mình. Ngoài khoa học tự nhiên, con người còn tạo ra các khoa học xã hội và khoa học nhân văn để lý giải bản chất xã hội, những tầng, những lớp, tâm linh, ứng xử, giao tiếp và các khả năng tiềm ẩn của mình. Trong số các khoa học xã hội và khoa học nhân văn nghiên cứu các hoạt động người, trước hết phải kể đến Khoa xã hội học. Khoa xã hội học đã đạt được rất nhiều thành tựu khi giải quyết và lý giải các vấn đề xã hội của con người. Mặc dù ngành khoa học này đã nghiên cứu các hình thái ý thức và tồn tại xã hội, các tổ chức và cơ cấu xã hội của con người, song nó lại không có khả năng xây dựng một hệ thống lý luận về mặt tự nhiên trong bản chất của con người. Dù là xã hội học cổ điển hay xã hội học hiện đại, xã hội học mácxít hay ngoài mácxít, mặt tự nhiên của con người đều nằm ngoài hệ thống lý luận của nó. Bản chất toàn vẹn của con người là sự thống nhất giữa cái tự nhiên và cái xã hội. Nếu xã hội học không bao chứa được mặt tự nhiên trong con người thì nó không thể chứa đựng được việc nghiên cứu các hình thức vận động tự nhiên của bản thân con người và các sáng tạo về mặt tự nhiên của con người.

Điều luật nhân quyền Magnitsky vi phạm nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết

 


Một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam


Friday, February 2, 2024

Những chân lý đơn giản về lãnh đạo = Simple truths of leadership


 Những chân lý đơn giản về lãnh đạo = Simple truths of leadership  / Ken Blanchard, Randy Conley; Mai Chí Trung dịch

. - Tp. Hồ Chí Minh : Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Pace Institute of Management, 2023. - 164 tr. ; 20 cm.

Các tác giả viết cuốn sách này vì biết rằng rất ít người đang áp dụng những nguyên tắc lãnh đạo theo lẽ thường ở nơi làm việc. Định dạng cho cuốn sách này rất đơn giản. Ở trang trước, các tác giả xác định một Chân lý Đơn giản về lãnh đạo phục vụ hoặc lòng tin. Trong trang kế tiếp, các tác giả mô tả việc chân lý này đang ít được áp dụng một cách khó hiểu như thế nào; rồi giải thích ngắn gọn lý do tại sao nó lại quan trọng. Phần cuối của cuốn sách là một "lời kêu gọi hành động" dành cho độc giả - "Biến lẽ thường thành thông lệ" - ở đó các tác giả chia nhỏ chân lý này thành những ý tưởng mà các nhà lãnh đạo có thể dễ dàng áp dụng vào công việc. Khi "lãnh đạo theo lẽ thường" được áp dụng vào thực tế như thông lệ, tất cả mọi người đều chiến thắng - các nhà lãnh đạo, đội ngũ nhân viên của họ và tổ chức của họ.  

1. Chân lý đơn giản                    2. Lãnh đạo

Nam Phương Hoàng Hậu - Vị quốc mẫu tân thời qua tư liệu báo chí (1934 - 1945)


 Nam Phương Hoàng Hậu - Vị quốc mẫu tân thời qua tư liệu báo chí (1934 - 1945) / Tử Yếng Lương Hoài Trọng Tính. - Tp. Hồ Chí Minh : Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2023. - 191 tr. ; 21 cm.

Trong khuôn khổ của cuốn sách này, tác giả muốn gửi đến bạn đọc hình tượng một vị Hoàng hậu cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn đã thoát ly khỏi những bó buộc ngặt nghèo của truyền thống đối với người phụ nữ Việt Nam thông qua tài liệu báo chí trong giai đoạn 1934 - 1945, cũng tức là trong khoảng thời gian bà tại vị Hoàng hậu. Từ đó, góp phần giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về Hoàng hậu - Hoàng đế, Hoàng thất, cũng như những công việc mà Hoàng Hậu Nam Phương đã làm có ảnh hưởng đến công cuộc trị vì và giúp đỡ cho thần dân của mình lúc bấy giờ. 

1. Nam Phương Hoàng Hậu

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Đảng hiện nay


 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Đảng hiện nay: Sách chuyên khảo / Huỳnh Thị Gấm. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021. - 272 tr. ; 21 cm.

Nội dung cuốn sách tập trung làm rõ những vấn đề chung về công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam như: Đảng cầm quyền; nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng; sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và các lĩnh vực kinh tế - xã hội; phân tích sâu sắc những điểm mới về xây dựng Đảng được nêu trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, qua khảo sát thực tế sinh động về công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp ngoài nhà nước ở vùng Đông Nam bộ và Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời đưa ra những giải pháp phù hợp, khoa học nhằm nâng cao công tác xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị và tổ chức, góp phần xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là hạt nhân chính trị lãnh đạo toàn diện đất nước trong giai đoạn hiện nay. 

1. Xây dựng Đảng                            3. Sách chuyên khảo

Cơ chế kiểm soát quyền lực đối với Ban Thường vụ Huyện ủy ở vùng Đông Nam bộ giai đoạn hiện nay

 

Cơ chế kiểm soát quyền lực đối với Ban Thường vụ Huyện ủy ở vùng Đông Nam bộ giai đoạn hiện nay: Sách tham khảo / Cù Huy Khang. - Huế : Đại học Huế, 2022. - 179 tr. ; 21 cm.

Cuốn sách tham khảo Cơ chế kiểm soát quyền lực đối với Ban Thường vụ Huyện ủy ở vùng Đông Nam bộ giai đoạn hiện nay nhằm góp phần làm rõ lý luận và thực tiễn cơ chế kiểm soát quyền lực đối với Ban Thường vụ Huyện ủy ở vùng Đông Nam bộ giai đoạn hiện nay. 

1. Cơ chế                            2. Kiểm soát quyền lực                           3. Ban Thường vụ Huyện ủy                                4. Đông Nam bộ 

Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và Pháp luật Việt Nam


 Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và Pháp luật Việt Nam: Sách chuyên khảo / Nguyễn Thị Tuyết Mai (ch.b), Lưu Ngọc Tố Tâm, Nguyễn Đình Phúc,... . - H.  : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2022. - 232 tr. ; 21 cm.

Nội dung cuốn sách phản ánh một cách khái quát, có hệ thống và tương đối toàn diện những nội dung cơ bản về Nhà nước và pháp luật Việt Nam.  

1. Nhà nước và Pháp luật                     2. Việt Nam                       3. Sách chuyên khảo

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ trong tình hình hiện nay

 


Một số chiều cạnh trong biến đổi cấu trúc xã hội ở Việt Nam hiện nay


VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

 

 Dương Trung Quốc

 

(Chinhphu.vn) - Xây dựng, đưa vào thực tiễn hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam hiện nay về nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc; ngăn chặn sự xuống cấp về đạo đức xã hội là mục tiêu lớn nhất của Chương trình hành động Chính phủ đối với Nghị quyết 33-NQ/TW về phát triển văn hóa xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới. Cổng TTĐT Chính phủ khởi đăng loạt bài ghi nhận ý kiến của các học giả, nhà nghiên cứu, nhà quản lý về sự cần thiết cũng như cách thức, thách thức triển khai Chương trình này. 

“Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” là câu chúc, nói cho đúng hơn là lời nhắc nhở mà người xưa thường nói với nhau mỗi lúc Xuân về, mở đầu cho một năm mới với hy vọng cuộc sống của mỗi con người cũng như của xã hội mỗi ngày một mới hơn, một tốt đẹp hơn. Đó cũng vừa là triết lý vừa là mục tiêu của đời sống.

Nhắc lại điều ấy cũng để vận vào Nghị quyết số 102/NQ-CP của Chính phủ ban hành “Chương trình hành động về việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước”, một văn bản liên quan đến trách nhiệm chỉ đạo của Nhà nước nhằm thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW. Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy đây không phải là điều gì mới mẻ hay lần đầu tiên được đề cập tới. Bởi cách đây 7 thập kỷ, từ những ngày đầu cách mạng mới thành công, chế độ mới được xác lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến cái nguyên lý “Văn hóa soi đường quốc dân đi”.

Đọc lại bài phát biểu của người đứng đầu Nhà nước về những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ chỉ một ngày sau khi đọc “Tuyên ngôn độc lập”, đủ thấy cho đến nay vẫn còn mang tính thời sự: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” và đưa ra một nội dung rất cụ thể: “Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính”.

Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đánh giá và một số khuyến nghị

 


Điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô hướng tới tăng trưởng bền vững


Tư tưởng truyền thống phương Đông về quyền con người


Monday, January 1, 2024

Duy trì vị thế độc tôn của đảng cầm quyền: Kinh nghiệm của Xingapo và khuyến nghị cho Việt Nam


Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc

 

Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông từ sau Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc: Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam: Sách tham khảo đặc biệt: Lưu hành nội bộ / Vũ Duy Thành. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2022. - 267 tr. ; 24 cm.

Nội dung cuốn sách tập trung làm rõ những thay đổi, đặc biệt là những điểm mới, những điều chỉnh trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc từ sau Đại hội XVIII; phân tích tác động và ảnh hưởng của việc Trung Quốc triển khai chính sách Biển Đông đối với các lợi ích an ninh, phát triển của Việt Nam, từ đó gợi ý, đề xuất một số đối sách giúp Việt Nam có sự chuẩn bị sẵn sàng cho các kịch bản để bảo vệ các lợi ích an ninh và phát triển của mình, đồng thời duy trì quan hệ bình thường, hữu nghị và hợp tác cùng có lợi với Trung Quốc trên tất cả các lĩnh vực.

1. Chính sách của Trung Quốc                           2. Biển Đông 

Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng


 Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng / Nguyễn Phú Trọng. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 507 tr. ; 24 cm.

Cuốn sách chọn lọc 38 bài viết, bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thể hiện những tư tưởng, quan điểm và định hướng quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược và toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư, nhằm triển khai và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị của đất nước nói chung, cũng như của các lĩnh vực, các khu vực và các địa phương nói riêng.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam               2. Nghị quyết Đại hội XIII

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

 

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ: Tập ảnh và tư liệu / Nguyễn Thị Hoa Xinh, Nguyễn Phan Nam An, Kiều Thị Minh Sơn,…. - In lần thứ 5. - Tp. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2023. - 176 tr. ; 29 cm.

Tập sách được trình bày theo bố cục biên niên gồm các giai đoạn trong chặng đường hoạt động của Hồ Chủ tịch. Với hơn 150 ảnh cùng với các tư liệu minh họa, sách cung cấp cho bạn đọc những tư liệu và hình ảnh sống động về cuộc đời và hoạt động của Bác Hồ kính yêu, vị anh hùng giải phóng của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa của thế giới. 

Sách còn có phần Phụ lục về những thành tựu mà đất nước đạt được từ sau ngày Bác mất, khi thực hiện Di chúc của Bác và đi theo con đường mà Bác đã lựa chọn.

1. Việt Nam          2. Đẹp nhất                   3.  Bác Hồ

Hồ Chí Minh - Văn hóa soi đường cho quốc dân đi

 

Hồ Chí Minh - Văn hóa soi đường cho quốc dân đi / Bùi Đình Phong. - Tái bản lần thứ 2. - Tp. Hồ Chí Minh : Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2023. - 272 tr. ; 21 cm.

Cuốn sách được bố cục thành 4 chương:

Chương 1: Văn hóa Hồ Chí Minh - Dân tộc và nhân loại

Chương 2: Văn hóa soi đường cho quốc dân đi

Chương 3: Dưới ánh sáng văn hóa Hồ Chí Minh

Chương 4: Thế giới tôn vinh nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh

1. Hồ Chí Minh          2. Văn hóa soi đường cho quốc dân đi

Nguyễn Ái Quốc và vụ án Hồng Kông năm 1931

 

Nguyễn Ái Quốc và vụ án Hồng Kông năm 1931 / Nguyễn Văn Khoan. - In lần thứ 3 có chỉnh sửa, bổ sung. - Tp. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2023. - 160 tr. ; 21 cm.

Vụ án Nguyễn Ái Quốc là một vụ án nổi tiếng trong lịch sử tòa án Hồng Kông trong thế kỷ XX. Trải qua gần 20 tháng bị giam giữ (6/6/1931 - 22/1/1933), Bác Hồ (lúc đó mang bí danh Tống Văn Sơ) đã phải đối mặt với cái chết do Pháp và Anh cấu kết với nhau. Nhưng với tinh thần lạc quan cách mạng và ý chí kiên cường, cách xử trí thông minh, tỉnh táo và khôn khéo của người cộng sản, cùng với sự giúp đỡ của Hội Quốc tế Cứu tế Đỏ và luật sư Francis Henry Loseby, cuối cùng Người đã giành được thắng lợi. Đây là vụ án được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm.

Cuốn sách được tác giả Nguyễn Văn Khoan biên soạn đã có thêm nhiều tư liệu lưu trữ tại các Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng để soi rọi thêm ánh sáng về sự kiện lịch sử này. Cũng như các kho lưu trữ của Đảng và Nhà nước, các hồi ký và chuyện kể của các cụ Lê Tư Lành, Lý Phương Đức, Luật sư Loseby (Francis Henry Loseby) đã cung cấp thêm nhiều thông tin lý thú, nhiều chi tiết cụ thể. Nội dung phong phú của sách lại được chuyển tải qua một hình thức thích hợp với bố cục gọn, các chương súc tích, với lời văn nhẹ nhàng, có sức hấp dẫn bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ tuổi.

1. Nguyễn Ái Quốc            2. Vụ  án Hồng Kông               2. Năm 1931

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)


Về lợi ích dân tộc và phương thức thực hiện theo tư tưởng Hồ Chí Minh


Xây dựng, phát triển giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới


PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY ĐÃ THAY ĐỔI BẢN CHẤT?

 Trịnh Xuân Việt

Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, xã hội loài người đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại.

Lợi dụng vấn đề này, một số phần tử lớn tiếng rêu rao rằng: chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất nhờ việc ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ vào trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo đó, trong phương thức sản xuất tư bản ngày nay không còn hiện tượng người bóc lột người, xã hội tư bản là xã hội tiến bộ nhất trong lịch sự nhân loại mà loài người cần hướng đến.

Thực ra, những giọng điệu tuyên truyền đó vẫn không có gì mới và xa lạ đối với chúng ta. Về bản chất chúng vẫn theo những lối mòn cũ muốn phủ định giá trị vĩnh hằng của chủ nghĩa Mác - Lênin, và tạo cảm giác mơ hồ cho những người cộng sản trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng.

Nhìn nhận về vấn đề này, Đảng ta khi bàn về chủ nghĩa tư bản ngày nay, đã khẳng định “Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.”[1] Những nhận định trên của Đảng ta được dựa trên một nền tảng vững chắc là chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời xuất phát từ tình hình thực tiễn phát triển của chủ nghĩa tư bản để Đảng đưa ra những đánh giá hết sức khoa học về chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay.

Các nhà kinh điển C.Mác và Ăng ghen khi phân tích về chủ nghĩa tư bản đã chỉ ra: từ khi mới ra đời, chủ nghĩa tư bản đã cho con người thấy tính ưu việt của nó. Theo C.Mác, Ăng ghen, đó là một bước tiến vĩ đại về phía trước trên những con đường phát triển của xã hội loài người. Nhưng chủ nghĩa tư bản không phải là hình thái xã hội vĩnh hằng, khi nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội hóa thì sẽ bị hình thái xã hội thích ứng được với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất mới thay thế. Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen, nghiên cứu CNTB từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độc quyền, Lênin đã chỉ ra bản chất kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Trên cơ sở nghiên cứu chủ nghĩa tư bản độc quyền, Lênin còn khẳng định sự phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Theo cách nói của Lênin, hiện nay trong chủ nghĩa tư bản khuynh hướng “phát triển vô cùng nhanh” nổi trội hơn so với khuynh hướng ngừng trệ, thối nát vốn có của nó. Lênin cũng chỉ ra, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước vẫn còn nhiều tiền năng phát triển, song đó là sự phát triển trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản và tiềm năng phát triển đó không phải là vô hạn[2]. Càng phát triển, mâu thuẫn càng sâu sắc phức tạp.

Một số vấn đề đặt ra đối với kiểm soát quyền lực trong bối cảnh kiện toàn hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay


Chiến dịch tiến công tổng hợp ở khu 8 năm 1972 - Một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong chiến tranh giải phóng


Monday, December 4, 2023

Một số chiều cạnh biến đổi xã hội trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

 


Xã hội học với lãnh đạo, quản lý

Xã hội học với lãnh đạo, quản lý / Phạm Đi. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 580 tr. ; 24 cm.

Nội dung cuốn sách cung cấp những kiến thức về xã hội học gắn với công tác lãnh đạo quản lý: Khái quát bản chất của môn khoa học Xã hội học và quan hệ giữa Xã hội học với lãnh đạo, quản lý cũng như sự hình thành, phát triển nhu cầu, khả năng vận dụng tri thức, phương pháp xã hội học vào hoạt động lãnh đạo, quản lý xã hội.  

1. Xã hội học                  2. Lãnh đạo                        3. Quản lý

 

QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VỚI KINH TẾ

 

                                                                                  GS. Nguyễn Đức Bình

(LLCT)-Xét cho cùng, tài nguyên quý nhất, vốn quý nhất là con người. Con người Việt Nam là sự kết tinh nền văn hóa Việt Nam, vì vậy quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam cũng chính là quá trình thực hiện chiến lược con người, xây dựng và phát huy nguồn lực con người - nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển.

Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(1)

Quán triệt tư tưởng chỉ dẫn của Bác Hồ, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa VIII xác định văn hóa là “nền tảng tinh thần của xã hội”.

(Lễ hội Đền Hùng 2012)

 Đời sống xã hội có hai mặt vật chất và tinh thần. Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội, thì văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội. Khái quát khoa học đó cho thấy tất cả tầm rộng lớn và sâu sắc của văn hóa, từ đó dẫn đến nhiều khía cạnh lý luận cùng những kết luận thực tiễn hết sức quan trọng. Xã hội đứng hai chân trên hai “nền tảng”, nếu chỉ có một nền tảng thì xã hội không thể đứng vững.

Hồ Chí Minh đỉnh cao truyền thống Nhân Trí Dũng Việt Nam

 

Hồ Chí Minh đỉnh cao truyền thống Nhân Trí Dũng Việt Nam / Nguyễn Khắc Nho. - Xuất bản lần thứ hai. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 284 tr. ; 21 cm.

Cuốn sách giới thiệu một cách hết sức sinh động, có hệ thống về cuộc đời, sự nghiệp, nhân cách và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh - những tinh hoa truyền thống Nhân - Trí - Dũng của dân tộc Việt Nam. Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức của Bác, chúng ta càng tự hào và thấm thía về những truyền thống cao đẹp của dân tộc, mà Bác Hồ là sự hiện thân hoàn hảo nhất.

1. Hồ Chí Minh                        2. Đỉnh cao truyền thống                           3. Nhân                       4. Trí                   5. Dũng                      6. Việt Nam

Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh


 Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh / Phạm Văn Đồng. - Xuất bản lần thứ hai. -  H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 224 tr. ; 19 cm.

Cuốn sách trình bày những nhận thức của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quá trình hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chi Minh đồng thời khái quát cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, những luận điểm giàu giá trị lý luận và thực tiễn của Người về con người, nhân dân và dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

1. Nhận thức                         2. Tư tưởng Hồ Chí Minh

Đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế

 


Hiệp định Paris - Dấu ấn phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh


 Hiệp định Paris - Dấu ấn phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh / Vũ Mạnh Hà, Phạm Thị Thanh Mai, Trần Thị Phương Lan,... Biên soạn. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 180 tr. ; 20 cm.

Cuốn sách tuyển chọn, giới thiệu những bức ảnh, tư liệu quý về quá trình trước, trong và sau khi Hiệp định Pari được kí kết, thể hiện những nhận định tài tình và sự chỉ đạo sát sao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuốn sách đồng thời phác họa bức tranh toàn cảnh quá trình đàm phán, lễ ký kết cũng như quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện những điều khoản của Hiệp định Pari tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước như nguyện vọng và Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

1. Hiệp định Paris                     2. Phong cách ngoại giao                    3. Hồ Chí Minh

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

Đoàn Thị Vân Thúy

Trong lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước. Nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Theo quan điểm của Paul Samuelra - Nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng để điều hành một nền kinh tế không có cả chỉnh phủ lẫn thị trường cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay. Sự thành công của đổi mới kinh tế ở nước ta càng khẳng định vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường là rất cần thiết vì nó dẫn dắt thị trường phát triển theo hướng tích cực và khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường gây ra để phát triển nền kinh tế một cách tốt nhất.

Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội.

Qua gần 30 năm đổi mới, nước ta đã dần chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vai trò quản lý của nhà nước có những bước chuyển biến lớn trong điều kiện kinh tế thị trường, thể hiện ở những điểm sau:

Góp phần tìm hiểu Tư tưởng độc lập tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Góp phần tìm hiểu Tư tưởng độc lập tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh / Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn. - H. : Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023. - 107 tr. ; 19 cm.

Cuốn sách góp phần làm sáng tỏ hơn nữa những nội dung, những giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh theo tinh thần “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.

1.  Tư tưởng Hồ Chí Minh                     2. Độc lập                                   3. Tự do

TRAU DỒI KIẾN THỨC TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN GÓP PHẦN BỒI DƯỠNG THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC CHO CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CƠ SỞ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

 Dương Bá Tiến

 Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người và xã hội loài người. Tồn tại trong thế giới, con người phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này dần dần hình thành nên thế giới quan. Khi đã hình thành, thế giới quan lại trở thành nhân tố định hướng cho quá trình con người tiếp tục nhận thức thế giới. Có thể ví thế giới quan như một “thấu kính”, qua đó con người nhìn nhận thế giới xung quanh cũng như tự xem xét chính bản thân mình để xác định cho mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức hoạt động được mục đích, ý nghĩa đó. Như vậy, thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực; trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng đánh giá sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng xã hội.

Thế giới quan được cấu thành bởi nhiều yếu tố như tình cảm, lý trí, niềm tin, tri thức, lý tưởng. Các yếu tố này liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Trong thế giới quan có sự hòa nhập giữa tri thức và niềm tin. Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi nó đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động thực tiễn của con người.

Thế giới quan được hình thành từ nhiều con đường khác nhau như văn học, nghệ thuật, huyền thoại, thần thoại, tôn giáo, triết học,… Trong đó, triết học, với phương pháp tư duy đặc thù đã tạo nên hệ thống lý luận bao gồm các khái niệm, phạm trù, quy luật, … thể hiện những quan niệm chung nhất về thế giới với tư cách là một chỉnh thể, nên, triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành và phát triển thế giới quan. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan; nó giữ vai trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.

Nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Để thực hiện thành công sự nghiêp đổi mới, vai trò của đội ngũ cán bộ, quản lý nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở nói riêng là rất quan trọng. Bởi vì, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người trực tiếp lãnh đạo và tổ chức thắng lợi mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tại cơ sở. Đồng thời, họ cũng là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, thường xuyên lắng nghe, giải quyết và đề đạt ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân với Đảng. Do đó, nhằm bồi dưỡng thế giới quan khoa học để cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng và năng lực lãnh, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ cần phải trang bị kiến thức triết học Mác - Lênin.

Đa dạng văn hóa và xung đột tôn giáo - sắc tộc ở Đông Nam Á: Thực trạng và tác động


Hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo


Đảm bảo bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp