Monday, April 11, 2022
SÁCH THAM KHẢO
1. Ba mô hình lý thuyết và quan điểm của Đảng ta hiện nay về quan hệ quốc
tế, TS. Vũ Thế Hiệp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, 159 tr, 14,5 x 20,5
cm
Cuốn sách giới thiệu những nội dung đại cương, hệ thống của
ba mô hình lý thuyết nền tảng - hiện thực chủ nghĩa, tự do chủ nghĩa, macxit và
nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của đảng và nhà nước ta
hiện nay về quan hệ quốc tế.
2. Lịch sử quan hệ quốc tế, Đặng Quang Trung (dịch), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, 687 tr, 26 x 24 cm
Nội dung cuốn sách
gồm 6 phần:
-
Phần
1: Giới thiệu một số đặc điểm cơ bản của trật tự Yalta -
Potsdam; sự ra đời của một loạt quốc gia và tổ chức mới như CHDC Đức, CHLB Đức, CHND
Trung Hoa, Liên minh Tây Âu, NATO… đồng thời đề cập những cuộc khủng hoảng đầu
tiên của chiến tranh lạnh…
-
Phần
2: Nêu lên những mâu thuẫn của hệ thống lưỡng cực, cuộc khủng
hoảng trong khối cộng đồng xã hội chủ nghĩa; cuộc khủng hoảng kênh đào Xuez và
cuộc khủng hoảng Caribe…
-
Phần 3: Phân tích một số vấn đề quốc tế diễn ra nổi bật trong những năm 1960, mâu thuẫn trong quá trình hội nhập
Tây Âu và việc mở rộng Cộng đồng
kinh tế châu Âu lần thứ nhất, tình hình nội bộ khối cộng đồng xã hội chủ nghĩa trong
những năm 1960; quan hệ Xô - Mỹ; quan hệ Xô - Trung; quan hệ Xô - Nhật…
- Phần 4: Trình bày về tình hình ở Đông Dương với những diễn biến phức tạp ở Campuchia; quan hệ Trung Quốc và Việt Nam, xung đột ở Campuchia, quan hệ Xô - Mỹ - Trung…
-
Phần
5: Phân tích quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của trật tự thế giới hai cực và ảnh hưởng của nó
đối với tình hình thế giới…
-
Phần 6: Đưa ra một số đánh giá, nhận định về quá trình toàn cầu hóa, phân tích các nhân tố góp phần hình thành trật
tự thế giới đơn cực trong những năm cuối
cùng của thế kỷ XX và thập niên đầu thế kỷ XXI; sự thay đổi vị thế quốc tế của
Nga; các cuộc xung đột ở Côxôvô, Maxedonia; quan hệ Nga - NATO, Nga - Grudia,
Nga - Trung Quốc…
3. Một số vấn đề lý luận quan hệ quốc tế dưới góc nhìn lịch sử, Hoàng Khắc
Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, 524 tr, 14.5 x 20.5 cm
Cuốn sách tập trung bàn về quan hệ quốc tế trên phương diện lý thuyết,
xác định các xu hướng vận động trong quan hệ quốc tế, tìm hiểu những điều kiện chi phối
sự tương tác giữa các chủ thể, dự báo hành vi và phản ứng của chúng trong quan
hệ quốc tế… đồng thời phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống quốc
tế, như tìm hiểu nhận thức về hệ thống
quốc tế, các yếu tố tạo nên hệ thống
quốc tế và khái niệm hệ thống quốc tế, trình bày các khái niệm về quyền lực, chạy đua
vũ trang, nguyên nhân chiến tranh…
4.
Quan hệ quốc tế: Những khía cạnh lý thuyết và vấn đề, Nguyễn Quốc Hùng
-
Hoàng Khắc Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, 391 tr, 14.5 x
20.5 cm
Cuốn sách gồm những bài viết và nghiên cứu của hai tác giả
trong những năm gần đây, tập trung phân tích quan hệ quốc tế, hội nhập quốc tế
trên những khía cạnh lý thuyết và vấn đề của thực tiễn lịch sử thế giới, khu vực. Bên cạnh đó, các tác giả còn trình bày mối quan hệ
giữa nước ta với một số nước và khu vực trên thế giới trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực ngày nay. Đồng thời nêu một số xu hướng lý luận về hội nhập quốc
tế; phân tích xung đột tôn giáo từ góc độ quan hệ quốc tế… theo cách tiếp cận
của mình.
BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Tô Huy Rứa
Sáng ngày 29-12-2008, kỳ họp thứ 7, Hội
đồng Lý luận Trung ương đã khai mạc tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đồng chí Tô Huy Rứa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương,
Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương đã trình bày Báo cáo Đề dẫn. Chúng tôi
xin trích giới thiệu Báo cáo Đề dẫn do đồng chí Tô Huy Rứa trình bày tại Kỳ họp
này.
I- Tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Như chúng ta đã biết, từ sau 1975, đặc
biệt sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã,
cục diện thế giới đã có
những biến đổi cực kỳ sâu sắc, phong phú, phức tạp, mau lẹ và khó lường. Đối tác, đối tượng của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc
của chúng ta cũng có những đặc điểm mới, biến động mới, khác trước. Cùng với quá trình đổi mới đi vào chiều sâu và
phát triển toàn diện, tình hình trong nước cũng xuất hiện nhiều đặc điểm mới
với cả thời cơ lớn và những thách thức gay gắt, nguy cơ mới.
Nhận thức kịp thời và sâu sắc những vấn đề trên, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (Khóa IX) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã khẳng định một hệ thống quan điểm mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc với 6 nội dung không tách rời nhau: “Một là, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; hai là, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; ba là, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bốn là, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; năm là, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; sáu là, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Quan niệm trên là một bước tiến mới
trong tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, không chỉ
là sự tổng kết thực tiễn quá khứ mà còn là dự báo chính xác những vấn đề của
tương lai trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Trước đây, tư duy về bảo vệ Tổ quốc của
chúng ta thường chú trọng đến bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ,
chống lại sự xâm lược từ bên ngoài. Tư duy mới về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
hiện nay gắn mục tiêu trên với nhiệm vụ bảo vệ Đảng, nhân dân và bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình
mới, nhằm bảo đảm vững chắc an ninh sinh tồn và an ninh phát triển của Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa, Đảng ta khẳng định, không chỉ bảo vệ độc lập dân tộc, thống
nhất đất nước và chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ, bảo vệ
Đảng, mà còn là bảo vệ nhân dân, giữ
gìn và phát huy văn hóa dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng; chống kẻ thù xâm
lược từ bên ngoài và bọn phản động bên trong cấu kết với nhau; “diễn biến hòa
bình” của chủ nghĩa đế quốc, chống “tự diễn biến” trong nội bộ ta.
Trước đây, trong điều kiện phải chiến
đấu chống xâm lược, giải phóng Tổ quốc, tư duy chiến lược của chúng ta về bảo
vệ Tổ
quốc thiên về dùng
vũ trang chống lại sự tấn công từ
bên ngoài là chủ yếu. Ngày nay, trong điều kiện rất mới của quốc tế và trong
nước, một mặt phải chuẩn bị đầy đủ sức mạnh vũ trang cần thiết để giữ vững hòa
bình, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược của các thế lực thù địch trong
mọi tình huống; mặt khác, tư duy mới về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc nhấn mạnh sức
mạnh và các biện pháp phi vũ trang để giữ vững được độc lập, chủ quyền, toàn
vẹn lãnh thổ, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội mà không phải tiến hành chiến tranh, ngăn chặn không để xảy ra
chiến tranh, phát triển đất nước về mọi mặt theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về đối tượng, đối tác, tư duy bảo vệ Tổ quốc, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại của chúng ta đã có sự phát triển, đổi mới. Chúng ta nhận thức về đối tượng và đối tác linh hoạt, uyển chuyển và biện chứng hơn; chúng ta cũng ngày càng thấy rõ vai trò quan trọng của an ninh và đối ngoại, sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với an ninh và đối ngoại trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với kinh tế - tức là chúng ta nhận thức toàn diện, sâu sắc, biện chứng hơn mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới. Đó là một thành quả mới về lý luận bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta.
Thursday, April 7, 2022
Monday, March 14, 2022
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - Mô hình, cách làm và kinh nghiệm
Bài 1: Những nhà giáo, nhà khoa học dấn thân làm chiến sĩ
LTS:
Thời gian qua, từ khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính
trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các
quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (sau đây gọi tắt là Nghị
quyết 35), công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ,
toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu. Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần đã
khảo sát mô hình, cách làm và thực hiện loạt bài phỏng vấn lãnh đạo, chỉ huy
một số cơ quan, đơn vị, nhà trường trong toàn quân, toàn quốc về triển khai
thực hiện Nghị quyết 35.
Bài 1: Những nhà giáo, nhà khoa học dấn thân làm chiến sĩ
Nếu xem công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một mặt trận thì
Học viện Chính trị Quốc gia (CTQG) Hồ Chí Minh nắm
vai trò là một trong những đạo quân chủ lực. Với vị thế, chức năng, nhiệm vụ
của mình, Đảng ủy, Ban giám đốc học viện đã lãnh đạo, chỉ đạo công tác này ngày
càng đi vào chiều sâu. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần có
cuộc trò chuyện với PGS, TS Lê Văn Lợi, Phó giám đốc, Phó trưởng ban thường
trực Ban chỉ đạo 35 của học viện xoay quanh những kinh nghiệm thực hiện Nghị
quyết 35 của nhà trường.
|
PGS,
TS Lê Văn Lợi. Ảnh: HOÀNG VIỆT |
Thursday, March 3, 2022
Tầm nhìn chiến lược nhân sự: Bài học quản lí Nhân sự từ tập đoàn đa quốc gia General Eletric - doanh nghiệp quản lí hiệu quả nhất thế giới
Tầm nhìn chiến lược nhân sự: Bài học quản lí Nhân sự từ tập đoàn đa quốc gia General Eletric - doanh nghiệp quản lí hiệu quả nhất thế giới / Yagi Yosuke và Kanai Toshihiro; Thanh Vân dịch. - H. : Lao động, 2021. - 220 tr. ; 21 cm.
Cuốn sách sẽ giúp người đọc bài học về quản lí nhân sự từ tập đoàn đa quốc gia General Electric, doanh nghiệp quản lí hiệu quả nhất thế giới.
1. Nhân sự 2. Quản lý 3. Tầm nhìn
Khoa học và nghệ thuật của việc ra quyết định
Khoa học và nghệ thuật của việc ra quyết định / Rex V. Brown; Jonathan Baron, Karen Brown biên tập; Lam Phương dịch. - H. : Thanh niên, 2021. - 212 tr. ; 21 cm.
Cuốn sách trình bày các quy tắc và công cụ đưa ra quyết định cơ bản giúp người đọc phản ứng một cách hiệu quả và khôn ngoan trước những tình huống khó xử thường ngày.
1. Quyết định 2. Nghệ thuật
Nghệ thuật lãnh đạo: Chân dung những CEO, nhà sáng lập và những người thay đổi cuộc chơi vĩ đại nhất thế giới
Nghệ thuật lãnh đạo: Chân dung những CEO, nhà sáng lập và những người thay đổi cuộc chơi vĩ đại nhất thế giới / David M. Rubenstein; Thúy Hằng, Anh Thư dịch. - H. : Dân trí, 2021. - 480 tr. ; 24 cm.
Cuốn sách cung cấp những kinh nghiệm rất thực tế và gần gũi của các nhà lãnh đạo như các cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và George W. Bush , Bill Gates, Jeff Bezos, Tim Cook và Oprah Winfrey…, với hi vọng sẽ truyền cảm hứng cho bạn đọc để trở thành những nhà lãnh đạo giỏi trong tương lai; đồng thời học hỏi và phát triển được khả năng lãnh đạo tốt hơn qua những câu chuyện này.
1. CEO 2. Lãnh đạo 3. Nghệ thuật
CEO Trung Quốc II: Bài học kinh nghiệm từ 25 CEO của các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu ở Trung Quốc
CEO Trung Quốc II: Bài học kinh nghiệm từ 25 CEO của các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu ở Trung Quốc / Juan Antonio Fernandez, Laurie Underwood; Phạm Thu Hà dịch. - H. : Dân trí, 2021. - 332 tr. ; 23 cm.
Cuốn sách cung cấp cho bạn đọc những bài học về phẩm chất mà các CEO coi là cần thiết để thành công, bao gồm niềm đam mê, lòng nhiệt huyết, tốc độ ra quyết định, tầm nhìn rõ ràng, tính kỷ luật, khả năng tận dụng nhân sự địa phương và khả năng điều hành hoạt động trong môi trường biến đổi liên tục và thiếu ổn định.
1. CEO 2. Tập đoàn đa quốc gia 3. Lãnh đạo 4. Trung Quốc
Sự thật ta nắm giữ: Một hành trình xuyên nước Mỹ
Wednesday, March 2, 2022
CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ CƠ BẢN THỂ HIỆN CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC TA
Trương Quốc Chính
Mọi nhà nước đều có chức năng giai cấp và chức năng
xã hội. Giữa hai chức năng này luôn có mối quan hệ biện chứng. Với Nhà nước xã
hội chủ nghĩa, chức năng xã hội là thuộc tính cơ bản nhất và quan trọng nhất.
Thực hiện tốt chức năng xã hội là cơ sở, là điều kiện để Nhà nước xã hội chủ
nghĩa bảo đảm và giữ vững địa vị thống trị xã hội về phương diện chính trị, đảm
bảo quyền dân chủ cho nhân dân, xây dựng cơ sở để quyền làm chủ đó được thực hiện
trên thực tế. Những nhiệm vụ cơ bản thể hiện chức năng xã hội đó của Nhà nước
ta hiện nay là: Thứ nhất, không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân; thứ hai, tổ
chức và quản lý kinh tế; thứ ba, tổ chức và quản lý văn hoá, khoa học và giáo dục.
(Ảnh minh họa)
1. Chức năng cơ bản của Nhà nước xã
hội chủ nghĩa
Chúng ta đều biết, chức năng của nhà nước vừa bị quy định, vừa là sự thể hiện bản chất của nhà nước. Tuỳ theo các tiêu chí khác nhau mà chức năng của nhà nước được đề cập, xem xét dưới nhiều góc độ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn ở phạm vi xem xét nhà nước từ góc độ tính chất của quyền lực chính trị mà theo đó, bất kỳ nhà nước nào cũng đều có chức năng thống trị chính trị của giai cấp (chức năng giai cấp) và chức năng xã hội.
Thursday, February 10, 2022
VẤN ĐỀ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ VÀ THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA V.I.LÊNIN
Lê Thị Thục
TCCSĐT - Trong xã hội hiện đại, quyền lực và
quyền lực chính trị là những vấn đề được nhắc đến ngày càng nhiều. Cùng với sự
ra đời và phát triển của các loại hình tổ chức xã hội, vấn đề thực thi quyền lực
nhằm đạt tới hiệu quả quản lý cao nhất trong các tổ chức ngày càng được các nhà
lãnh đạo, quản lý quan tâm. Tuy nhiên, nhận thức như thế nào là đúng về quyền lực
chính trị và thực thi quyền lực chính trị lại là một vấn đề còn gây tranh cãi.
Xu hướng
mơ hồ về quyền lực chính trị và nguồn gốc của nó là nguyên nhân của hàng loạt sự
chệch hướng, thậm chí sai lầm trong hoạt động thực tiễn hiện nay. Để có thể lý
giải cặn kẽ, từ đó có thái độ đúng đắn, khoa học về vấn đề này, việc trở lại
nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về quyền lực chính trị và các phương
thức thực thi quyền lực chính trị trong kho tàng lý luận Mác-xít nói chung,
trong các tác phẩm kinh điển của V.I.Lênin nói riêng là việc làm có ý nghĩa rất
quan trọng.
Về quyền lực chính trị trong thời đại
mới
Trong lịch sử xuất hiện giai cấp,
chính trị và nhà nước, quyền lực bao giờ cũng thể hiện cao nhất ở quyền lực
chính trị, quyền lực nhà nước của một giai cấp nào đó. Do vậy, quyền lực chính
trị, quyền lực nhà nước luôn mang tính giai cấp. Về vấn đề này, V.I.Lênin chia
sẻ quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước, về bộ máy quyền lực của các
giai cấp. Hơn nữa, ông cũng tiếp tục phát triển quan niệm của C.Mác và
Ph.Ăngghen về quyền lực chính trị với tư cách là bạo lực có tổ chức của một
giai cấp để trấn áp một giai cấp khác, đã phân tích sâu sắc thêm với sự bổ sung
những dữ kiện của tình hình mới và chỉ rõ quyền lực của giai cấp thống trị nào
phải bị xóa bỏ, thể chế nhà nước nào phải bị thay thế, và thông qua con đường
cách mạng xã hội với phương thức phổ biến của nó là bạo lực, là khởi nghĩa vũ
trang thì giai cấp mới nào sẽ lên thay giai cấp thống trị cũ, sẽ xác lập vị trí
thống trị của mình, sẽ lập ra thể chế nhà nước của mình như là công cụ thực hiện
quyền lực, thực hiện quyền thống trị của mình.
V.I.Lênin đã chỉ
ra bản chất mới của quyền lực chính trị và bộ máy thực thi quyền lực chính trị
trong thời đại mình. Theo ông, chuyên chính vô sản mang bản chất giai cấp công
nhân – giai cấp đã được giải phóng khỏi tình trạng nô lệ, đã trở thành giai cấp
thống trị, là chủ thể của quyền lực. Cái mới ở đây chính là sự gắn bó mật thiết
của giai cấp công nhân với toàn thể nhân dân lao động trong thực hiện lợi ích
và quyền lực của mình. Bản chất mới đó của quyền lực chỉ xuất hiện với giai cấp
vô sản cách mạng, khi nó thực hiện thành công cách mạng vô sản, xác lập được địa
vị thống trị và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước của mình.
Nếu như thời của C.Mác và
Ph.Ăngghen, Công xã Pari là sự thể nghiệm lịch sử đầu tiên quan niệm lý luận về
quyền lực của các nhà kinh điển Mác-xít và đã thiết lập được nền quyền lực của
giai cấp vô sản, cho dù nền quyền lực đó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian
ngắn ngủi, thì đến thời của V.I.Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga và chính quyền
Xô viết là một sự hiện thực hóa thực sự những quan niệm này. Thực tế xã hội Xô
viết trong và sau Cách mạng Tháng Mười là một minh chứng điển hình về bản chất
và con đường hình thành nên quyền lực của giai cấp vô sản và nhân dân lao động.
QUAN HỆ NƯỚC NHỎ - NƯỚC LỚN TRONG THẾ GIỚI HIỆN NAY
PGS, TS. Nguyễn Viết Thảo,
TS. Ngô Chí Nguyện
(LLCT) - Lịch sử thế giới cho thấy, các nước lớn và sự tương tác giữa họ
luôn đóng vai trò chi phối, thậm chí mang tính quyết định đến xu thế phát triển của chính trị thế giới và sự định
hình trật tự quốc tế. Đối với các nước nhỏ, quan hệ với nước lớn và xử lý những vấn đề liên quan luôn là vấn đề hệ trọng.
Ngày nay, quan hệ nước lớn - nước nhỏ đã khác trước về tính chất, điều kiện và
bối cảnh quy định. Bài viết này tập trung phân tích: 1) tiêu chí nhận diện một
nước lớn trong thế giới hiện nay; 2) tính chất của mối quan hệ nước lớn - nước
nhỏ; 3) kinh nghiệm của Việt Nam trong ứng xử với các nước lớn.
1. Nhận diện nước lớn
Nước
lớn (cường quốc)
là khái niệm dùng để chỉ những
quốc gia có diện tích rộng, dân số đông và có nguồn lực
phát triển vượt trội so với nhiều nước khác. Đó là nước có tiềm lực, sức mạnh
và ảnh hưởng vượt trội về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế và văn hóa,
có khả năng tạo ảnh hưởng, chi phối và định hình chính sách và hành vi của các
quốc gia khác trên thế giới cũng như chi phối sự vận động của hệ thống quan hệ
quốc tế, của các xu thế quốc tế và việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu.
Hiện nay, không có một nhận thức thống nhất hay một định nghĩa chung về nước lớn. Việc phân định nước lớn - nước nhỏ phụ thuộc vào góc nhìn từ mỗi quốc gia dựa trên sự so sánh tương quan sức mạnh, vị thế và sự ảnh hưởng của quốc gia đó với các quốc gia khác. Theo đó, một quốc gia có thể là nhỏ trong mối quan hệ này nhưng lại được xem là lớn trong mối quan hệ với những nước khác và ngược lại(1). Thí dụ như: Canađa, Braxin và Ốtxtrâylia là nước lớn trên thế giới về mặt diện tích lãnh thổ và nguồn lực tài nguyên; Ấn Độ, Inđônêxia, Pakixtan là cường quốc dân số của thế giới. Tuy nhiên, sức mạnh tổng hợp của các quốc gia này chưa đạt tới vị thế của một cường quốc thế giới. Trên thực tế, trong việc phân định và đánh giá một nước là lớn hay nhỏ, yếu tố sức mạnh tổng hợp mà nổi bật là sức mạnh quân sự, kinh tế và khoa học - công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Hà Lan là một quốc gia nhỏ ở châu Âu, nhưng thế kỷ XV-XVI với sức mạnh vượt trội của mình, đã “bá quyền” cả thế giới với mệnh danh “Người đánh xe trên biển”. Nước Anh với diện tích chỉ hơn 200 nghìn km2 nhưng trong thế kỷ XIX được mệnh danh là “Đất nước mặt trời không bao giờ lặn”. Hiện nay, Pháp, Anh, Đức, Nhật Bản mặc dù về diện tích và dân số họ chỉ là những quốc gia trung bình của thế giới, nhưng với sức mạnh tổng hợp của mình đặc biệt là về kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự cũng như vị thế quốc tế, họ được xem là những nước lớn của thế giới. Cũng xét theo tiêu chí này, một số nước dù là nhỏ như Hàn Quốc hay Ixraen, thậm chí rất nhỏ về mặt diện tích và quy mô dân số như Xinhgapo và Qatar nhưng lại sở hữu sức mạnh kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự và tầm ảnh hưởng quốc tế đáng khâm phục.
VÌ SAO ĐẢNG TA LẤY CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀM NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG
TS. Cao Đức Thái
Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển năm
2011) (gọi tắt là Cương lĩnh 2011) của Đảng đã ghi: Đảng Cộng sản Việt Nam lấy
chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho hành động của mình. Điều đó hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với quá trình
phát triển của cách mạng Việt Nam và tiến trình lịch sử thế giới.
Trong các xã hội hiện đại, lý luận
về phát triển giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Trong thế kỷ XX, nhân loại đã
từng chứng kiến vai trò tích cực và tiêu cực của nhiều học thuyết. Chủ
nghĩa Mác – Lê-nin đã dẫn đến thành lập các đảng cộng sản, Cách mạng Tháng Mười
và nước Nga Xô-viết đã ra đời - nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới - mở
ra một thời đại mới cho nhân loại, khơi nguồn cho phong trào giải phóng dân tộc
trên thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa phát xít đã dẫn tới
Chiến tranh thế giới thứ Hai - một thảm họa lớn của nhân loại… Chủ nghĩa tự do
cũ và mới, mà Hoa Kỳ là tiêu biểu đã phát triển mạnh mẽ rồi rơi vào khủng
hoảng. CNXH dân chủ và “con đường thứ ba” đã và đang tồn tại ở các nước Bắc Âu,
Cộng hoà Liên bang Đức… với những thành quả và khó khăn thể hiện trong các cuộc
khủng hoảng chính trị - xã hội, khiến cho người ta phải tìm tòi những giải pháp
khác nhau cho sự phát triển đất nước.
Sau
khủng hoảng và sụp đổ của một bộ phận quan trọng trong hệ thống XHCN thế giới
(1989 - 1991), có học giả cho rằng CNTB là “Sự tột cùng của lịch sử”. Thế rồi
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ (năm 2007 - 2009) và
hiện nay phong trào “Chiếm phố Uôn” nổ ra từ nước Mỹ lan rộng ra các nước tư
bản phát triển đã cho người ta thấy CNTB sẽ không bao giờ có thể thay đổi bản
chất của một xã hội bất công, cho nên cần phải thay đổi. Xã hội đó không thể là
“sự tột cùng của lịch sử”.
Một
kinh nghiệm xương máu rút ra từ tiến trình cải tổ, cải cách của các nước XHCN
trong thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX là đã không phát triển được lý luận mác-xít
đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống. Đặc biệt là, các đảng cộng sản không đánh giá
đúng tầm quan trọng của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, đã
du nhập các quan điểm dân chủ, nhân quyền cực đoan của phương Tây, như: đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập… dẫn tới sự sụp đổ một bộ phận quan trọng của
hệ thống XHCN.


01-00.jpg)
02-00.jpg)
03-00.jpg)
04-00.jpg)
05-00.jpg)
06-00.jpg)
07-00.jpg)
08-00.jpg)



