Monday, June 5, 2023
Thursday, June 1, 2023
Lãnh đạo minh triết
Lãnh đạo minh triết / John Mackey, Steve Mclntosh, Carter phipps; Mai Chí Trung dịch. - Tp. Hồ Chí Minh : Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2023. - 324 tr.; 23 cm.
Cuốn sách Lãnh Đạo Minh Triết tái khẳng định triết lý kinh doanh của Mackey. Ông là minh chứng sống cho một nhà lãnh đạo có thể góp phần kiến tạo một xu hướng kinh doanh và phong cách lãnh đạo vừa tạo ra giá trị cho doanh nghiệp, vừa mang lại tác động tích cực lên môi trường và xã hội.
1. Lãnh đạo 2. Minh triết
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn: Sách chuyên khảo / Lê Văn Cường, Nguyễn Mậu Tuân: - H. : Lý luận chính trị, 2022. - 252 tr ; 21 cm.
Trình bày chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng hiện nay; một số quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng từ sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng
1. Công tác kiểm tra 2. Giám sát 3. Kỷ luật Đảng
Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay / Đinh Ngọc Quý (ch.b), Bùi Đình Phong, Đỗ Xuân Tuất, Nguyễn Hữu Lập,… - H. : Lý luận chính trị, 2022. - 248 tr. ; 21 cm.
Nội dung cuốn sách gồm 3 chương:
Chương 1: Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh
Chương 2: Thực trạng phong cách lãnh đạo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý hiện nay theo phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh
Chương 3: Xây dựng phong cách lãnh đạo cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo hiện nay theo phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh
1. Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh 2. Sự vận dụng 3. Sự nghiệp đổi mới 4. Hiện nay
Xây dựng mô hình tổ chức đảng ở cơ quan chính quyền địa phương của Việt Nam hiện nay
Xây dựng mô hình tổ chức đảng ở cơ quan chính quyền địa phương của Việt Nam hiện nay: Sách chuyên khảo / Đinh Ngọc Giang, Lê Thị Minh Hà, Hà Văn Luyến (đồng ch.b), Trần Khắc Việt, Ngô Huy Tiếp, Lâm Quốc Tuấn,… - H. : Lý luận chính trị, 2022. - 216 tr. ; 21 cm.
Nội dung cuốn sách gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình tổ chức Đảng ở cơ quan chính quyền địa phương của Việt Nam
Chương 2: Mô hình và xây dựng mô hình tổ chức đảng ở cơ quan chính quyền địa phương của Việt Nam: Thực trạng, nguyên nhân, vấn đề đặt ra
Chương 3: Đề xuất mục tiêu, quan điểm và giải pháp xây dựng mô hình tổ chức đảng ở cơ quan chính quyền địa phương của Việt Nam đáp cứng yêu cầu mới
1. Đảng Cộng sản Việt Nam 2. Xây dựng mô hình 3. Chính quyền địa phương 4. Việt Nam hiện nay 5. Sách chuyên khảo
50 năm Hiệp định Paris - Mốc son lịch sử
50 năm Hiệp định Paris - Mốc son lịch sử / Trần Đức Cường, Phạm Minh Tuấn (ch.b), Nguyễn Thị Bình, Vũ Khoan, Nguyễn Văn Nhật,… - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 383 tr. ; 24 cm.
Nội dung cuốn sách gồm 2 phần:
Phần thứ nhất: Hiệp định Paris - Bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trình bày quá trình phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, song hành với đó là những bước đi của Việt Nam tiến đến Hội nghị Paris với điểm nhấn nổi bật là việc ký kết Hiệp định thông qua việc lựa chọn và giới thiệu các tư liệu ảnh tiêu biểu từ Thông tấn xã Việt Nam, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Bảo tàng Hồ Chí Minh,...
Phần thứ hai: Những bài học lớn từ Hiệp định Paris, giới thiệu một số bài trả lời phỏng vấn, bài viết tiêu biểu của các nhân chứng lịch sử, nhà khoa học đánh giá về nội dung, giá trị và ý nghĩa của Hội Nhị Paris và Hiệp định Paris đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời, nhiều bài học sâu sắc được rút ra từ quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đã tiếp sức cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hôm nay thêm vững tin bước vào giai đoạn phát triển mới với những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức đan xen
1. Lịch sử 2. Việt Nam 3. 50 năm 4. Hiệp định Paris
CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ - QUÂN SỰ THẾ GIỚI NĂM 2017
Ngô Quyền
Sau một năm nhìn lại, bên cạnh gam màu sáng, cục diện chính trị - quân sự thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp và khó dự đoán. Các nước lớn tiến hành điều chỉnh và cạnh tranh chiến lược gay gắt; trong đó, nước Mỹ đang đứng trước sự lựa chọn có tính bước ngoặt, tác động nhiều chiều đến tình hình quốc tế.
Sự lựa
chọn của nước Mỹ
Theo giới phân tích quốc tế, cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm
2016 không chỉ đơn thuần là sự chuyển giao quyền lực giữa đảng Dân chủ và Cộng hòa, mà còn là
sự lựa chọn giữa hai con đường phát triển khác nhau của nước Mỹ. Năm 2017 là năm
đầu tiên Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm dần hiện thực hóa các cam kết tranh cử:
lựa chọn con đường chủ nghĩa tư bản công nghiệp và trật tự thế giới đa cực.
Với khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết”, Tổng thống Đô-nan Trăm đã đưa ra nhiều quyết định “gây sốc” đối với chính giới Mỹ và cộng đồng quốc tế. Đó là quyết định rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, ngày 23-01-2017; tuyên bố rút khỏi Hiệp định Pa-ri về biến đổi khí hậu năm 2015; đe dọa xem xét lại Thỏa thuận về Chương trình hạt nhân của Tê-hê-ran giữa I-ran và Nhóm P5+1. Đây là những động thái đầy toan tính của Mỹ, tác động không nhỏ tới toàn bộ cục diện chính trị - quân sự trên từng khu vực và toàn thế giới. Với việc từ bỏ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, Tổng thống Đô-nan Trăm đã đặt dấu chấm hết cho chiến lược “tái cân bằng” ở châu Á - Thái Bình Dương của người tiền nhiệm. Đối với Hiệp định Pa-ri về biến đổi khí hậu, sự đoạn tuyệt của Mỹ đã khiến cộng đồng quốc tế, trong đó có cả các đồng minh thân cận của Mỹ lên tiếng phản đối. Không những thế, ngày 02-11-2017, đại diện của Mỹ tại Liên hợp quốc tiếp tục bỏ phiếu chống lại Nghị quyết lên án cấm vận Cu-ba do Đại hội đồng Liên hợp quốc đề xuất, trong khi có tới 191/193 nước bỏ phiếu thuận. Các nhà quan sát cho rằng, những quyết định trên của Oa-sinh-tơn càng khiến Mỹ bị cô lập với thế giới và sẽ kéo theo những hậu quả tiêu cực đối với hòa bình, an ninh và hợp tác quốc tế.
Quan hệ giữa các nước lớn - sự đan xen giữa cạnh tranh và thỏa hiệp, rất khó đoán định
Những quan điểm cơ bản thể hiện tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Đại tá, TS. Lê Hồng Điệp
TCCSĐT -
Nghiên cứu tư duy mới của Đảng ta về những quan điểm cơ bản về bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa chính là việc vận dụng sáng tạo và phát triển chủ
nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện và hoàn cảnh mới nhằm:
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tăng cường tổng kết
thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo chính xác và kịp thời, xử lý hiệu quả các
vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, giải quyết tốt các mối quan hệ phản ánh
quy luật đổi mới và phát triển ở nước ta, tất cả vì mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Kể từ Đại
hội đại biểu Đảng toàn quốc
lần thứ VI, tư duy mới của Đảng
ta về bảo vệ Tổ quốc đã hình thành và được phát triển qua các
kỳ đại hội sau này, tập trung vào các vấn đề cơ bản là: Độc lập
dân tộc; Chủ quyền quốc gia; Bảo vệ Tổ quốc gắn với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; Đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa
- hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, củng cố quốc phòng - an ninh gắn với xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Kế thừa tư duy mới về quan điểm xây dựng, củng cố quốc phòng - an ninh của các kỳ Đại hội trước và yêu cầu của thực tiễn đặt ra, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội. Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng”.
Đây là một trong những nội dung rất
quan trọng trong Báo cáo chính trị của Đảng tại Đại hội. Sự nghiệp đổi mới đất
nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong 30 năm qua (1986-2016) đã đạt được
những thành tựu rất to lớn. Theo đó, nền kinh tế vượt qua được nhiều khó khăn,
thách thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm
phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý… An sinh xã
hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được cải thiện; chính trị xã hội ổn định;
quốc phòng, an ninh được tăng cường. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp
tục được nâng cao, chúng ta đang vững bước trên con đường đổi mới!
Quan điểm cơ bản thể hiện sự phát triển tư duy lý luận, nhận thức thực tiễn của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Tuesday, May 9, 2023
Không thể xuyên tạc và phủ nhận chủ trương hòa hợp dân tộc
Chiến tranh đã lùi xa 48 năm và hành trình cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng đã được gần nửa thế kỷ. Trong hành trình đó, vấn đề hòa hợp dân tộc luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, thực hiện nhất quán; được nhân dân Việt Nam, bạn bè quốc tế công nhận. Đó là sự thật lịch sử không thể xuyên tạc và phủ nhận.
Ảnh minh hoạ.NƯỚC VIỆT NAM LÀ MỘT, DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào mùa Xuân 1975 đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc: Cả nước đồng lòng, chung sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và từng bước phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng... và đi lên CNXH. Hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ luôn khát vọng thiêng liêng, chính đáng của bất cứ quốc gia - dân tộc nào trên thế giới. Từ sau ngày 30/4/1975, toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã hiện thực hóa được khát vọng hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất. Đó là một sự thật lịch sử, hiển nhiên và khách quan.
Tuy nhiên, mỗi dịp lễ, Tết, Xuân về, nhất là đến dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975) thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội lại “ra rả” những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc về khát vọng hòa bình, thống nhất cùng những nỗ lực, quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Cùng với đó là những “lý luận” ảo tưởng, hão huyền về “khôi phục” một chế độ đã qua hòng bôi đen sự thật, phá hoại khối đại đoàn kết, phá hoại chủ trương hòa hợp dân tộc. Trước những thủ đoạn, chiêu trò đó, chúng ta cần tiếp tục khẳng định:
Một là, nước Việt Nam là một; dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn. Núi có thể mòn. Song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Vì thế, dù với toan tính “chia để trị” hay bất cứ âm mưu phân hóa, chia rẽ nào của các thế lực xâm lược, thì mỗi người dân đất Việt cũng đều là “con Rồng cháu Tiên” - chung một Quốc Tổ Hùng Vương. Ngày Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức người Việt: “Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi”(1)... Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tiếp tục truyền thống và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 22/SL-CTN ngày 18/2/1946 về những ngày nghỉ Tết, kỷ niệm lịch sử và tôn giáo; trong đó, quy định công sở, viên chức được nghỉ ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch hằng năm.
Thursday, May 4, 2023
Phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp Trung ương - Thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
Phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp Trung ương - Thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng / Trần văn Tĩnh. -H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 240 tr. ; 24 cm.
Nội dung cuốn sách tập trung phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và đặc điểm, nội dung phương thức kiểm tra, giám sát của Đảng đối với phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp Trung ương; đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế, khuyết điểm, bất cập về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp Trung ương thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng... Trên cơ sở đó, đề xuất các nhóm giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp Trung ương thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
1. Phòng chống tham nhũng 2. Tiêu cực 3. Cơ quan hành chính nhà nước 4. Cấp Trung ương
Mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, đảm bảo kỷ cương xã hội
Mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, đảm bảo kỷ cương xã hội: Sách chuyên khảo / Vũ Trọng Lâm (ch.b.), Hoàng Chí bảo, Đào Trí Úc, Hoàng Thị Kim Quế… - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 399 tr. ; 21 cm.
Nội dung cuốn sách trình bày hệ thống các vấn đề lý luận lý luận về dân chủ và thực hành dân chủ, pháp chế và tăng cường pháp chế, mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội; đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở nước ta trong thời gian qua, từ đó, làm rõ các thành tựu đạt được, các hạn chế, yếu kém cùng nguyên nhân và các vấn đề đặt ra. Trên cơ sở đó, cuốn sách đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở nước ta trong thời gian tới
1. Thực hành dân chủ 2. Tăng cường pháp chế 3. Đảm bảo kỷ cương xã hội 4. Sách chuyên khảo
Chiến lược thúc đẩy cách mạng công nghiệp 4.0 ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan - Hàm ý chính sách cho Việt Nam
Chiến lược thúc đẩy cách mạng công nghiệp 4.0 ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan - Hàm ý chính sách cho Việt Nam: Sách chuyên khảo / Võ Hải Thanh (ch.b.), Hoàng Minh Hằng, Phan Thị Diễm Huyền…. - H. : Khoa học xã hội, 2023. - 275 tr.; 24 cm.
rình bày cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến Cách mạng công nghiệp 4.0; chiến lược thúc đẩy Cách mạng công nghiệp 4.0 ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan; nêu một số kinh nghiệm xây dựng, thực hiện chiến lược thúc đẩy Cách mạng công nghiệp 4.0 và hàm ý chính sách cho Việt Nam
1. Chiến lược thúc đẩy 2. Cách mạng công nghiệp 4.0 3. Nhật Bản 4. Hàn Quốc 5. Đài Loan
Phong cách nêu gương Hồ Chí Minh
Phong cách nêu gương Hồ Chí Minh / Vũ Kim Yến (sưu tầm, biên soạn). - H. : Hà Nội, 2023. - 264 tr.; 21 cm.
Bao gồm các bài viết về chủ đề học tập phong cách Hồ Chí Minh như: Bác Hồ về nước, cái vòng bạc, gặp Bác Hồ ở Trung Quốc, ngăn nắp và trật tự, những gì còn dùng được không nên phí phạm...
1. Phong cách nêu gương 2. Hồ Chí Minh
5 tác phẩm bảo vật quốc gia: Đường cách mệnh, Nhật ký trong tù, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Di chúc
5 tác phẩm bảo vật quốc gia: Đường cách mệnh, Nhật ký trong tù, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Di chúc / Hồ Chí Minh. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 284 tr.; 21 cm.
Giới thiệu toàn văn 5 tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận là bảo vật quốc gia, được tuyển chọn từ bộ sách "Hồ Chí Minh toàn tập" gồm: Đường cách mệnh (1927), Ngục trung nhật ký (1942-1943), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước (1966), Di chúc (được viết từ ngày 10/5/1965 đến ngày 19/5/1969).
1. 5 tác phẩm 2. Bảo vật quốc gia 3. Đường cách mệnh 4. Nhật ký trong tù 5. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 6. Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước 7. Di chúc 8. Hồ Chí Minh
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
Nguyễn Hoàng Giáp
TCCS
- Chủ nghĩa tư bản thực hiện được một bước phát triển thì cũng tạo ra những gì
không dung được với chính nó. Từ góc nhìn này, chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa
thực sự là "chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa tư bản", là "chủ
nghĩa tư bản hướng tới hậu tư bản, phi tư bản".
Chủ
nghĩa tư bản độc quyền quốc tế
Từ
đầu thập niên 80 thế kỷ XX đến nay, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của xu thế
toàn cầu hóa thúc đẩy chủ nghĩa tư bản hiện đại chuyển sang giai đoạn độc quyền
quốc tế (độc quyền xuyên quốc gia). Nó triệt để tận dụng ưu thế về thực lực mọi
mặt nhằm bành trướng thế lực trên quy mô toàn cầu với mục đích cố hữu là thu
lợi nhuận độc quyền cao. Thực tế cho thấy, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi
nhuận trong các nước tư bản phát triển là 300%, cá biệt có những nơi lên tới
700% - 800%. Do đó về thực chất, "nhà nước phúc lợi", "chủ nghĩa
tư bản nhân dân", "chủ nghĩa tư bản xã hội"... không phải là
biện pháp đổi mới triệt để chất lượng cuộc sống người lao động, xóa bỏ nghèo
khổ, mà là để duy trì sự nghèo khổ trong trật tự. Xã hội tư bản hiện đại luôn
có từ 15% - 20% dân cư nghèo khổ, cho dù chính phủ luôn tuyên bố "tấn
công" vào nghèo đói. Đây là một mô hình cơ cấu tự nhiên của xã hội tư bản
chứ không phải là điều nhất thời. Chương trình phúc lợi không phải để giảm
nghèo túng mà để chịu được cảnh nghèo túng(1).
Trào
lưu chủ nghĩa tự do mới ra đời (các đại diện tiêu biểu là R. Ri-gân và M.
Thát-chơ), trở thành căn cứ lý luận để chủ nghĩa tư bản (CNTB) lũng đoạn quốc
tế bành trướng ra toàn cầu. Sự bùng nổ mạng lưới các công ty xuyên quốc gia và
internet làm cho thị trường toàn cầu trở thành công xưởng toàn cầu, tạo cơ sở
vật chất to lớn để CNTB thực hiện tham vọng lũng đoạn, khống chế toàn cầu. Chủ
trương cơ bản của chủ nghĩa tự do mới là tư nhân hóa mạnh mẽ tất cả những gì tư
nhân làm có lợi hơn là chính phủ làm; giảm thuế, tài trợ kích thích tư nhân đầu
tư; giảm mạnh chi tiêu phúc lợi xã hội, tạo điều kiện tăng lợi nhuận cho giới
tư nhân kinh doanh. Qua đó, đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ mới, tạo ra sự
nhảy vọt của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức ở
các nước tư bản phát triển. Sự bành trướng của CNTB độc quyền quốc tế ra phạm
vi toàn cầu càng được đẩy mạnh sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan vỡ. Khái
niệm chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa xuất hiện để chỉ sự phát triển CNTB trong
điều kiện toàn cầu hóa và nó được biểu hiện trên các mặt chủ yếu sau:
Thứ
nhất, làn
sóng tư bản hóa lan khắp toàn cầu, đẩy chủ nghĩa tư bản chuyển nhanh sang giai
đoạn lũng đoạn quốc tế và toàn cầu.
Thứ
hai, kinh tế thị trường
hóa lan ra toàn cầu, các nước phương Tây ra sức hoàn thiện cơ chế kinh tế thị
trường, các nước khác đua nhau xác lập nền kinh tế thị trường.
Thứ
ba, trong tiến trình
tự do hóa kinh tế thì tự do hóa tài chính được chú ý nhất, trở thành đòn bẩy để
tư bản lũng đoạn quốc tế khống chế kinh tế toàn cầu. Tự do hóa về tài chính bao
gồm những vấn đề như: thực hiện tự do hóa hoàn toàn về lãi suất, đa nguyên hóa
nghiệp vụ ngân hàng, mở cửa thị trường tài chính đối ngoại, tự do hóa giao dịch
ngoại hối...
Thứ
tư, nhất thể hóa toàn
cầu nhằm thống nhất toàn cầu của tư bản về thể chế kinh tế, chính trị và văn
hóa, mà thực chất có người coi đó là Mỹ hóa và phương Tây hóa.
Các chủ trương của chủ nghĩa tự do mới được thực hiện mạnh mẽ đem lại một bước phát triển mới trong CNTB, song những mâu thuẫn vốn có của nó lại bộc lộ trầm trọng thêm. Chẳng hạn, chi phí của Chính phủ Mỹ không giảm mà tăng lên nhiều, R. Ri-gân chưa lên cầm quyền thì Nhà nước Mỹ nợ mấy trăm tỉ USD, nhưng kết thúc nhiệm kỳ thì nợ hơn 4 nghìn tỉ. Ngân sách quân sự từ 192 tỉ năm 1981 tăng lên 370 tỉ năm 1988, đến thời G.W Bu-sơ (con) tăng lên gần 600 tỉ USD năm 2008, cùng với việc Mỹ sa lầy trong cuộc chiến ở I-rắc, Áp-ga-ni-xtan... Điều này đã làm "méo mó" nền kinh tế và đời sống xã hội Mỹ. Giảm phúc lợi công cộng đi đôi với tăng đóng góp của người lao động, gây ra bất bình lớn trong xã hội. Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính trầm trọng bắt đầu từ nước Mỹ (từ tháng 8-2007) lan rộng ra toàn cầu trong mấy năm qua làm nổi rõ những bất ổn trong cấu trúc kinh tế tư bản và những nan giải mà các định chế kinh tế toàn cầu đang phải đối mặt. Nó cho thấy sự phá sản của chủ nghĩa tự do mới, khi quá nhấn mạnh "bàn tay vô hình, vạn năng" điều tiết của thị trường tự do, đồng thời phản ánh sự bất cập không chỉ trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, mà cả lĩnh vực sản xuất của CNTB. Hầu như tất cả các nước tư bản phát triển từ năm 2008 đến nay đều quay trở lại nhấn mạnh vai trò điều tiết của nhà nước, tung ra hàng loạt gói kích cầu rất lớn để giải cứu, vực dậy nền kinh tế. Điều đó thực chất không thể nào khác là cứu nguy cho giới chủ tư bản, bằng cách chủ yếu dùng ngân sách từ nguồn thu thuế của người dân lao động. Đây là điểm thuộc bản chất không thay đổi của nhà nước trong CNTB nói chung, CNTB toàn cầu hóa nói riêng.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giữa các dân tộc trong thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Đỗ Thị Thu Hiền
TCCSĐT - Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc. Việc thực hiện
bình đẳng giữa các dân tộc là một đòi hỏi bức thiết trong tiến trình lịch sử
dựng nước và giữ nước, là nhân tố quan trọng đảm bảo cho xã hội ổn định và phát
triển. Sinh thời, quyền bình đẳng dân tộc ở nước ta đã được Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định, đến nay, quyền ấy được luật pháp ghi nhận và đã từng bước được
thực hiện.
Khái quát tình hình quốc gia đa dân tộc Việt Nam
Cộng đồng dân
tộc Việt Nam hiện nay là kết quả của một quá trình hình thành và phát triển lâu
dài trong lịch sử, bao gồm 54 dân tộc. Tính đa dạng của các dân tộc luôn gắn
với tính thống nhất của các cộng đồng với những đặc điểm chủ yếu: Tỷ lệ dân số
của mỗi dân tộc không đồng đều. Dân tộc Kinh chiếm 86,2% dân số cả nước, đóng
vai trò chủ lực và đi đầu trong quá trình dựng nước và giữ nước, trong việc
hình thành, củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam; 53 dân tộc thiểu
số chỉ chiếm 13,8% dân số, tỷ lệ số dân của 53 dân tộc cũng không đều, nhiều
dân tộc có số dân từ 1 đến dưới 2 triệu người (Tày, Thái, Mường, Mông, Khmer),
có dân tộc chỉ 100.000 đến dưới 1 triệu người (Nùng, Hoa, Dao…), có dân tộc chỉ
từ 1.000 đến 10.000 người (La Hủ, La Ha, Pà Thẻn…), thậm chí có dân tộc chỉ
dưới 1.000 người (Si La, Pu Péo, Rơ Mâm…)(1).
Các dân tộc cư
trú xen kẽ, người Kinh sống ở khắp cả nước, chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và
trung du. Các dân tộc thiểu số cư trú không riêng biệt mà xen kẽ chủ yếu trên
các vùng núi, cao nguyên, biên giới và những vị trí quan trọng về kinh tế, an
ninh, quốc phòng. Hiện nay, không có tỉnh, huyện nào chỉ có một dân tộc cư trú.
Nhiều tỉnh có trên 20 dân tộc cư trú: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang… Riêng Đắc Lắc
có 44 dân tộc sinh sống.
Tuy các dân tộc
có số dân, sự phát triển kinh tế-xã hội không đồng đều, nhưng không có tình
trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hóa, thôn tính các dân tộc thiểu số, dân
tộc thiểu số chống lại đa số. Tình trạng cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở nước
ta, một mặt là điều kiện để tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết, xích lại
gần nhau, mặt khác, cần đề phòng trường hợp có thể do chưa thật hiểu nhau, khác
về phong tục tập quán… làm xuất hiện mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích, nhất là
lợi ích kinh tế, dẫn tới va chạm giữa các dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng giữa các dân tộc
Tư tưởng này
của Người không chỉ bắt nguồn từ sự hiểu biết sâu sắc về nền văn hóa, từ cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, mà quan trọng hơn, là từ lý luận của Chủ nghĩa Mác -
Lênin về vấn đề dân tộc và bình đẳng dân tộc. Vận dụng, phát triển sáng tạo
quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền bình đẳng dân tộc vào điều kiện
Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đề cập đến quyền bình đẳng dân tộc:
Quyền bình đẳng giữa các quốc gia dân tộc: Sinh ra trong một dân tộc thuộc địa, mất chủ quyền và chứng kiến cảnh nhân dân ta lầm than dưới ách áp bức của các thế lực phong kiến, thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc vấn đề phải giành lại chủ quyền quốc gia và sự bình đẳng của dân tộc. Đây chính là động lực để người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước (1911). Ngày 18-6-1919, thay mặt Hội những người yêu nước tại Pháp, Người đã gửi tới Hội nghị Véc xây bản yêu sách của nhân dân An Nam đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của các dân tộc Việt Nam. Trong hoàn cảnh mất nước, muồn thoát khỏi xiềng xích, nô lệ, không có con đường nào khác, dân tộc ta phải vùng lên đấu tranh giành lại độc lập, tự do, bình đẳng dân tộc.
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
PGS, TS. Phạm Duy Đức
(LLCT) - Mối quan hệ giữa phát triển
kinh tế và phát triển văn hóa là một trong những mối quan hệ rất cơ bản phản
ánh trình độ và chất lượng của sự phát triển bền vững đất nước. Bài viết góp
phần khẳng định tính thống nhất và hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát
triển văn hóa là cơ sở bảo đảm cho sự phát triển bền vững đất nước trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội
nhập quốc tế hiện nay. Đồng thời, đặt ra một số vấn đề về mối quan hệ giữa phát
triển kinh tế và phát triển văn hóa ở nước ta hiện nay, đưa ra những gợi ý giải
quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, đặc biệt là chú
trọng vai trò của chủ thể trách nhiệm trong việc xử lý mối quan hệ này.
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay, việc phát triển bền vững đất nước phụ thuộc vào việc giải quyết hài hòa và hợp lý các mối quan hệ lớn mà Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung và phát triển năm 2011) đã nêu là nhiệm vụ quan trọng. Trong đó có mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Nhận thức toàn diện và sâu sắc về mối quan hệ này trong xây dựng và phát triển đất nước hiện nay là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn.
1. Quan niệm về phát triển kinh tế và
phát triển văn hóa
Phát triển kinh tếlà quá trình lớn
lên nhiều mặt của nền kinh tế, bao gồm: tăng trưởng GDP; hoàn chỉnh cơ cấu, thể
chế kinh tế, nâng cao thu nhập trên đầu người và chất lượng cuộc sống. Phát
triển kinh tế hiện nay được nhấn mạnh là phát triển bền vững nền kinh tế của
mỗi quốc gia. Nội dung cơ bản của phát triển kinh tế gồm:
- Tăng trưởng kinh tế là điều kiện
đầu tiên, bao gồm: gia tăng về quy mô sản lượng và năng suất trong nền kinh tế,
diễn ra trong thời gian tương đối dài và ổn định;
- Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế,
thể hiện qua tỷ trọng giữa các ngành, các thành phần kinh tế, các vùng, miền
theo hướng tiến bộ, hợp lý hơn... Trong đó, tỷ trọng của vùng nông thôn giảm
tương đối so với tỷ trọng đô thị, tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng;
- Thu nhập trên đầu người ổn
định và nâng cao hơn, đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện;
- Trình độ tư duy khoa học của xã hội
phát triển;
- Nền kinh tế mở và năng động, giàu
khả năng thích ứng;
- Là
một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại quyết định.
Mục tiêu của phát triển bền vững là:
đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về văn hóa tinh thần; sự bình đẳng
của các công dân và sự đồng thuận của xã hội; sự hài hòa giữa con người và tự
nhiên. Ba trụ cột của phát triển bền vững là: phát triển bền vững về kinh tế,
xã hội và môi trường.
Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế không chỉ bao hàm tăng thu nhập bình quân đầu người mà phải hướng tới phát triển bền vững của cả hiện tại và tương lai, chú trọng cả ba nhân tố: kinh tế, xã hội và môi trường; duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, tăng thu nhập phải gắn với nâng cao chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi và xóa đói giảm nghèo. Tăng trưởng không nhất thiết phải đạt tốc độ cao mà cần ở mức độ hợp lý, bền vững.
Monday, April 3, 2023
THỂ CHẾ HÓA MỐI QUAN HỆ “ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ
Nguyễn Bá Dương
QĐND - Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là phương thức vận hành của hệ thống chính
trị ở nước ta. Lần đầu tiên, tại Đại hội VI (1986), Đảng ta khẳng định: "Đảng
lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn
bộ xã hội".
Kể từ đó đến nay, sự
vận hành của cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ ngày càng
được cụ thể hóa và hoạt động hiệu quả, thể hiện rõ tính ưu việt mối quan hệ Đảng-Nhà
nước-Nhân dân trong chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Kế thừa
kinh nghiệm và kết quả 30 năm thực hiện đường lối đổi mới; trước yêu cầu nhiệm
vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Văn kiện và Nghị quyết Đại hội
XII của Đảng khẳng định: Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, nhất là nội dung “nhân dân làm chủ” và
phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát"; coi
đó là một trong những phương thức hữu hiệu để đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng
vào cuộc sống.
Trước hết, về Đảng
lãnh đạo: Nhất quán với
quan điểm, chủ trương, đường lối mà Đảng ta đã nêu ra qua các kỳ đại hội, tại Đại
hội XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Đảng lãnh đạo là yếu tố tiên quyết bảo đảm
sự vận hành của cơ chế, làm cho cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân
làm chủ đạt hiệu quả, thực sự đi vào cuộc sống. Sự khẳng định vai trò lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội và cách mạng Việt Nam là vấn đề có tính
nguyên tắc. Đây là quy luật khách quan, không tự nhiên mà có và không phải cứ tự
nhận mà được. Bởi lẽ, sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam đã được
nhân dân thừa nhận từ sự kiểm nghiệm của thực tiễn lịch sử đấu tranh giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; đem lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Ảnh minh họa /
qdnd.vn
Để Đảng ta hoàn
thành sứ mệnh lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đáp ứng sự kỳ vọng, mong muốn của
nhân dân, Đảng phải “đoàn kết, đổi mới, dân chủ, trí tuệ, kỷ cương”, có đường lối
lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt; có biện pháp nhân lên sức mạnh nội sinh, phát
huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thời đại; tạo mọi
điều kiện thuận lợi để nhân dân làm chủ xã hội và phát huy tốt vai trò quản lý
của Nhà nước ngay từng địa phương, cơ sở. Cùng với đó, Đảng phải đẩy mạnh đấu
tranh phòng, chống nguy cơ thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ; chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn
biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Không để đất nước bị động, bất ngờ. Điều
đó chỉ có thể thực hiện tốt khi cơ chế vận hành: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản
lý, nhân dân làm chủ được tiếp tục phát huy cao nhất; trong đó, Đảng phải thật
sự là nhân tố lãnh đạo có trí tuệ, là đạo đức, là văn minh. Đại hội XII của
Đảng nêu rõ nhiệm vụ và giải pháp trên 15 vấn đề lớn, trong đó “đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng” được xác định là: “Tiếp tục cụ thể hóa phương thức
lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp
bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Quy định rõ hơn Đảng phục vụ
nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân về những quyết định của mình”.
Thứ hai, về Nhà nước
quản lý: Đây là yếu tố
quyết định trực tiếp sự thành công, tính hiệu quả trong vận hành cơ chế. Đại
hội XII chỉ rõ: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam; một mặt, Đảng đề cao vị
trí, vai trò tối thượng của Hiến pháp, pháp luật đối với mọi mặt của đời sống
xã hội. Mặt khác, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội
thông qua cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, bởi nó được thể chế hóa
qua hoạt động của Nhà nước; đặc biệt là thông qua công tác tổ chức cán bộ, Đảng
thống nhất lãnh đạo, quản lý công tác này của cả hệ thống chính trị, trong đó
chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và
làm cho bộ máy Nhà nước hoạt động có hiệu quả nhất. Điều đó là hoàn toàn phù hợp
với điều kiện nước ta, được khẳng định trong Điều lệ Đảng và hiến định trong Hiến
pháp năm 2013. Bởi lẽ, Đảng ta là đảng cầm quyền, là hạt nhân lãnh đạo của hệ
thống chính trị. Khâu then chốt có ý nghĩa quyết định làm cho cơ chế Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ vận hành thông suốt, có hiệu quả là Đảng
phải thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức và đạo đức, gắn
bó máu thịt với nhân dân vì nhân dân là yếu tố trung tâm của mọi quyền lực, là
cội nguồn sức mạnh, bí quyết của mọi thành công. Vì vậy, mọi biểu hiện xa dân,
coi thường dân, ức hiếp dân, gây phiền phức cho dân... đều làm cho Đảng tự suy
yếu, lỏng lẻo, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ bị phá
vỡ.
Chúng ta ý thức sâu
sắc rằng, Nhà nước mạnh thì Đảng cầm quyền mới mạnh; Nhà nước vững mạnh thì quyền
làm chủ của nhân dân mới được bảo đảm và phát huy cao nhất. Nhà nước và hoạt động
của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở ngày càng nhận được sự ủng hộ của mọi tầng
lớp nhân dân thì hiệu quả hoạt động của Nhà nước ngày càng cao, xã hội càng dân
chủ; mục tiêu, lý tưởng của Đảng mới được thực hiện. Vì vậy, để tiếp tục hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Văn kiện
Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số
chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện”. Đây là một trong những giải pháp nhằm thực
hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân ngay từ địa phương.
Thứ ba, về nhân dân
làm chủ: Đây là
yếu tố trung tâm của cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Tầm
quan trọng đặc biệt của yếu tố này biểu hiện ở chỗ: Quyền lực của Đảng và Nhà
nước đều từ quyền lực của nhân dân. Trong lịch sử Việt Nam, ông cha ta luôn đề
cao và đặt lên hàng đầu vai trò của nhân dân trong cấu tạo quyền lực nhà nước
và quyền lực xã hội. Đảng ta ra đời, tồn tại, phát triển không vì mục đích
tự thân mà vì hạnh phúc của nhân dân. Điều này được thể hiện nhất quán hơn 86
năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, từ quan điểm lý luận đến thực tiễn cuộc sống.
Vì vậy, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội
tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Mục đích duy nhất của Đảng ta là đấu
tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước giàu mạnh,
phồn vinh, đồng bào được sống trong tự do, ấm no, hạnh phúc. Nhờ vậy, Đảng và
Nhà nước ta luôn phát huy được sức mạnh của nhân dân để tiến hành đấu tranh
giành và giữ vững độc lập, tự do và tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, trong thực tế, có lúc, có nơi vai trò làm chủ của nhân dân vẫn còn mờ nhạt. Ở một số nơi, quyền làm chủ của nhân dân vẫn bị vi phạm... Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ, có lúc, có nơi chưa phát huy được vai trò, sức mạnh của nhân dân” và “Quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm. Có lúc, có nơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế, hoặc mang tính hình thức”. Đây chính là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta cần phải nghiên cứu, giải quyết, nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò làm chủ của nhân dân trong thời kỳ mới.
Thiết kế tổ chức
Thiết kế tổ chức / Richard M.Burton, Borge Obel Dorthe Dojbak Hakonsson; Mai Chí Trung dịch. - Tp. Hồ Chí Minh : Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2022. - 428 tr. ; 23 cm.
Nội dung cuốn sách trình bày đầy đủ về các khía cạnh chính của thiết kế tổ chức, bao gồm mục tiêu, chiến lược, quy trình, con người, sự phối hợp, kiểm soát và đãi ngộ. Đi theo mô hình kim cương (diamond model) mới mẻ và đã được kiểm chứng toàn diện trong thực tiễn, cuốn sách dẫn dắt bạn đọc qua một hệ phương pháp tích hợp dành cho việc đánh giá và hoạch định tổ chức. Nó bao gồm một chương mới về dự án quản lý sự thay đổi trong tổ chức ở một cấp độ thiết thực, những nghiên cứu tình huống mới, thảo luận mở rộng về các hình thái tổ chức mới, thiết kế kiến trúc và các hệ thống kiến thức và các bước thiết thực cho việc tiến hành triển khai và thay đổi
1. Thiết kế 2. Tổ chức 3. Hành chính
Giáo trình tài chính học
Giáo trình tài chính học / Mai Thanh Quế, Lê Thị Diệu Huyền (đồng ch.b); Trịnh Chi Mai, Lê Thị Minh Ngọc, Mai Thị Thương Huyền,…. - H. : Lao động, 2022. - 440 tr. ; 21 cm.
Nội dung giáo trình nhằm mục tiêu hệ thống hóa những kiến thức tổng quan, cơ bản về tài chính, hệ thống tài chính, các kênh dẫn vốn, hoạt động tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế. Các vấn đề lý thuyết được diễn giải logic và các tình huống diễn ra trong thực tế được minh họa sâu sắc trong giáo trình.
Giáo trình được kết cấu thành 7 chương:
Chương 1: Tài chính và hệ thống tài chính
Chương 2: Hệ thống tài chính
Chương 3: Định chế tài chính trung gian
Chương 4: Tài chính công
Chương 5: Tài chính doanh nghiệp
Chương 6: Tài chính hộ gia đình
Chương 7: Dòng tài chính quốc tế
1. Giáo trình 2. Tài chính học


























