Monday, September 4, 2023

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG “NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA”

 

Trần Hữu Dũng

Từ giữa thập niên 80 đến nay, "phát triển bền vững" đã trở thành một ý niệm thời thượng. Nó là khẩu hiệu của hàng trăm tổ chức quốc tế, đề tài của mấy cuộc hội nghị, hội thảo toàn cầu, và một tiêu chuẩn quan trọng trong chiến lược phát triển của hầu hết mọi nước. Nguyên thủy, nó phản ánh sự quan ngại đối với một số quốc gia muốn tăng trưởng kinh tế vội vã, chọn cách phát triển thiển cận, miễn sao tăng thu nhập hiện tại cho nhanh, mà không để ý đến những nguy hại dài lâu của lối phát triển ấy đến môi trường sinh thái (tàn phá rừng, sa mạc hóa...), đến trữ lượng hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên (quặng mỏ, dầu hỏa, khí đốt).

Ý niệm "phát triển bền vững" nhấn mạnh đến khả năng phát triển kinh tế liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh vực khác, nhất là thiên nhiên. Phát triển mà làm hủy hoại môi trường là một phát triển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn kiệt (mà không lo trước đến ngày chúng cạn kiệt thì phải làm sao) là một phát triển không bền vững. Có người còn thêm rằng lối phát triển phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực (như FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy có nhiều rủi ro, không chắc chắn. Nói ngắn gọn, phát triển là không bền vững nếu nó thật "nóng" đó không thể giữ lâu, nền kinh tế chóng rơi vào khủng hoảng, hay ít nhất cũng chậm lại trong tương lai.

Không thể chối cãi: "phát triển bền vững" là một ý niệm hữu ích, đáng lưu tâm. Nhưng chỉ để ý đến liên hệ giữa môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, và tăng trưởng kinh tế là chưa khai thác hết sự quan trọng của ý niệm "bền vững". Ý niệm ấy sẽ hữu ích hơn nếu được áp dụng vào hai thành tố nòng cốt khác của phát triển, đó là văn hóa xã hội.

Để rõ ràng, cần khẳng định một điều ai cũng biết, là văn hoá và xã hội phải nằm trong tiêu đích phát triển: một quốc gia thật sự phát triển không chỉ là quốc gia trong đó người dân có thu nhập cao, mà còn là một quốc gia có đời sống văn hoá sung mãn, một quốc gia mà cộng đồng có những đức tính làm “ấm lòng” thành viên xã hội đó. Điều khó thấy hơn là chính sự phát triển kinh tế bền vững đòi hỏi sự bền vững trong phát triển xã hộivăn hoá, vì văn hoá và xã hội còn có vai trò thành tố của phát triển kinh tế.



Đánh giá mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam


PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA SỰ SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Vũ Văn Hà

TCCSĐT - Trong nền kinh tế thế giới tồn tại các mô hình kinh tế thị trường: kinh tế thị trường tự do, kinh tế thị trường xã hội, kinh tế thị trường hỗn hợp. Và trong mỗi quốc gia lại có những biến thể khác nhau xuất phát từ quan niệm, trình độ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tham khảo kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới, và từ thực tiễn phát triển Việt Nam, Đảng ta đã đề ra đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước phát triển mới về tư duy lý luận, một sự vận dụng độc lập, sáng tạo của Đảng ta.

Ảnh minh họa - Nguồn: tuyengiao.vn

1. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích sự phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB), C. Mác đã dự báo về xã hội tương lai trên những nét đại thể. C. Mác cho rằng, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất xã hội, dẫn đến phá vỡ trật tự, kết cấu của quan hệ sản xuất tư bản, mở đường, xác lập quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất để thúc đẩy một phương thức sản xuất mới ra đời.

C. Mác không chỉ dự báo chủ nghĩa xã hội ra đời từ xã hội tư bản đã phát triển cao, mà C. Mác cũng đã nói đến kiểu phát triển “rút ngắn” lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) qua trường hợp nước Nga. Theo C. Mác, khi vừa thoát thai từ xã hội tư bản, xã hội cộng sản không thể bước ngay vào giai đoạn cao, tức giai đoạn xã hội cộng sản “đã phát triển trên cơ sở của chính nó”. Nó phải trải qua giai đoạn đầu hay giai đoạn thấp của xã hội cộng sản, mà “về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó lọt lòng ra”(1). Xã hội cộng sản với tính cách chỉnh thể thì không có sẵn trong lòng xã hội tư bản, song những tiền đề, mầm mống, yếu tố, thì đã nảy sinh trong lòng xã hội tư bản.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ quyền quốc gia và quyền con người

 


Những vấn đề trong sự tham gia của cộng đồng dân cư vào quá trình ra quyết định của chính quyền cơ sở

 


Bảo đảm quyền con người, quyền công dân - tư tưởng xuyên suốt trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015


Kiểm soát quyền lực trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"


Friday, September 1, 2023

CỤC DIỆN THẾ GIỚI, KHU VỰC 2017 VÀ DỰ BÁO 2018

 

 Vũ Khanh

 

VNTN - Năm 2017 qua đi với xu thế chủ đạo là hòa bình, hợp tác và phát triển. Các nước tiến hành điều chỉnh chính sách theo hướng ưu tiên lợi ích quốc gia, dân tộc. Các nhân tố bất ổn cục bộ khu vực đang nổi lên và diễn biến rất phức tạp, tính bất ổn có xu hướng tăng. Sự thay đổi ban lãnh đạo và điều chỉnh chính sách đối ngoại của một số nước lớn là đặc điểm nổi bật năm 2017.

Thế giới

Mỹ: Chính sách “Nước Mỹ trên hết” của Tổng thống Donald Trump dẫn đến nhiều thay đổi trong chính sách đối nội đối ngoại của nước này; đồng thời tạo ra những hệ lụy, buộc Mỹ phải vừa triển khai vừa điều chỉnh, dẫn đến tính thiếu nhất quán trong chính sách triển khai thực hiện. Chính sách đối ngoại của chính quyền Donald Trump mang nhiều tính đột biến, ngoại lệ hơn nhằm phục vụ phương châm “đưa nước Mỹ đại trở lại”, tập trung thực hiện cam kết dân túy. tưởng lấy lợi ích kinh tế làm trung tâm chi phối mạnh chính sách đối ngoại tính toán địa chiến lược, trong đó xác định bạn thù và ưu tiên đối ngoại dẫn tới hệ quả là đối ngoại được triển khai theo phương thức giao dịch, thương lượng, coi trọng lợi ích, nhất là kinh tế; coi trọng song phương hơn đa phương. Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO); đặt yêu cầu cao trong đàm phán Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA)… Kết quả bước đầu là thúc đẩy kinh tế Mỹ tăng trưởng, tuy nhiên, việc Mỹ rút khỏi TPP đòn đánh mạnh vào các nỗ lực hợp tác thương mại đa phương, quan hệ của Mỹ với các đồng minh, cũng như làm giảm uy tín của Mỹ đối với khu vực.

Donald Trump chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại “hòa bình thông qua sức mạnh”, Mỹ thể ưu tiên “sức mạnh cứng”, củng cố thủ tục chính sách tị nạn, hạn chế nhập cư, tiếp tục tăng cường cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố, tiêu diệt Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS). Về quốc phòng, an ninh, ông Donald Trump chủ trương ưu tiên ngân sách để tăng cường tiềm lực quân sự (tăng quân số, tàu chiến máy bay chiến đấu, hệ thống phòng thủ tên lửa, an ninh mạng…) nhằm khẳng định vị thế cường quốc số 1 thế giới của Mỹ.

Trung Quốc: Trung Quốc đã tổ chức thành công Đại hội Đảng lần thứ 19 với ban lãnh đạo mới; xây dựng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình là hạt nhân lãnh đạo và xác lập tư tưởng Tập Cận Bình về mục tiêu “Giấc mộng Trung Hoa”. Chính sách đối ngoại của Trung Quốc phát triển theo xu hướng cứng rắn hơn, tham vọng hơn. Các sáng kiến “Vành đai, con đường” (BRI), Ngân hàng đầu sở hạ tầng châu Á (AIIB) đã đạt được một số thành công. Tính đến nay, đã có hơn 60 nước tham gia BRI, còn AIIB đã thu hút trên 80 thành viên, nhiều hơn thành viên của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Việc chính quyền Donald Trump thực hiện chính sách bảo hộ thương mại và theo chủ nghĩa dân túy, phần nào giúp nâng vị thế của Trung Quốc thành một “cường quốc bảo vệ, dẫn dắt” trong tiến trình toàn cầu hóa trong con mắt của nhiều nước. Bên cạnh đó, Trung Quốc khá thành công trong việc dùng lợi ích kinh tế để chia rẽ ASEAN trong vấn đề Biển Đông, điển hình là trường hợp Philippines.

Nga: Kết quả bầu cử tại Ngày bầu cử chính thức 10/9 vừa qua khẳng định uy tín chính trị cao của Tổng thống Putin và đảng “Nước Nga thống nhất”, tạo thuận lợi cho ông Putin trong bầu cử Tổng thống năm 2018. Kinh tế Nga tăng trưởng trở lại, dự báo 2,5%/năm sau 2 năm suy thoái do bị Mỹ và phương Tây cấm vận. Về quốc phòng, Nga tăng cường tiềm lực quốc phòng, đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội; triển khai các chiến dịch quân sự ở Syria, Trung Đông nhằm thể hiện sức mạnh răn đe về quân sự và vai trò của Nga ở Trung Đông. Đối với châu Á - Thái Bình Dương, Nga đã đẩy mạnh quan hệ với các nước trong khu vực, đặc biệt là các nước ASEAN, cả song phương và đa phương, nhằm bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi để mở rộng hợp tác, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế - thương mại, tìm kiếm và mở rộng các hình thức hợp tác cùng có lợi với các nước, phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước…

Quan hệ Mỹ - Trung: Trong năm 2017, quan hệ Mỹ - Trung vẫn phát triển theo chiều hướng điều chỉnh và về cơ bản là kiềm chế và hòa dịu, cả hai bên đều tránh xung đột cố gắng xây dựng khuôn khổ quan hệ theo hướng thực dụng hơn. Cạnh tranh Trung - Mỹ chủ yếu tập trung vào cạnh tranh khu vực ảnh hưởng, nhất là can dự vào các điểm nóng như Biển Đông, biển Hoa Đông; cạnh tranh về tạo dựng “luật chơi” thông qua các chế, thể chế đa phương. Mâu thuẫn giữa hai nước chủ yếu là vấn đề thương mại; Trung Quốc phản đối việc Mỹ triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) và tăng cường hiện diện quân sự tại khu vực Đông Bắc Á.

Quan hệ Nga - Mỹ: Đang tình trạng trả đũa lẫn nhau về ngoại giao kinh tế, nhất sau khi Thượng viện Mỹ thông qua luật trừng phạt Nga cuối tháng 7/2017. Nga coi việc Mỹ triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa toàn cầu là mối đe dọa an ninh đối với Nga. Tuy nhiên, hai nước vẫn duy trì trao đổi ở kênh ngoại giao và quân sự, tránh đụng độ bùng nổ thành xung đột trực tiếp.

Quan hệ Nga - Trung: Tiếp tục được củng cố theo hướng gắn kết và liên kết cao hơn trong năm 2017, thể hiện qua việc hai nước tăng cường gặp gỡ cấp cao; phối hợp và hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế như: vấn đề hạt nhân Triều Tiên, hợp tác trong khuôn khổ Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), Nhóm BRICS (Brasil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi)…

Quan hệ Trung - Ấn: Giảm căng thẳng sau khi chấm dứt vụ đối đầu tại Doklam và Thủ tướng Ấn Độ dự Hội nghị Thượng đỉnh BRICS tại Hạ Môn (9/2017). Cạnh tranh ảnh hưởng giữa hai nước vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, Ấn Độ công khai không ủng hộ sáng kiến và không cử đại diện tham dự Diễn đàn “Vành đai, con đường”.

Khu vực

Năm 2017, tình hình châu Á - Thái Bình Dương diễn biến phức tạp hơn với nhiều điểm nóng như vấn đề hạt nhân Triều Tiên, bất ổn diễn ra ở một số nước do đấu tranh chính trị trong nội bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo và hoạt động khủng bố có xu hướng gia tăng.

Tình hình bán đảo Triều Tiên: tiếp tục leo thang căng thẳng với những động thái của cả hai phía, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh ổn định Đông Bắc Á nói riêng và khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung. Những diễn biến gần đây trên bán đảo Triều Tiên phản ánh sự mâu thuẫn về lập trường và lợi ích giữa các bên cũng như sự thay đổi cục diện thế giới và khu vực. Mỹ tiếp tục gây sức ép về quân sự, kinh tế, chính trị, ngoại giao, lợi dụng vấn đề hạt nhân, dân chủ, nhân quyền, độc đoán, gia đình trị… ở Triều Tiên để cô lập, làm suy yếu nước này, đẩy Triều Tiên rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn về kinh tế, tạo cơ hội lật đổ chế độ. Lập trường của Trung Quốc đối với Triều Tiên sự thay đổi theo hướng cứng rắn hơn theo chiều hướng chung (không nhập hàng dệt may, giảm bán dầu cho Triều Tiên…). Tuy căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên ngày càng gia tăng, nhưng khó có thể leo thang thành chiến tranh bởi các bên đều lo ngại về hậu quả; các nước liên quan có lợi ích nhất định trong việc duy trì nguyên trạng trên bán đảo Triều Tiên, nhất là Mỹ có thể gia tăng hiện diện về quân sự ở khu vực, duy trì sức ép đối với Trung Quốc và giữ Hàn Quốc và Nhật Bản trong quan hệ phụ thuộc với mình.

Một vụ phóng tên lửa của Triều Tiên. (Nguồn Internet)

Đông Nam Á: Các nước Campuchia, Inđônêxia, Myanma tổ chức thành công các cuộc bầu cử địa phương với ưu thế nghiêng về đảng cầm quyền, song các lực lượng đối lập đang dần chiếm được nhiều ghế hơn trước. Tại Campuchia, mặc dù giành thắng lợi, song việc đảng CPP mất gần 30% ghế tại cuộc bầu cử xã phường so với năm 2012 cho thấy, CPP sẽ gặp khó khăn trong Tổng tuyển cử 2018. Philippin đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nội bộ, nhất là sau các chiến dịch bài trừ ma túy; phong trào phiến quân bùng phát tại khu vực miền Nam. Thái Lan công bố Hiến pháp mới, xét xử cựu Thủ tướng; “đối thoại hòa giải quốc gia” không đạt kết quả mong muốn. Vấn đề người tị nạn Rohinghya ở Myanma tiếp tục diễn biến phức tạp, đang gây lo ngại về an ninh đối với khu vực quốc tế. Các nước phương Tây, các nước Hồi giáo và một số tổ chức quốc tế gia tăng các động thái thể hiện quan tâm và gây sức ép đối với Myanma.

Tình hình Biển Đông: Năm 2017, tình hình trên thực địa tại Biển Đông diễn biến theo chiều hướng tương đối ổn định phần lắng dịu, các bên liên quan đến tranh chấp đã nỗ lực kiềm chế không làm gia tăng căng thẳng tình hình, đồng thời có sự điều chỉnh cách tiếp cận, tập trung nỗ lực khôi phục và thúc đẩy các cơ chế đối thoại nhằm giải quyết tranh chấp thông qua các tiến trình ngoại giao pháp lý, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, về cơ bản hiện trạng tình hình trên Biển Đông không thay đổi; những tranh chấp chưa được giải quyết và khó có thể được giải quyết trong thời gian tới, những vấn đề có thể gây căng thẳng tình hình Biển Đông vẫn tồn tại, đó là: Sự khác biệt về quan điểm, lập trường của các bên về tuyên bố chủ quyền cũng như cách tiếp cận để giải quyết tranh chấp; sự khác biệt về nhận thức và quan điểm về tự do hàng hải trong khu vực.

Biển Đông tiếp tục là một thử thách lớn đối với ASEAN trong việc duy trì sự đoàn kết, thống nhất, cũng như vai trò của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực. Tiến trình đàm phán để đi đến kết Bộ Quy tắc ứng xử Biển Đông tiếp tục gặp khó khăn, do còn có sự khác biệt trong nội bộ ASEAN trong quan hệ song phương với Trung Quốc và các nhìn nhận đánh giá của từng nước ASEAN về sự can dự của Mỹ vào vấn đề Biển Đông. Để tiếp tục phát huy vai trò trung tâm trong các cơ chế an ninh khu vực, ASEAN còn phải nỗ lực rất nhiều, nhất là duy trì sự đoàn kết, thống nhất nhận thức trong các vấn đề an ninh khu vực và quốc tế.

Một số dự báo 2018

Trong thời gian tới, tình hình an ninh quốc tế, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp; bức tranh chính trị, an ninh toàn cầu về cơ bản vẫn ổn định, song cục diện thế giới có thể có sự biến chuyển khó lường.

Chính sách của Mỹ đối với châu Á - Thái Bình Dương có thể sẽ mạnh mẽ hơn. Mỹ có thể sẽ triển khai một số biện pháp cương quyết hơn đối với khu vực như dự kiến đầu tư 8 tỉ USD để tăng cường sự hiện diện ở châu Á - Thái Bình Dương trong 5 năm tới, đưa một số tàu của Hạm đội 6, cụm tàu sân bay USS Carl Vinson đến hoạt động tại Biển Đông, tăng số ngày tuần tra tại Biển Đông; đề xuất Sáng kiến ổn định châu Á - Thái Bình Dương để tăng khả năng quân sự của Mỹ ở khu vực, tăng cường các cuộc diễn tập quân sự, hỗ trợ nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển của một số nước ven Biển Đông.

Trung Quốc tiếp tục triển khai chính sách đối ngoại quyết đoán và dân tộc chủ nghĩa. Ngoại giao nước lớn vẫn là ưu tiên số 1 trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, tập trung vào các đối thủ chiến lược tiềm tàng như: Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga. Thực hiện chính sách “Bắc hòa, Tây liên, Đông cự, Nam khuếch” (hòa hoãn với Nga ở phía Bắc; tìm cách liên kết với các nước láng giềng ở phía Tây, nhất là Pakistan; chống liên minh Mỹ - Nhật Bản - Hàn Quốc ở phía Đông; và mở rộng ảnh hưởng xuống phía Nam). Ngoại giao láng giềng, thực hiện tăng cường kết hợp  “Cây gậy và củ cà rốt” và cứng rắn hơn trong chính sách Biển Đông…   Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn khu vực có thể sẽ gia tăng, cọ sát Trung

- Mỹ có thể sẽ quyết liệt và căng thẳng hơn do xung đột lợi ích chiến lược và tiếp tục tác động sâu sắc tới tập hợp lực lượng và cấu trúc an ninh khu vực. Cạnh tranh Trung - Mỹ sẽ khó dự đoán hơn dưới thời chính quyền của Tổng thống Donald Trump. Quan hệ Mỹ - Nga thể sẽ được cải thiện; quan hệ Mỹ - Triều Tiên thể đạt được sự tiến bộ do Mỹ có chính sách hòa dịu hơn.

ASEAN tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Cộng đồng, tập trung thực hiện nội dung quan trọng của Tầm nhìn ASEAN 2025 xây dựng một kiến trúc an ninh bền vững và hiệu quả nhằm duy trì môi trường hòa bình, ổn định khu vực, với vai trò trung tâm của ASEAN được tăng cường, cấu trúc an ninh khu vực dự kiến không bước phát triển đáng kể. Nhiều vấn đề an ninh mới tiếp tục nổi lên, đòi hỏi ASEAN phải tăng cường đoàn kết, phối hợp lập trường, củng cố sự thống nhất của khối nhằm đối phó có hiệu quả với những thách thức an ninh chung.

Xu thế quốc tế hóa vấn đề Biển Đông tiếp tục gia tăng. Biển Đông tiếp tục là chủ đề nóng, thu hút sự quan tâm của ASEAN và cộng đồng quốc tế và tiếp tục là thách thức lớn của ASEAN cũng như các nước đối tác đối thoại, nhất là tại các hội nghị cấp cao ASEAN, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS). Chính sách của một số nước ASEAN liên quan đến vấn đề Biển Đông có thể có những diễn biến phức tạp, khó dự báo.

Nguồn: http://vannghethainguyen.vn


 

Tuesday, August 1, 2023

Thường thức về xây dựng Đảng: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng


 Thường thức về xây dựng Đảng: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng / Nguyễn Minh Tuấn (ch.b), Trần Khắc Việt, Ngô Huy Tiếp. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 148 tr.; 21 cm.

Tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về Đảng Cộng sản và xây dựng Đảng Cộng sản; tư tưởng của V. I. Lênin về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân; tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng

1. Thường thức về xây dựng Đảng                   2.  Chủ nghĩa Mác - Lênin                    3. Tư tưởng Hồ Chí Minh                     

Xây dựng phong cách ứng xử của Công an nhân dân theo phong cách Hồ Chí Minh

Xây dựng phong cách ứng xử của Công an nhân dân theo phong cách Hồ Chí Minh / Đinh Bá Âu. - H. : Công an nhân dân, 2023. - 232 tr.; 21 cm.

Trình bày lý luận về xây dựng phong cáh ứng xử của Công an nhân dân Việt Nam theo phong cách Hồ Chí Minh; xây dựng phong cách ứng xử của Công an nhân dân Việt Nam theo phong cách Hồ Chí Minh, thực trạng, kết quả và những vấn đề đặt ra. Vận dụng phong cách ứng xử Hồ Chí Minh vào xây dựng phong cách ứng xử của Công an nhân dân Việt Nam hiện nay

1. Xây dựng                    2. Phong cách ứng xử                       3. Công an nhân dân                   4. Phong cách Hồ Chí Minh

 

Tìm đúng người tài - The right talent


 Tìm đúng người tài = The right talent / Steven Lock; Thế Anh dịch. - Thanh Hóa : Thanh Hóa, 2023. - 224 tr.; 21 cm.

Giúp các chủ doanh nghiệp và nhà tuyển dụng, bao gồm CEO, giám đốc nhân sự (CHRO), giám đốc điều hành cấp cao, các chuyên gia nhân sự tránh được các sai lầm trong việc tuyển chọn người, nhằm nâng cao chất lượng tuyển dụng; chuẩn bị những tiêu chí, cách thức xây dựng cuộc phỏng vấn và quá trình phỏng vấn thông qua kỹ thuật đặt câu hỏi, kiểm tra giấy giới thiệu, và kể cả hẹn lịch phỏng vấn

1. Khoa học lãnh đạo                 

Lãnh đạo dung hợp


 Lãnh đạo dung hợp  / Jennifer Brown; Hoàng Huấn dịch. - Thành phố Hồ Chí Minh : Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2023. - 243 tr.; 20 cm.

Giới thiệu những bí quyết, kỹ năng mang tính giáo dục, khả thi và có nhiều công cụ thực tiễn để giúp các nhà quản lý nhân sự, cá nhân cất lên tiếng nói và xây dựng năng lực trở thành nhà lãnh đạo dung hợp và có được thành công trong công việc

1. Khoa học lãnh đạo

Marketing bằng lời giới thiệu = The referral of a lifetime : Tạo mạng lưới quan hệ khách hàng hiệu quả mà không cần phải gọi điện "chèo kéo"

 

Marketing bằng lời giới thiệu = The referral of a lifetime : Tạo mạng lưới quan hệ khách hàng hiệu quả mà không cần phải gọi điện "chèo kéo" / Tim templeton; Ngọc Tuấn dịch. - H. : Hồng Đức, 2023. - 287 tr.; 21 cm.

Giới thiệu cách tạo mạng lưới quan hệ khách hàng hiệu quả giúp tạo ra dòng thương vụ đều dặn thông qua những lời giới thiệu nhất quán và chất lượng; áp dụng nguyên tắc vàng trong kinh doanh luôn đặt mối quan hệ khách hàng lên hàng đầu; hướng dẫn cách xây dựng hồ sơ khách hàng lý tưởng trong mở rộng việc kinh doanh mà không cần "chèo kéo" chào hàng

1. Quản lý tiếp thị                  2. Marketing

Bàn về sử dụng lực lượng tác chiến phòng thủ chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

 


Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng trong các công ty cổ phần có vốn nhà nước: Thực tiễn và những yêu cầu đặt ra

 


Đối thoại Việt Nam những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945

 


Tư tưởng và triết lý Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc


Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đáp ứng yêu cầu của Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư


LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC CỦA LÊNIN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

 

LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC CỦA LÊNIN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

 



VI.Lênin – Lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản Nga và toàn thế giới (Ảnh Internet)

 

(ĐCSVN)- Nhân kỷ niệm 140 năm ngày sinh của VI. Lênin (22.4.1870 – 22.4.2010), chúng ta lại nhớ về kho tàng di sản lý luận mác-xít của Người, trong đó có lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước (CNTBNN) là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống lý luận về chính sách kinh tế mới (New Economy Policy - NEP) đã được Lênin đề ra và trực tiếp chỉ đạo vào công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga Xô viết đầu những năm 20 thế kỷ XX. Lý luận này nhiều năm qua đã và đang được vận dụng vào thực tiễn nước ta.

Lý luận về CNTBNN của Lênin và sự vận dụng ở nước Nga Xô viết

Từ cuối năm 1917, ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, chính quyền Xô viết được thành lập, Lênin – Nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước đó đã có những tư tưởng đầu tiên về sử dụng thành phần kinh tế TBCN như là một hình thức kinh tế đặc thù của thời kỳ quá độ lên CNXH. Tuy nhiên, khi ấy quan niệm của Người về việc sử dụng CNTBNN còn ở những nét phác thảo và mang nặng tính chất là một biện pháp chính trị nhằm củng cố sự độc quyền nhà nước trong lưu thông hàng hoá, đặc biệt trong việc chống đầu cơ lúa mì của bọn địa chủ, culắc và thương nhân tư bản bấy giờ. Tiếc rằng, do những diễn biến phức tạp của tình hình nước Nga Xô viết những năm 1918-1920, đã buộc Nhà nước Xô viết phải thực hiện chính sách cộng sản thời chiến, tiến hành quốc hữu hoá ngay những tài sản, tư liệu sản xuất quan trọng nhất của bọn tư bản độc quyền, đại địa chủ và các thế lực phản động, chống phá cách mạng khác. Những hành động đó là kịp thời và đúng đắn với tình hình bấy giờ song cũng vì đó đã làm hạn chế các khả năng sử dụng CNTBNN, điều mà trước đó Lênin đã từng dự liệu.

Tháng 3/1921, sau khi nội chiến kết thúc, tại Đại hội X Đảng Cộng sản (b) Nga với việc đề ra chính sách kinh tế mới (NEP), Lênin đã chỉ rõ trong những điều kiện mới này, việc sử dụng những hình thức kinh tế quá độ của CNTBNN là một bộ phận rất quan trọng của chính sách này. Thời kỳ chính sách cộng sản thời chiến đã kết thúc, giờ đây với việc thực thi NEP thì CNTBNN là một trong những hình thức rất thích hợp để giúp nước Nga Xô viết nhanh chóng khắc phục tình trạng suy sụp kinh tế sau chiến tranh và ngăn chặn những nảy sinh tự phát của nền sản xuất hàng hoá nhỏ - mầm mống của sự phục hồi CNTB. Sở dĩ CNTBNN dưới điều kiện chuyên chính vô sản có ý nghĩa quan trọng và tác dụng to lớn như vậy vì như định nghĩa của Lênin - đó là một thứ CNTB có liên quan với nhà nước. Nhà nước đó là nhà nước của giai cấp vô sản, là đội tiền phong của chúng ta. Thông qua việc sử dụng CNTBNN, giai cấp vô sản có thể học tập, kế thừa và phát huy có chọn lọc tất cả những tài sản vật chất - kỹ thuật và tinh hoa chất xám trong kinh nghiệm sản xuất kinh doanh của các nhà tư bản cũng như tri thức khoa học - kỹ thuật và trình độ khoa học quản lý kinh tế của các chuyên gia tư sản. Nhà nước vô sản có thể sử dụng CNTBNN như là một hệ thống các chính sách, công cụ, biện pháp nhằm điều tiết mọi hoạt động của các xí nghiệp tư bản còn tồn tại trong thời kỳ quá độ, nhằm hướng tới mục đích vừa sử dụng vừa cải tạo bằng phương pháp hoà bình đối với các thành phần kinh tế TBCN và sản xuất nhỏ. Với ý nghĩa đó, CNTBNN còn có thể coi là một trong những phương thức, phương tiện, con đường có hiệu quả trong việc thúc đẩy xã hội hoá và làm tăng nhanh lực lượng sản xuất của CNXH mà kết quả căn bản của sự xã hội hoá này là thể hiện bởi việc phát triển ngày càng mạnh mẽ một nền sản xuất hàng hoá quá độ XHCN - giai đoạn trung gian của nền sản xuất hàng hoá XHCN trong tương lai.

Trần Đức Thảo với chủ nghĩa duy vật biện chứng


Các hình thái quan hệ quốc tế: xung đột và hợp tác quốc tế