Monday, April 3, 2023

BÊN THỨ BA VÀ CỤC DIỆN QUỐC TẾ THỜI TRUMP

 Đinh Nguyễn

 

Năm nào thế giới cũng có những điều bất ngờ. Riêng 2016, các bất ngờ ấy thật đặc biệt. Ít ai dự đoán được kết quả bầu cử ở Mỹ, rồi phán quyết từ Tòa trọng tài thường trực (PCA) đối với Trung Quốc và kế tiếp là xu thế tái cấu trúc EU, ở cấp độ hệ thống cũng như từng thành tố. Nhưng bất ngờ bao trùm nhất, vẫn là sự lên ngôi của chiêu bài dân túy và sự trỗi dậy của khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa từ mọi góc bể chân trời. Dự báo của nhiều Viện Chiến lược trên thế giới đều cho thấy tương lai 2017 không phải màu hồng.

Khi số Tết dương lịch lên khuôn thì Tổng thống tân cử Donald Trump vẫn chưa làm lễ nhậm chức. Tuy vậy, hầu hết “các tuyển thủ” chủ chốt trong “đội bóng” của Tổng thống đắc cử đã được an bài. Nước Mỹ không chủ nghĩa lịch, nhưng nhìn vào nguồn gốc của dàn lãnh đạo mới ông Trump vừa bổ nhiệm (trong đó nhiều ghế còn phải chờ Quốc hội chấp thuận), chúng  ta  có  thể  dự  cảm  được  đôi điều. Trước hết những bất an trong các mối liên hệ quyết định nhất đối với thế kỷ 21, đó là bang giao Mỹ-Trung-Nga. Thứ hai là quá trình tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương sẽ được tiếp cận theo cách khác trước đây. Thứ ba là những co cụm tức thì của các nước trước cục diện bấp bênh cả về kinh tế, chính trị lẫn an ninh trên toàn cầu. Hãy lần lượt nhìn lại chuyện “bếp núc” của thế giới, để hướng tới một năm mới dù ở đó vẫn còn nhiều dự báo “ớn lạnh”.

Mỹ-Trung-Nga biến động

 Quan hệ giữa “ba ông lớn” thời gian qua nhiều biến động, nhưng giới phân tích cho rằng những căng thẳng hiện tại không thể đẩy quan hệ tay ba bên Mỹ - Nga

-Trung tới xung đột theo kiểu Chiến tranh Lạnh, bởi đây là tam giác bất đối xứng. Theo nhận định của giáo sư Luo Yingjie tại Đại học Quan hệ Quốc tế (Bắc   Kinh), ông Trump sẽ phải đối phó với nhiều thách thức khi muốn đưa Mỹ xích lại gần Nga hơn. “Mối quan hệ Nga - Mỹ đang mức thấp nhất kể từ Chiến tranh Lạnh tới nay sẽ cần thời gian mới hồi phục. Kể từ khủng hoảng Ukraine năm 2014, Mỹ cùng các nước phương Tây khác đã áp đặt nhiều lệnh trừng phạt kinh tế lên Nga. Xung đột giữa Nga và Mỹ còn là “xung đột cấu trúc” giữa Moscow và Washington sẽ rất khó được dàn xếp ổn thỏa. Trong một thời gian dài, “kiềm chế Nga” là một trong những chính sách đối ngoại chủ đạo của Mỹ. Theo giáo sư Yingjie, Mỹ đã cố gắng lấn át Nga để giành vị thế siêu cường bằng mọi giá. thế, “ngay cả một Tổng thống Mỹ dành sự yêu thích đặc biệt đối với Nga cũng không thể dễ dàng giải quyết căng thẳng giữa hai nước”, học giả này nói.

Tờ Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc mới đây nhận định, sự cải thiện trong quan hệ Nga - Mỹ không gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc, bởi đơn thuần đó chỉ quá trình giảm căng thẳng giữa hai nước. Vẫn theo tờ báo Đảng Trung Quốc, sự phát triển của quan hệ Trung - Nga lại là “một quá trình tích cực vô giá đối với Mạc Tư Khoa”. Tờ báo khẳng định “Nga sẽ không hi sinh quan hệ Nga - Trung để phát triển quan hệ Nga - Mỹ”. Tuy nhiên, đưa ra khẳng định trên trong thời điểm này vẫn là quá sớm khi ông Trump vẫn chưa dứt khoát về các chính sách và mối quan hệ giữa Mỹ và các cường quốc như Nga và Trung Quốc sau khi ông nhậm chức. thế, hiện tại, cả Nga Trung Quốc vẫn đang thận trọng “thăm dò” những động thái của Tổng thống đắc cử Trump để đưa ra những bước đi thích hợp. Chỉ có một điều chắc chắn là, chính phủ Trung Quốc và Nga lúc này đều muốn “gần gũi” hơn với chính quyền Tổng thống đắc cử Trump.

Nhìn lại lịch sử, cách đây 45 năm (ngày 14/2/1972), Tổng thống Richard Nixon và Cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger đã có nhiều cuộc thảo luận về tương quan bộ tam Mỹ - Trung - Nga. Kissinger, người từng mật sang Bắc Kinh trước đó để chuẩn bị cho chuyến đi của Tổng thống, nói rằng so với Nga, người Trung Quốc “nguy hiểm không kém và trên thực tế, đến một giai đoạn lịch sử nào đó, họ còn nguy hiểm hơn”. Lúc bấy giờ, Kissinger còn nói: “Sau 20 năm nữa,


 

người kế nhiệm tôi, nếu đấy là người sáng suốt thì ông ấy phải chuẩn bị để Mỹ ngả dần về phía Nga nhằm chống lại Trung Quốc”. Kissinger khẳng định rằng Mỹ, vì đang tìm cách lợi dụng sự thù địch giữa Moskva và Bắc Kinh, nên “cần phải nhảy vào trò chơi cân bằng quyền lực này, không được một xúc động nào”. Lúc ấy, Kissinger nhắc nhở, chúng ta cần Trung Quốc để uốn nắn người Nga và đưa người Nga vào kỉ luật, nhưng tương lai, tình hình có thể xoay sang hướng ngược lại.

Vậy là sau 45 năm Nixon đột phá quan hệ với Trung Quốc, kỳ này, Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ sẽ thực hiện lời khuyên của Kissinger? Tổng thống mãn nhiệm Obama từng cố gắng làm cho việc “xoay trục” sang châu Á trở thành hòn đá tảng trong chính sách ngoại giao của mình. Nay đến lượt Donald Trump, ông có “xoay trục” về phía Moskva và quay lưng lại đối với Bắc Kinh hay không? Bằng một loạt nhận xét trên Tweetter, với các cuộc điện đàm, phỏng vấn tuyên bố của các trợ lí, Tổng thống đắc cử Trump đã đưa ra tín hiệu về một chính sách mới, tranh thủ Nga, cứng rắn hơn với Trung Quốc. Đoạn tuyệt với tiền lệ kéo dài hàng thập kỉ, ngày 2/12, ông đã nói chuyện trực tiếp với Tổng thống của Đài Loan. Phát biểu trên chương trình “Fox News Sunday”, Trump nghi ngờ chính sách một Trung Quốc. Một chính sách đã tạo ra khuôn khổ để Washington, Bắc Kinh Đài Bắc giữ được hòa khí châu Á bao năm qua. Nay Trump cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ, gian lận thương mại trong buôn bán với Mỹ và không giúp được Mỹ nhiều trong quá trình đàm phán chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên.

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Trung tướng, PGS, TS. TRẦN THÁI BÌNH

 

Ngày 25-10-2013, Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghị quyết thể hiện sâu sắc sự phát triển duy nhận thức luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Nghị quyết số 28-NQ/TW được ban hành trên sở thành tựu, kinh nghiệm về lý luận thực tiễn qua gần 30 năm đổi mới đất nước, nhất là kế thừa kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) trong tình hình mới. Đây Nghị quyết chuyên đề về nhiệm vụ BVTQ của Đảng ta. Trong đó, xác định rõ mục tiêu, quan điểm, phương châm chỉ đạo, nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện BVTQ trong bối cảnh mới của tình hình thế giới, khu vực, hội nhập quốc tế. Chúng ta cần quán triệt sâu sắc những nội dung bản sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý   của Nhà nước đối với sự nghiệp BVTQ. Đây là một nội dung quan trọng, nhân   tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp BVTQ. Trong bối cảnh nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và các thế lực thù địch tranh thủ mọi sơ hở của ta để chống phá thì việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước càng cần phải được coi trọng. Đó cũng là nhân tố bên trong quyết định sự thành bại của cách mạng, sự mất còn của chế độ XHCN ở nước ta. Nghiên cứu lịch sử và một số cuộc chiến tranh khu vực gần đây cho thấy, nguyên nhân cơ bản dẫn  tới mất ổn định của một quốc gia đều xuất phát từ vấn đề nội bộ. Nếu tình hình nội bộ ổn định, đất nước phát triển, đời sống nhân dân  được đảm bảo    cải thiện thì lòng tin vào chế độ được giữ vững và do đó các thế  lực  bên  ngoài không có cớ và thời cơ để can thiệp.

Để giữ vững tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội nói chung, sự nghiệp BVTQ nói riêng thì Đảng phải mạnh. Những năm qua, bên cạnh những mặt mạnh, công tác xây dựng Đảng còn nhiều hạn chế, mà Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã chỉ ra là: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó cả đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”. Các hiện tượng tham nhũng, lợi ích nhóm, mất đoàn kết nội bộ,… tuy đã được khắc phục một bước, nhưng vẫn còn diễn ra, làm cho lòng tin của một bộ phận nhân dân vào Đảng, Nhà nước bị giảm sút. Do đó, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI), khi xác định mục tiêu BVTQ, ngoài mục tiêu chung, còn nhấn mạnh các mục tiêu cụ thể trong những năm trước mắt; trong đó, mục tiêu đầu tiên “Tạo được chuyển biến rệt trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo đó, Nghị quyết đề ra giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về công tác xây dựng Đảng, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, nhất là ở cấp chiến lược, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước; đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, quản lý của chính quyền các cấp đối với nhiệm vụ BVTQ; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cấp ủy, chính quyền, tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ.

Hai là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Trong lịch sử xã hội loài người, thời đại nào cũng vậy, dân tộc bao giờ cũng gắn liền với   một chế độ chính trị nhất định; trong đó, dân tộc có quyền lựa chọn cho  mình  một chế độ chính trị nhất định, chế độ chính trị phù hợp thì tồn tại, phát triển và được bảo vệ. Ngược lại, nếu chế độ chính trị không phù hợp, thì chính dân tộc    đó sẽ quyết định việc thay thế bằng một chế độ chính trị khác phù hợp hơn.

Đối với dân tộc ta, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Đảng ta luôn giương cao hai ngọn cờ: độc lập dân tộc và CNXH và đã giành thắng lợi  trọn vẹn. Thực tiễn cũng đã chứng minh, chỉ có kiên định mục tiêu độc lập dân  tộc gắn liền với CNXH nước ta mới có độc lập dân tộc thực sự và sự thực trong gần 30 năm đổi mới vừa qua, CNXH đã thể hiện được tính ưu việt của nó, mặc  dù mô hình này chưa có tiền lệ trong thực tiễn và cần tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới. Những năm qua, vấn đề dân tộc luôn được Đảng ta đặc biệt coi  trọng và trên thực tế đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân, nhất là đối với kiều bào ta ở nước ngoài. Tuy nhiên, còn có ý kiến khác nhau về  mối quan  hệ giữa độc lập dân tộc và CNXH. Một số người cho rằng không cần thiết phải gắn độc lập dân tộc với CNXH. Vậy nhận thức đó đúng hay sai?

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong các tổ chức chính trị - xã hội hiện nay


Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đủ sức vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

 


Thiết chế quyền con người quốc gia trên thế giới và khuyến nghị với Việt Nam

 


Wednesday, March 1, 2023

Đôi điều về sự ra đời và phát triển của chính quyền cách mạng ở Nam Bộ (1945 - 1975)


Sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vận dụng triết học Mác về giải phóng con người


Phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đề ra với giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn, hướng tới thành công Đại hội XII của Đảng

 


CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC

 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước (cũng được gọi là stamocap)[1] là một hình thức cực đoan của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong đó nhà nước được coi là một doanh nghiệp độc quyền duy nhất chi phối hầu hết các hoạt động sản xuất và phân phối hàng hóa trong nền kinh tế. Nhà nước sẽ kiểm soát mọi hoạt động kinh tế, thương mại và các cơ sở sản xuất được tổ chức và quản lý như doanh nghiệp nhà nước (bao gồm cả quá trình tích lũy vốn, lao động tiền lương và quản lý tập trung). Các hoạt động trong nền kinh tế được hoạch định và điều phối bởi các cơ quan lập kế hoạch kinh tế và các cơ quan chính phủ được tập trung hóa (các cơ quan được tổ chức theo thực tiễn quản lý kinh doanh).

Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một học thuyết Leninist được phổ biến sau Thế chiến IILenin đã tuyên bố vào năm 1916 rằng Chiến tranh thế giới thứ nhất đã biến đổi chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhưng ông đã không xuất bản bất kỳ học thuyết mở rộng nào về chủ đề này. Thuật ngữ chủ nghĩa tư bản độc quyền đề cập đến một môi trường mà nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để bảo vệ các doanh nghiệp độc quyền hoặc độc quyền lớn hơn khỏi các mối đe dọa. Lenin trong cuốn sách nhỏ của ông cùng tên nhằm mục đích mô tả chủ nghĩa đế quốc như là giai đoạn lịch sử cuối cùng của chủ nghĩa tư bản, trong đó ông tin rằng chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn cao nhất của chủ nghĩa tư bản mà chủ nghĩa tư bản đã biến thành chủ nghĩa tư bản độc quyền.[2] Chiến tranh thế giới thứ I đã chuyển hóa chủ nghĩa tư bản độc quyền thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Sau cách mạng tháng 10, Lenin chủ trương áp dụng chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước vào nước Nga như là "sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội, là nấc thang lịch sử mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là chủ nghĩa xã hội thì không có một nấc thang nào ở giữa cả"[3]. Sau thế chiến thứ II do ảnh hưởng của Liên Xô với tư cách một nước thắng trận khiến lý luận về chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước được phổ biến ra toàn thế giới.

Đôi khi khái niệm này cũng xuất hiện trong lý thuyết Chủ nghĩa tân Trotsky của chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng như trong các lý thuyết chống nhà nước tự do chủ nghĩa. Các phân tích được thực hiện thường là giống hệt nhau trong ở các đặc điểm chính, nhưng kết luận chính trị rất khác nhau được rút ra từ nó.

Thêm một cách đặt vấn đề về nội dung phương pháp luận biện chứng duy vật

 


KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG

Lê Hữu Nghĩa

 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và được bổ sung, phát triển năm 2011 và các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc thời kỳ đổi mới đều khẳng định: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Đồng thời Đảng yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải “kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(1).

 Kiên định và sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hai mặt của một vấn đề thống nhất với nhau; kiên định phải trên cơ sở sáng tạo và sáng tạo phải trên cơ sở kiên định, nếu không sẽ sa vào sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, máy móc hoặc chủ nghĩa cơ hội, xét lại.

Trong hơn 88 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại; nhờ đó đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, vượt qua mọi thác ghềnh, vượt qua những thời điểm hiểm nghèo của cách mạng.

1- Từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phe XHCN tan rã, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng, chống phá chế độ XHCN ở nước ta. Trong khi chúng ta đang đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ thì cũng xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức. Những khó khăn, thách thức đó, một mặt, do những vấn đề mới, những mâu thuẫn mới nảy sinh trong quá trình đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu; mặt khác, do những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm chưa được khắc phục kịp thời, đồng thời cộng với tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Tình hình khách quan đó đã tác động đến nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu, bản lĩnh chính trị không vững vàng nên có sự dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng XHCN và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) của nước ta, phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tình trạng nhạt Đảng, xa rời chính trị, phai nhạt lý tưởng đã và đang diễn ra. Một số cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả cán bộ cao cấp mất lòng tin vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vào lý tưởng XHCN, giảm sút ý chí chiến đấu, mắc phải những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra. Trong nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên có sự mơ hồ, không phân biệt đúng - sai ở tầm quan điểm về những vấn đề lớn, như đánh giá về bản chất của thời đại, về chủ nghĩa tư bản (CNTB), về CNXH, về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về nguyên nhân sự sụp đổ của Liên Xô, về thời kỳ quá độ và định hướng XHCN ở nước ta, về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, về vai trò của kinh tế tư nhân, về kinh tế thị trường định hướng XHCN, về chế độ sở hữu đất đai,... 

Các Hội thánh và tổ chức Cao Đài hoạt động giao lưu hành đạo để thực hiện tinh thần đoàn kết tôn giáo


LIÊN HỢP QUỐC CẢNH BÁO VỀ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

LIÊN HỢP QUỐC CẢNH BÁO VỀ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI

 Xuân Vinh

QĐND - Theo báo cáo do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3, thế giới tuy đã đạt được một số tiến bộ trong việc thu hẹp tình trạng bất bình đẳng giới trong 20 năm qua, song nữ giới vẫn có ít cơ hội tiếp cận việc làm hơn, có xu hướng phải chấp nhận những việc làm chất lượng thấp nhiều hơn và phải đối diện với nhiều rào cản trong bổ nhiệm vào các chức vụ quản lý.

Báo cáo "Triển vọng Xã hội và việc làm của thế giới: Những xu hướng cho phụ nữ năm 2018-khái quát" của Liên hợp quốc (LHQ) cho thấy, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động toàn cầu là 48,5% trong năm 2018, thấp hơn 26,5% so với tỷ lệ của nam giới. Báo cáo cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của phụ nữ trên toàn thế giới là 6% trong năm 2018, cao hơn khoảng 0,8% so với tỷ lệ của nam giới. Tính trung bình, cứ 10 nam giới có việc làm thì chỉ có 6 phụ nữ được tuyển dụng.

Trên phạm vi toàn thế giới, thu nhập trung bình của phụ nữ thấp hơn nam giới tới 23%. Với tốc độ hiện tại, thế giới sẽ cần tới 70 năm để chấm dứt tình trạng này và lúc đó hai giới sẽ có mức thu thập ngang nhau. Ngày 7-3, Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) cho biết, thu nhập trung bình của phụ nữ tại các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) thấp hơn nam giới khoảng 16% trong năm 2016. Cụ thể, nếu nam giới kiếm được 1 euro trong một giờ làm việc, con số này ở nữ giới chỉ được trung bình là 84 cent. Tại châu Âu, Đức và Anh đứng đầu về mức chênh lệch trong thu nhập giữa nam và nữ-lên tới 21%. Romania, Italy và Luxembourg ghi nhận số liệu tích cực hơn (5%) trong khi tại Pháp, một nền kinh tế lớn khác của châu Âu, phụ nữ thu nhập kém nam giới 14%.

Hồ Chí Minh và tác phẩm "ngục trung nhật ký"


 Hồ Chí Minh và tác phẩm "ngục trung nhật ký" / Đỗ Hoàng Linh (ch.b), Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Thị Bình. - H. : Thông tin và Truyền thông, 2022. - 408 tr. ; 24 cm.

Giới thiệu 134 bài thơ trong tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh cùng những lời bình một số bài thơ tiêu biểu dưới cái nhìn cụ thể đến bao quát của các nhà phê bình văn học nổi tiếng như: Nguyễn Đình Thi, Lê Anh Trà, Chiến Kỳ, Vũ Ngọc Phan...

1. Hồ Chí Minh                  2. Ngục trung nhật ký

Xuất bản cách mạng Việt Nam - 70 năm đồng hành cùng đất nước


 Xuất bản cách mạng Việt Nam - 70 năm đồng hành cùng đất nước (1952 - 2022) / Ban Tuyên giáo Trung uơng Đảng. Thông tấn xã Việt Nam. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 240  tr. ; 25 cm.

Cuốn sách góp phần tuyên truyền sâu rộng truyền thống vẻ vang cùng những đóng góp thiết thực của ngành xuất bản, in và phát hành sách Việt Nam, tôn vinh, tri ân công lao, đóng góp của các thế hệ cán bộ, viên chức, người lao động làm trong lĩnh vực này đối với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng, của dân tộc trong 70 năm qua.

1. Xuất bản cách mạng Việt Nam           2. 70 năm                  3. 1952 - 2022

Đường lối văn hóa của Đảng trong chấn hưng, phát triển văn hóa Việt Nam


 Đường lối văn hóa của Đảng trong chấn hưng, phát triển văn hóa Việt Nam / Lê Mậu Lâm (ch.b), Ngô Vương Nah, Nguyễn Băng Nhi. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 716 tr. ; 24 cm.

Cuốn sách chia làm 3 phần gồm các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về chủ trương, đường lối văn hóa trong bối cảnh mới; các bài viết lý luận về xấy dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới và tổ chức thực hiện ở một số cơ quan, bộ, ngành, địa phương.

1. Đường lối                 2. Văn hóa                   3. Đảng Công sản Việt Nam

Cảnh sát Liên Hiệp Quốc và sự tham gia của Việt Nam trong trong thời gian tới

 

Cảnh sát Liên Hiệp Quốc và sự tham gia của Việt Nam trong trong thời gian tới: Sách chuyên khảo / Nguyễn Việt Lâm, Đỗ Lê Chi. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 335 tr. ; 21 cm.

Cuốn sách cung cấp những hiểu biết chung về nhiệm vụ giữ gìn hòa bình của Liên Hiệp Quốc nói chung, trong đó có nhiệm vụ của Cảnh sát Liên hợp quốc, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về Việt Nam tham gia hoạt động Cảnh sát Liên hợp Quốc thời gian tới, từ đó đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị.

1. Cảnh sát                   2. Liên Hiệp Quốc             3. Sự tham gia của Việt Nam              4.  Trong thời gian tới                   4. Sách chuyên khảo

Mối quan hệ giữa Kinh tế và Văn hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay

 

Mối quan hệ giữa Kinh tế và Văn hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay: Sách chuyên khảo / Lê Quốc Lý, Lê Quốc. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 304 tr. ; 24 cm.
Trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá, giá trị văn hoá trong hoạt động kinh tế, những nhân tố tác động đến mối quan hệ này, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá trong thời kỳ đổi mới. Nêu thực trạng mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá ở Việt Nam. Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá trong phát triển bền vững
1. Kinh tế             2. Văn hóa            



Thursday, February 2, 2023

Võ Văn Kiệt - Trí tuệ và sáng tạo


 Võ Văn Kiệt - Trí tuệ và sáng tạo. T.1: Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đến ngày ký Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam / Hoàng Lại Giang. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 255 tr. ; 21 cm.

Nội dung cuốn sách tái hiện chặng đường đầu tiên trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Võ Văn Kiệt - Từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đến ngày ký Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam

1. Võ Văn Kiệt                    2. Trí tuệ               3. Sáng tạo             4. Khởi nghĩa Nam Kỳ             5. Hiệp định Giơnevơ                       6. Việt Nam

Giới thiệu tác phẩm "Bút ký Triết học" của V.I. Lênin

 

Giới thiệu tác phẩm "Bút ký Triết học" của V.I. Lênin. -H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 76 tr. ; 19 cm. 

Nhằm giúp bạn đọc dễ dàng hơn trong việc tiếp cận, nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, tác giả với cách dẫn dứt vấn đề ngắn gọn, dễ hiều, cuốn sách sẽ "đồng hành cùng bạn đọc trong việc tìm hiểu và vận dụng học thuyết Mác - Lênin trong hoạt động thực tiễn xây dựng và bảo vệ tổ quốc ta hiện nay.

1. Giới thiệu tác phẩm              2. Bút ký Triết học                  3. V.I. Lênin

Những bức thư của Bác Hồ nhân dịp đầu năm học mới

Những bức thư của Bác Hồ nhân dịp đầu năm học mới / Hồ Chí Minh. - H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 452 tr. ; 15 cm. 

Cuốn sách gồm những bức thư, bài viết, thiếp chúc mừng và lời căn dặn của Bác Hồ viết cho học sinh và cán bộ, giáo viên ngành giáo dục nhân dịp khai trường đầu năm học mới từ năm 1945 đến năm 1969, được tuyển chọn từ bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập, gồm 15 tập, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản năm 2021.

1. Bác Hồ                  2. Giáo dục                    3. Bức thư                 4. Đầu năm học mới

 

Giá trị và sự vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

 

Giá trị và sự vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay / Trần Thị Minh Tuyết (ch.b), Doãn Thị Chín, Lê Đình Năm,….  - Xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung. -H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 360 tr. ; 21 cm.

Nội dung cuốn sách được kết cấu thành ba chương:

Chương I: Giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chương II: Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước.

Chương III: Tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

1. Giá trị                         2. Sự vận dụng                        3. Phát triển                            4. Tư tưởng Hồ Chí Minh                 

Phát triển kỹ năng và nghệ thuật lãnh đạo

 

Phát triển kỹ năng và nghệ thuật lãnh đạo / Phạm Đi. -H. : Chính trị Quốc gia, 2022. - 520 tr. ; 24 cm.

Cuốn sách gồm 10 chương gắn với các vấn đề về khoa học lãnh đạo nói chung, phát triển kỹ năng và nghệ thuật lãnh đạo nói riêng. Ngoài cập nhật kiến thức cơ bản đáp ứng một phần yêu cầu của người lãnh đạo, quản lý trong bối cảnh và tình hình mới, trên một phương diện khác, một số nội dung trong cuốn sách là chất xúc tác truyền cảm hứng cho độc giả về vai trò, trách nhiệm của mỗi người với tư cách là một thành viên của xã hội, góp phần thúc đẩy sự gắn kết xã hội và chủ động thích ứng, sáng tạo, đổi mới trong chính vị trí việc làm của mình.  Cuốn sách cũng là những gợi mở cho bất cứ ai muốn "quản trị bản thân", thay đổi hành vi trong giao tiếp, trong ứng xử, trong thiết lập và duy trì các mối quan hệ, làm phong phú hơn đời sống tinh thần, thể hiện khả năng "lãnh đạo không chức danh" của mình, quản trị khối óc, quản lý con tim, tạo ra nhiều nguồn năng lực và truyền cảm hứng cho chính bản thân và người xung quanh.

1. Phát triển                 2. Kỹ năng                    3. Nghệ thuật lãnh đạo

Wednesday, February 1, 2023

Biến đổi văn hóa nhìn từ hai khu đô thị mới ở Hà Nội








Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. - 2016 - Số 390. - Tr. 31 - 35


Xây dựng và phát triển sức mạnh mềm quốc gia từ giá trị văn hóa dân tộc


PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHANH, BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính

Trong những năm qua, bên cạnh các kết quả đạt được, thực tiễn phát triển kinh tế nhanh, bền vững ở Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề hạn chế, đòi hỏi cần có sự phân tích, đánh giá để có các giải pháp khắc phục phù hợp.

Phát triển kinh tế nhanh và bền vững là xu thế chung được nhiều quốc gia trên thế giới nỗ lực hướng tới. Đây cũng là mục tiêu chiến lược quan trọng và được thể hiện rõ nét trong các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, cũng như của các ngành và địa phương tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2006 - 2016, Việt Nam đã tận dụng được thời cơ, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội và môi trường. Đất nước đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, công tác bảo vệ môi trường được quan tâm, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Thực trạng

Việc đánh giá phát triển kinh tế nhanh, bền vững của Việt Nam được xét trong mối quan hệ với trục bền vững về kinh tế, bao gồm: Tăng trưởng kinh tế; Các cân đối vĩ mô; Chất lượng tăng trưởng; Năng lực cạnh tranh và cơ sở hạ tầng của nền kinh tế.

Về tăng trưởng kinh tế: Mặc dù tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2017 bị chậm lại nhưng vẫn cao hơn so với mức tăng trưởng của thế giới và nhiều nước trong khu vực. Bình quân cả giai đoạn 2006 - 2017, GDP tăng trưởng 6,19%, cao hơn tốc độ tăng GDP của thế giới. Bên cạnh đó, GDP bình quân đầu người đã tăng gần gấp 3 lần từ 797 USD/người trong năm 2006 lên 2.385 USD/người vào năm 2017, giúp Việt Nam chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình kể từ năm 2010.

Về đảm bảo ổn định các cân đối vĩ mô là yêu cầu có tính chất nền tảng đối với tăng trưởng và sự phát triển của các nền kinh tế. Các cân đối vĩ mô ở Việt Nam, chủ yếu tập trung một số chỉ tiêu như lạm phát, tiền tệ tín dụng, đầu tư, cán cân thanh toán, bền vững về ngân sách...

Một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2017 là phải đối mặt với nhiều dấu hiệu của bất ổn vĩ mô, đặc biệt là tình trạng lạm phát cao trong những năm 2006 - 2007 và 2010 - 2011. Tuy nhiên, nỗ lực kiềm chế lạm phát của Chính phủ đã giúp lạm phát giảm và khá ổn định trong những năm gần đây.

Mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm dần. Đến năm 2017, lãi suất cho vay ngắn hạn ở mức 6,5 - 9%/năm, lãi suất cho vay trung và dài hạn khoảng 9 - 11%/năm, tương đương 40% vào cuối năm 2011. Bên cạnh đó, tỷ giá tăng khá nhanh trong giai đoạn 2006 - 2010 và ổn định trong giai đoạn 2011 - 2017, đặc biệt từ khi Ngân hàng Nhà nước áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm.

Giai đoạn 2006 - 2017, tiết kiệm bình quân bằng 28% GDP. Đầu tư toàn xã hội so với GDP của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2017 nhìn chung có xu hướng giảm. Bình quân cả giai đoạn, đầu tư toàn xã hội ở mức 35,28% GDP. Tỷ trọng đầu tư của khu vực nhà nước vẫn giảm so với giai đoạn trước xuống còn 38,95%; đầu tư của khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn FDI lần lượt chiếm 37,47% và 23,58%.

Do nhu cầu chi cho phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và trả nợ tăng mạnh nên bội chi NSNN giai đoạn 2011 - 2015 ở mức cao (bình quân 5,79%, cao hơn mục tiêu 5% đề ra tại Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015). Tuy nhiên, bội chi NSNN có xu hướng giảm dần, ở mức 5,64% trong năm 2016 và 3,48% GDP vào năm 2017. Các chỉ tiêu nợ công trong giới hạn được Quốc hội phê duyệt. Đến cuối năm 2017, nợ công bằng 61,3% GDP, nợ chính phủ là 51,6% GDP, phù hợp với mục tiêu đề ra.

Vai trò kiến tạo của Nhà nước trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

 


Quyền con người trong tư tưởng của J. Locke về nhà nước


NHÀ NƯỚC TA LÀ NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN

 

Hà Nguyên Cát

Trước hết, phải khẳng định ngay rằng: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân (GCCN) với giai cấp nông dân (GCND) và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”1. Vấn đề đó đã được ghi rõ ở Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (1992). Nhà nước mà nhân dân ta đang xây dựng là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn phát triển của cách mạng Việt Nam.

Trong lịch sử nhân loại, đến nay đã tồn tại 04 kiểu nhà nước: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản và Nhà nước XHCN. Sự thay thế các kiểu nhà nước là “quá trình lịch sử - tự nhiên”, do sự chi phối trước hết và chủ yếu bởi quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng của xã hội. Trong xã hội có giai cấp, sự ra đời, thay thế các kiểu nhà nước phải thông qua cuộc đấu tranh giai cấp, đỉnh cao là cách mạng xã hội. V.I. Lê-nin đã nhấn mạnh: chính quyền là vấn đề căn bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Nhà nước XHCN ra đời, tồn tại và phát triển là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giữa GCCN và nhân dân lao động với giai cấp thống trị, bóc lột, đỉnh cao là cách mạng vô sản.

Đối với Việt Nam, để giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm con đường cứu nước và mô hình nhà nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành được độc lập. Trong cuộc hành trình lịch sử đó, Hồ Chí Minh đã khảo sát các mô hình nhà nước trên thế giới, điển hình là nhà nước tư sản Mỹ và Pháp. Người phát hiện ra, đằng sau khẩu hiệu đầy hoa mỹ, tốt đẹp về các quyền tự do,

bình đẳng, bác ái và quyền mưu cầu hạnh phúc được ghi đậm trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ (1776) và trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1791), thực chất chỉ là giả hiệu. Xã hội TBCN là xã hội mà ở đó sự bất bình đẳng, nghèo đói, phân biệt chủng tộc và biết bao sự tàn bạo, bất công khác đang hằng ngày, hằng giờ đè nặng lên vai giai cấp cần lao. Người kết luận: đó là những cuộc cách mệnh không đến nơi, bởi ở đó chính quyền vẫn ở trong tay một số ít người; vì thế, “cách mệnh  thành công đã trên 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”2. Khi đến nước Nga (1923), Người nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về Cách mạng Tháng Mười và mô hình Nhà nước Xô Viết - một mô hình nhà nước kiểu mới: “...phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền,... ra sức tổ chức kinh tế mới để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng”3. Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga và mô hình Nhà nước Xô Viết để từng bước nghiên cứu, xác lập mô hình về một kiểu nhà nước tương lai - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sẽ được thiết lập sau khi cách mạng Việt Nam thành công.

Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho cán bộ cấp chiến lược


Kiểm soát quyền lực chính trị bằng trách nhiệm nêu gương một số vấn đề cơ bản