Friday, October 1, 2021

TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐẾN CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH ĐẤT NƯỚC

 


KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG THỰC HIỆN CƠ CHẾ “ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ”: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

 Nguyễn Minh Tuấn

TCCS - Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” với vấn đề kiểm soát quyền lực hiện nay đã có những quy định, quy phạm để thực hiện, tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn những vấn đề mới, phức tạp, cần tiếp tục làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền, nhằm kiểm soát tốt quyền lực, phục vụ sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Bất cứ thể chế chính trị nào trên thế giới hiện nay đều xác định trung tâm quyền lực chính trị của hệ thống chính trị là nhà nước. Sự chi phối mọi hoạt động đối với nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) của các đảng phái trong xã hội thể hiện bằng các hình thức khác nhau và mức độ khác nhau vì lợi ích của các giai cấp mà đảng phái đó đại diện. Cho dù là nhà nước “tam quyền phân lập” hay nhà nước trong các thể chế chính trị khác thì cũng đều chú trọng đặc biệt đến việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế nhằm kiểm soát quyền lực đối với từng chủ thể trong hệ thống chính trị và đối với toàn bộ hệ thống chính trị. 

Lịch sử cách mạng Việt Nam 89 năm qua đã khẳng định những thắng lợi vĩ đại trong cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân ta giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội đều gắn liền với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, minh chứng mối quan hệ mật thiết của nhân dân đối với Đảng. Hiến pháp năm 2013 xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền, các quyết định của Đảng đều liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội và đảng viên của Đảng nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Điều đó dễ dẫn đến phát sinh tiêu cực nếu không có cơ chế kiểm tra, giám sát khả thi. 

Khác với các chính thể “tam quyền phân lập”, nước ta lựa chọn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo. 

Nét đặc thù của thể chế chính trị này là việc xác lập mối quan hệ mật thiết giữa các chủ thể trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Cơ chế này phản ánh những mối quan hệ cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trong đó mỗi chủ thể có vai trò, vị trí khác nhau, phối hợp với nhau, phát huy tính hiệu quả của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được chế định trong Hiến pháp, pháp luật. Việc kiểm soát quyền lực giữa các chủ thể là tất yếu nhằm bảo đảm và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước trong quản lý xã hội, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Kiểm soát quyền lực trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” không chỉ với từng tổ chức mà còn ở quan hệ giữa các tổ chức với nhau trong hệ thống chính trị.

HỘI THẢO QUAN HỆ QUỐC TẾ: “TRẬT TỰ THẾ GIỚI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2012” (TỔNG THUẬT)

ThS. Đỗ Thị Thảo

 TCCSĐT - Sau Chiến tranh lạnh, trật tự thế giới thế hai cực (Liên - Mỹ) bị tan vỡ, các xu thế tập hợp lực lượng mới nảy sinh, hình thành cục diện quốc tế đa cấp độ, đa màu sắc. Bức tranh đó cho thấy thế giới đang trong quá trình vận động quá độ sang một trật tự thế giới mới, vô cùng phức tạp. Nhằm góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên, ngày 7-12-2012, Viện Quan hệ quốc tế thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề Trật tự thế giới từ năm 2001 đến năm 2012. Hội thảo đã thu hút được 28 bài viết của các nhà khoa học trong và ngoài đơn vị tham gia.

Nội dung các chuyên đề tham luận tại Hội thảo rất phong phú, tập trung làm nổi bật những vấn đề về trật tự và cục diện thế giới trong thời gian hơn một thập niên đầu thế kỷ XXI, như: thuyết về trật tự thế giới cục diện thế giới, về quyền lực cạnh tranh quyền lực trong quan hệ quốc tế; Cục diện mới trong quan hệ giữa các nước lớn và tác động của những sự cạnh tranh này đối với Việt Nam; Cục diện quan hệ quốc tế ở một số khu vực, giữa các cường quốc; Tập hợp lực lượng và tương quan lực lượng trên thế giới. Ngoài ra, một số tham luận còn đề cập những vấn đề về Chủ nghĩa tư bản trong quá trình hình thành trật tự thế giới mới, về vai trò của các nước đang phát triển trong xu thế thiết lập lại trật tự thế giới mới,… Có thể khái quát các đề tài tham gia Hội thảo thành 5 nhóm vấn đề lớn sau đây:

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước tình hình mới - Thực tiễn và kinh nghiệm ở Bình Thuận

 


Wednesday, September 8, 2021

Cán bộ tổ chức với việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

 


Biết địch, biết ta điều kiện tiên quyết trong nhận thức thời cơ, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)

 


KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG

 Lê Hữu Nghĩa

TCCS - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và được bổ sung, phát triển năm 2011 và các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc thời kỳ đổi mới đều khẳng định: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Đồng thời Đảng yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải “kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(1). Kiên định và sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hai mặt của một vấn đề thống nhất với nhau; kiên định phải trên cơ sở sáng tạo và sáng tạo phải trên cơ sở kiên định, nếu không sẽ sa vào sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, máy móc hoặc chủ nghĩa cơ hội, xét lại.

Trong hơn 88 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại; nhờ đó đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, vượt qua mọi thác ghềnh, vượt qua những thời điểm hiểm nghèo của cách mạng.

PH.ĂNGGHEN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH QUAN NIỆM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ

 Hoàng Hải Bằng (*)

 

Từ nửa đầu những năm 40 của thế kỷ XIX, Ph.Ăngghen đã có những nghiên cứu độc lập và tiến dần đến quan niệm duy vật về lịch sử. Ông đã đưa ra một số kết luận quan trọng về vai trò của các quan hệ kinh tế trong đời sống xã hội, chỉ ra nguồn gốc và tính tất yếu của cách mạng xã hội, giải thích sự tiếp nối của hệ thống các yếu tố lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng chính trị, vạch rõ tính giai cấp của ý thức xã hội… Với những đóng góp này, công lao của Ph.Ăngghen trong việc xây dựng chủ nghĩa duy vật lịch sử là đặc biệt quan trọng, mặc dù ông luôn coi thành tựu ấy là kết quả do sự lao động sáng tạo của riêng C.Mác. Đó là sự khiêm nhường của một nhân cách lớn.

 

  

 Ph.Ăngghen (1820 - 1895)


MÂU THUẪN CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN NAY

 


VỀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG GIAI ĐOẠN TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY

Nguyễn Ngọc Chuẩn

Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, cái giúp cho con người vượt qua những khó khăn, thử thách, giải thoát con người khỏi những thách đố và vướng mắc của cuộc sống, đáp ứng nhu cầu thường nhật và lâu dài của nhân loại không chỉ là kinh tế, kỹ thuật hiện đại và công nghệ cao, mà còn là triết học. Triết học giúp cho con người tìm ra lời giải không chỉ cho những thách đố muôn thuở, mà còn cho những vấn đề hoàn toàn mới do quá trình toàn cầu hoá đặt ra. Triết học không chỉ giúp con người nhận thức rõ địa vị của mình, lối sống xứng đáng với con người, mà còn giúp họ xác định mục tiêu và lý tưởng sống để từ đó, góp phần biến đổi hiện thực nhằm phục vụ cho chính mình. Không chỉ thế, trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, triết học còn giúp cho con người có được sự định hướng đúng đắn trong hành động và củng cố quyết tâm hành động, đánh giá đúng những biến động đang diễn ra, gợi mở cách đi, hướng giải quyết các vấn đề  mà cuộc sống đang đặt ra. Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, triết học cũng đang thực hiện chính những vai trò to lớn đó.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đồng hành cùng dân tộc và chủ nghĩa xã hội


DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI GIÁ TRỊ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 TS. Cao Đức Thái

QĐND - Giá trị của một dân tộc là nền tảng tinh thần được hình thành trong lịch sử lâu dài trong một cộng đồng, đó là truyền thống dựng nước, giữ nước, đó là những phương châm về đạo lý, lẽ sống của xã hội… Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển những giá trị dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay...

QĐND - Giá trị của một dân tộc là nền tảng tinh thần được hình thành trong lịch sử lâu dài trong một cộng đồng, đó là truyền thống dựng nước, giữ nước, đó là những phương châm về đạo lý, lẽ sống của xã hội… Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển những giá trị dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay. Những giá trị cơ bản đó có thể được khái quát như sau:

Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước, là ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống các thế lực xâm lược. Cho dù sức mạnh của chúng lớn đến đâu, sự tàn bạo của chúng như thế nào và âm mưu thâm hiểm ra sao…, cũng không thể khuất phục được dân tộc ta. Phát triển chủ nghĩa yêu nước, ý thức về độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh đã gắn truyền thống đó với khái niệm về bình đẳng và quyền của mỗi dân tộc. Trong Tuyên ngôn độc lập, Người viết: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Một trong những tư tưởng lớn của Người là gắn liền độc lập dân tộc với tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân. Người nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra ác liệt, Người nói: “ Không có gì quý hơn độc, lập tự do”. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh đến mục tiêu của Đảng ta là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh…”

Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đôi điều góp bàn thêm







Thử phân tích khái niệm và đề xuất bộ chỉ báo nhận diện bình đẳng giới ở Việt Nam

 


Biến đổi giá trị đạo đức trong bối cảnh kinh tế thị trường


Vận dụng văn hóa hòa bình và khoan dung của Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế về văn hóa


Tăng trưởng xanh - "Chìa khóa" để phát triển bền vững, thịnh vượng

 


Tăng cường hoạt động thông tin và dự báo thị trường phục vụ chiến lược xuất khẩu của Việt Nam hiện nay

 


Monday, September 6, 2021

HỌC TẬP BÁC NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM

 Nguyễn Thắm

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng “nói đi đôi với làm”, cho mọi thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo, đặc biệt là thế hệ trẻ - lực lượng góp phần quyết định sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc hiện tại cũng như trong tương lai.

Nói đi đôi với làm là một trong những phẩm chất sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mọi thế hệ người Việt Nam học tập và làm theo. Trong suốt cuộc đời, Bác đã thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ nói đi đôi với làm. Nhiều câu chuyện cảm động về việc nêu gương, nói đi đôi với làm của Bác để cho chúng ta học tập, từ đôi dép lốp Bác đi, áo vá vai Bác mặc đến cái ô tô cũ Bác dùng, việc nhịn bữa ăn để cứu dân nghèo... đã thể hiện tấm lòng nhân ái, tấm gương đạo đức, tư tưởng vì nước vì dân, Người nói: cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi , nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân.


KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN NHỮNG PHÁT NGÔN LỆCH LẠC, PHIẾN DIỆN VỀ PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID -19 !

                                                                                                           LÊ NGUYỄN

Trên cơ sở phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, thời gian qua chúng ta đã từng bước ngăn chặn có hiệu quả dịch bệnh Covid-19. Tuy vậy, với góc nhìn phiến diện, thiển cận, thiên kiến, một số cá nhân, tổ chức đang cố tình phủ nhận những thành quả trong phòng, chống dịch Covid-19 của nước ta. Nhận thức của những cá nhân, tổ chức này là không thể chấp nhận được và đáng bị xã hội lên án.

1. Cố tình phủ nhận những thành quả trong phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam, một số tổ chức, cá nhân cho rằng “Việt Nam chống dịch thành công là nhờ may mắn”(?). Gần đây (vào tối 3/8/2021), trên mạng xã hội xuất hiện một video dài 3 phút 59 giây ghi lại cuộc hội thoại diễn ra trong một tiết học online giữa một sinh viên và giảng viên của Trường Đại học ở Đà Nẵng - trong phần tranh luận, giảng viên T.T.T đã có những phát ngôn phủ nhận những thành quả chống dịch của Đảng, Nhà nước, chính quyền các địa phương, các tầng lớp nhân dân: “Từ đầu mùa dịch tới giờ Chính phủ đã hỗ trợ cho em cái gì chưa?”, “Có dân nước nào chạy 1.500 km về quê, như vậy hệ thống an sinh xã hội của chúng ta quá kém đúng không?... Cô cảm thấy rất nhục nhã vì đều đó. Khi dịch đến, những quốc gia trên thế giới người ta được hỗ trợ rất nhiều,… còn chúng ta thì thế nào? Em lên thử đèo Hải Vân coi, đó mới là sự nhục nhã...”.

HAI LỜI KÊU GỌI - MỘT QUYẾT TÂM CHÍNH TRỊ

                                                                                                           NGUYỄN CÔNG

Trong hơn một năm người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam đã hai lần ra Lời kêu gọi nhằm hiệu triệu sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cùng chung sức chống lại sự bùng phát của dịch bệnh Covid -19 ở Việt Nam. Hai lời kêu gọi ở hai thời điểm khác nhau nhưng với một quyết tâm chính trị cao nhất: nhanh chóng ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân, giữ vững thành quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh mới.

Đại dịch Covid-19 khởi nguồn từ Thành phố Vũ Hán (Trung Quốc) từ cuối năm 2019 và nhanh chóng lan rộng sang các nước châu Âu như Italy, Tây Ban Nha, Pháp, Anh vào tháng 3-2020. Sau đó, tâm dịch chuyển sang Ấn Độ, Iran ở châu Á, rồi đến Mỹ, Brazil ở châu Mỹ và đến nay dịch bệnh đã tấn công ở tất cả các quốc gia và châu lục trên toàn thế giới. Hiện nay, thế giới đang đối mặt với làn sóng bùng phát dịch Covid-19 mới với sự gia tăng nhanh chóng các ca nhiễm trên phạm vi toàn cầu. Thống kê mới nhất cho thấy, tổng số người nhiễm bệnh trên thế giới đến nay là 198.905.983, trong đó có 4.238.566 người tử vong, cụ thể số người nhiễm bệnh ở các châu lục: Châu Á: 62.273.770; Châu Âu: 51.584.509; Bắc Mỹ: 42.607.425; Nam Mỹ 35.539.924; Châu Phi: 6.793.591.

DÂN CHỦ VÀ KỶ CƯƠNG - NHÌN TỪ ĐẠI DỊCH COVID-19

                                                              HÀ SƠN

Covid-19 xuất hiện và tồn tại đến nay đã hơn một năm rưỡi và chắc chắn sẽ còn tồn tại trong một khoảng thời gian không ngắn. Sức tàn phá khủng khiếp cả về tính mạng và tài sản do con virut này gây ra đã biến nó trở thành một đại dịch toàn cầu. Không chỉ có thế, Covid-19 còn như “một chất thử liều cao” đối với các thể chế chính trị, các chính phủ trong việc nhìn nhận, đánh giá và xử lý các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội có liên quan mật thiết đến đời sống người dân.

Quả thực, nhìn vào thực tế những gì đã và đang diễn ra ở các nước đứng đầu thế giới về số người chết và số ca nhiễm, nghi nhiễm Covid-19 từ khi dịch bệnh này xuất hiện cho đến nay, chúng ta thấy được sự khác biệt rất rõ nét về cách thức các chính phủ nhìn nhận và giải quyết các thách thức do đại dịch Covid gây ra trong rất nhiều mối quan hệ, như: giữa tăng trưởng kinh tế và sức khỏe nhân dân; giữa lợi ích quốc gia dân tộc và trách nhiệm quốc tế; giữa nhà nước và thị trường trong cung ứng một số dịch vụ công thiết yếu; giữa bảo đảm dân chủ và tăng cường kỷ cương, kỷ luật…

TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ GIÁ TRỊ ĐỊNH HƯỚNG CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 


Monday, August 9, 2021

HỒ CHÍ MINH VÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN ỨNG XỬ NGOẠI GIAO

 ThS. Vũ Kim Yến

(Chinhphu.vn) - Chủ tịch Hồ Chí Minh không câu nệ về “đối đẳng chức vụ”, không bị ràng buộc bởi nghi thức ngoại giao mà luôn chủ động, linh hoạt và hết sức chú trọng đến mục tiêu, hiệu quả của công tác đối ngoại. Đúng như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: “Sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh trong giao tiếp ngoại giao đã trở thành những câu chuyện huyền thoại”.

Dù người đối thoại là nguyên thủ quốc gia, lãnh tụ Đảng, chính khách, trí thức hay chỉ là người công nhân, nông dân bình thường, Hồ Chí Minh cũng luôn chủ động trong ứng xử. Sự chủ động đó vừa tự nhiên, bình dị, chân thành vừa ân cần tế nhị, được thể hiện hết sức sinh động và phong phú trong tư thế chủ động, với ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn và dễ hiểu, với nụ cười luôn đem lại sự bất ngờ làm xóa nhòa mọi khoảng cách, đem lại hiệu quả cao.


Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận hoa từ các em bé trong chuyến thăm Cộng hoà Dân chủ Đức tháng 7/1957

Monday, July 5, 2021

BÁC HỒ TỚI THĂM CÁC CHÁU ĐÓ!

 

Ngày 31-5-1959, Bác Hồ ra thăm đảo Cát Bà, vào một xóm chài. Một đoàn thuyền đi đánh cá đêm về vừa cập bến, cá trắng đầy khoang. Bác dừng lại giơ tay chào bà con rồi quay lại bảo đồng chí Bí thư Huyện ủy Cát Bà đi sau:

– Trời sa mù thường hay lắm cá.

– Vâng ạ.

– Mùa này thường nhiều cá đẻ phải không chú?

– Vâng ạ.

– Ở đây đã có thuyền lắp máy để đánh cá chưa?

– Dạ thưa Bác, chưa có ạ.

Bác nói:

– Rồi đây phải đưa máy móc vào nghề cá. Đảng và Chính phủ sẽ giúp đỡ bà con sắm thêm thuyền lưới tốt hơn.

Bác vào một gia đình đánh cá ở đầu xóm. Người lớn đi vắng cả, chỉ có một em gái nhỏ đang ngồi nấu cơm. Bác hỏi em nhỏ:

– Bố mẹ cháu đi đâu?

Em bé đứng dậy, lễ phép thưa:

– Bố cháu đi đánh cá, mẹ cháu ra chợ ạ.

Friday, July 2, 2021

Tuyên ngôn Độc lập - Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại

 


Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản – Cương lĩnh mang giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của giai cấp vô sản và các chính đảng cách mạng toàn thế giới

 


QUYỀN CON NGƯỜI GẮN VỚI QUYỀN DÂN TỘC CƠ BẢN VÀ THUỘC PHẠM VI CHỦ QUYỀN QUỐC GIA

 Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam

(ĐCSVN) Có thể khẳng định, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một nước độc lập có chủ quyền, có quyền dân tộc tự quyết, quyền lựa chọn quyết định thể chế chính trị của mình. Người dân có quyền tham gia vào việc xây dựng và quyết định các quyết sách của đất nước. Quyền bầu cử, ứng cử, ngày càng được phát huy.

Ngoài tổ chức chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam, còn có các tổ chức chính trị-xã hội và hàng trăm tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo lứa tuổi, giới tính, lĩnh vực nghề nghiệp hoạt động thu hút hàng chục triệu hội viên tham gia. Mọi tư tưởng và chính kiến khác nhau được tự do đề đạt có tổ chức.

Quyền tự do báo chí, tự do hội họp theo quy định của pháp luật được tôn trọng. Với số đầu báo, tạp chí tăng nhanh, thông tin đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin của người dân. Hệ thống phát thanh, truyền hình phát triển nhanh, tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có đài phát thanh, truyền hình, với trên 95% số xã được phủ sóng truyền hình, gần 99% số xã được phủ sóng phát thanh.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo. Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Các dân tộc được đảm bảo bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển; được tạo cơ hội phát triển như nhau, được duy trì tiếng nói và chữ viết riêng, bảo tồn văn hoá truyền thống. Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng được nâng cao.

Quyền khiếu nại, tố cáo được đảm bảo; quyền bất khả xâm phạm thân thể và quyền được bảo vệ tính mạng sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của người dân luôn được tôn trọng.

Xây dựng thể chế nhà nước Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới

 


PHẢI CHĂNG NGUỒN NHÂN LỰC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ LÀ QUAN TRỌNG NHẤT

 

ĐỂ TẤT CẢ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THUỘC VỀ NHÂN DÂN

Danh Sơn

Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, thời gian qua, cả hệ thống chính trị tham gia vào cuộc đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thực thi quyền lực nhà nước, để “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế, luật pháp”(1) nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân. Thực tế trong những năm qua khẳng định, đó không phải là khẩu hiệu suông, càng không phải là việc “triệt hạ phe phái”, như các thế lực thù địch đã rêu rao, xuyên tạc.

Sinh thời, khi nói về bản chất nhà nước mà chúng ta đang xây dựng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ngay ở Điều 1, Hiến pháp năm 1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Người nhấn mạnh: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Do vậy có quyền nhân dân trực tiếp làm, trực tiếp thực hiện; có quyền nhân dân giao hay ủy quyền cho một tổ chức, một nhóm người hoặc cho một người thực hiện để thực hiện mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: Để chống lại tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, đòi hỏi các cơ quan Đảng, Nhà nước và cán bộ phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng, của nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ là cái gốc của mọi công việc: “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(2). Khi có đường lối đúng thì khâu quyết định là lựa chọn đúng cán bộ. Người căn dặn các cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(3). Để bảo đảm yêu cầu đó, một trong những điều kiện tiên quyết là phải thiết lập cơ chế bầu cử thực chất, phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân khi bầu ra thành viên các cơ quan dân cử. 

CÁC NƯỚC NHỎ TRONG HỆ THỐNG QUỐC TẾ

Quỳnh Mai - Quang Chinh

 

LTS: Quan hệ giữa nước lớn - nước nhỏ luôn một trong những vấn đề căn bản nhất trong nghiên cứu quan hệ quốc tế. Trong hoàn cảnh "vô chính phủ" của hệ thống quốc tế hiện đại, các nước lớn với sức mạnh kinh tế, quân sự vượt trội luôn đe dọa sự tồn vong của các nước nhỏ. Vậy, các nước nhỏ phải làm trước những thách thức nghiêm trọng về an ninh lợi ích quốc gia như vậy? Trong bài viết riêng dành cho TG&VN, dựa trên các lý thuyết của quan hệ quốc tế, đặc biệt chủ nghĩa hiện thực, TS. Rob Kevlihan đã đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi trên.

Sự phát triển lý luận của Đảng ta về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa