Tóm tắt: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội là lựa chọn tất yếu của cách mạng Việt Nam, được hình thành từ cơ sở lý
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và được kiểm nghiệm qua
thực tiễn lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, độc lập dân tộc gắn liền chủ
nghĩa xã hội đã trở thành yếu tố quyết định thắng lợi trong các giai đoạn cách
mạng, từ giành chính quyền, kháng chiến đến quá trình xây dựng đất nước, nhất
là qua 40 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của con đường mà Đảng và Nhân
dân ta đã lựa chọn. Trong bối cảnh hiện nay, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội gắn với đổi mới sáng tạo là yêu cầu tất yếu. Thực tiễn phát
triển của đất nước đã bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, khẳng định đây là con
đường duy nhất đúng đắn, phù hợp với quy luật lịch sử và khát vọng dân tộc.
Từ khóa: Độc lập dân tộc, Chủ nghĩa xã hội,
tất yếu lịch sử, phản bác quan điểm sai trái, thù địch
1. Mở đầu
Ngay
từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định sự lựa chọn mục tiêu, con
đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội với ý nghĩa là chiến lược xuyên
suốt của cách mạng Việt Nam. Sự lựa chọn này không phải ngẫu nhiên hay mang
tính chủ quan, mà là kết quả của quá trình nghiên cứu, tiếp thu giá trị của chủ
nghĩa Mác – Lênin cùng sự vận động, khảo nghiệm và sàng lọc nghiêm khắc của
lịch sử dân tộc. Nhân dân Việt Nam bằng thực tiễn đấu tranh bền bỉ, lâu dài, đã
đồng lòng dưới lá cờ của Đảng và biến mục tiêu, con đường ấy thành sức mạnh
hiện thực qua các thời kỳ cách mạng. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn sử
dụng mọi thủ đoạn cố tình xuyên tạc, phủ nhận, bôi nhọ, tách rời độc lập dân
tộc khỏi chủ nghĩa xã hội nhằm làm lung lay nền tảng tư tưởng của Đảng,
gây hoài nghi, hoang mang về con
đường phát triển của đất nước. Những luận điệu đó vừa sai lầm về lý luận, vừa
trái với thực tiễn lịch sử Việt Nam. Bởi lẽ, độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà là con đường tất yếu của cách
mạng Việt Nam, con đường duy nhất phù hợp với quy luật thời đại, điều kiện lịch
sử dân tộc và khát vọng của Nhân dân về một xã hội độc lập, tự do,
dân chủ, công bằng, văn minh, giàu mạnh và hạnh phúc. Trong bối cảnh hiện nay, khi môi
trường quốc tế biến động nhanh chóng, việc nhận thức đúng, làm
rõ tính tất yếu, cơ sở lý luận và thực tiễn của mục tiêu, con đường gắn độc lập
dân tộc với chủ nghĩa xã hội
ở
nước ta, đồng thời kiên quyết phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về mục
tiêu, con đường này là yêu cầu có ý nghĩa cấp thiết hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội
Trong
cách mạng Việt Nam, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có mối quan hệ biện
chứng sâu sắc. Đây không phải là sự ghép nối cơ học giữa hai mục tiêu, mà là
một chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi yếu tố vừa có vị trí, vai trò riêng, vừa
tạo tiền đề và điều kiện cho yếu tố kia. Điều này được hình thành trên cơ sở
vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của
một nước thuộc địa nửa phong kiến, đồng thời được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng sản Việt Nam từng bước bổ sung, phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt
Nam.
Thứ nhất, độc lập dân tộc là tiền đề và điều kiện chính trị
tiên quyết để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đối với Việt Nam, ý nghĩa của độc lập
dân tộc trước hết nằm ở việc xác lập chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết của
dân tộc. Một dân tộc không có độc lập không thể tự mình quyết định thể chế
chính trị, mô hình phát triển và những mục tiêu xã hội. Vì vậy, độc lập dân tộc
tạo ra tiền đề chính trị để Nhân dân trở thành chủ thể của quá trình lựa chọn
và xây dựng con đường phát triển đất nước.
Từ
quá trình tìm đường cứu nước, khảo sát các cuộc cách mạng trên thế giới, lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng giải phóng dân tộc phải được đặt trong một
phương hướng phát triển mới. Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản vì thế
không chỉ nhằm giải quyết nhiệm vụ giành độc lập, mà còn mở ra khả năng giải
quyết những vấn đề xã hội và con người đặt ra sau khi giành được độc lập. Trong
mối quan hệ với chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc giữ vị trí là tiền đề, điều
kiện chính trị tiên quyết. Không có độc lập, dân tộc không có chủ thể và không
có không gian chính trị cần thiết để tự quyết định con đường phát triển của
mình.
Thứ
hai, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu và phương hướng phát triển nhằm hiện thực hóa
đầy đủ giá trị của độc lập dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, độc lập dân
tộc không phải là mục tiêu duy nhất, càng không chỉ được hiểu là sự thay đổi về
địa vị pháp lý của quốc gia, giá trị của độc lập phải được thể hiện trong đời
sống của Nhân dân: “Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh
phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (1). Luận điểm đó cho thấy nội hàm
của độc lập dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh gắn chặt với tự do, hạnh phúc và
quyền làm chủ của Nhân dân. Do đó, sau khi giành được độc lập, cách mạng không
dừng lại ở việc bảo vệ chủ quyền quốc gia mà phải tiếp tục tạo dựng một xã hội
trong đó những giá trị của độc lập được hiện thực hóa trong đời sống: “vật chất
ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt” (2). Chủ nghĩa xã hội hướng tới giải
phóng con người, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện. Vì vậy, nếu độc
lập dân tộc trả lời câu hỏi dân tộc có quyền tự quyết định vận mệnh của mình
hay không, thì chủ nghĩa xã hội đặt ra phương hướng sử dụng quyền tự quyết đó
để xây dựng một xã hội như thế nào, vì mục tiêu gì và phục vụ lợi ích của ai.
Chính ở điểm này, chủ nghĩa xã hội trở thành mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ
phát triển nhằm làm cho độc lập dân tộc có nội dung thực chất, gắn với lợi ích
của đại đa số Nhân dân.
Thứ ba, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tác động, bảo
đảm và củng cố lẫn nhau. Đây là nội dung cốt lõi làm nên tính biện chứng của
mối quan hệ giữa hai yếu tố. Độc lập dân tộc là tiền đề để xây dựng chủ nghĩa
xã hội, nhưng khi quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt được những thành quả
về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, những
thành quả đó lại trở thành nguồn lực củng cố độc lập dân tộc. Một nền độc lập
muốn được bảo vệ vững chắc không thể chỉ dựa vào ý chí chính trị mà cần được
bảo đảm bằng thực lực quốc gia, sức mạnh kinh tế, khoa học, công nghệ, nền tảng
xã hội ổn định, tiềm lực quốc phòng, an ninh, sức mạnh văn hóa và khả năng tự
chủ chiến lược.
Ngược
lại, xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải giữ vững độc lập, tự chủ. Nếu mất
khả năng tự quyết định về chính trị, kinh tế hoặc những vấn đề chiến lược, dân
tộc sẽ khó có thể chủ động lựa chọn và tổ chức thực hiện con đường phát triển
đã xác định. Do đó, quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không phải
là quan hệ một chiều mà là một quá trình tác động qua lại sâu sắc. Độc lập dân
tộc tạo lập điều kiện cho xây dựng chủ nghĩa xã hội, những thành quả của xây
dựng chủ nghĩa xã hội lại giúp tăng cường tiềm lực bảo vệ độc lập dân tộc. Hai
quá trình đó thống nhất với nhau trong mục tiêu nâng cao sức mạnh đất nước và
bảo đảm cuộc sống ngày càng tốt hơn cho Nhân dân.
Thứ tư, sự gắn liền giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
tạo nên sự thống nhất giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài của cách mạng
Việt Nam. Trong từng giai đoạn lịch sử, vị trí của các mục tiêu, nhiệm vụ cụ
thể có thể thay đổi. Khi đất nước đang bị xâm lược, mục tiêu giải phóng dân tộc
và giành độc lập phải được đặt lên hàng đầu. Khi đất nước đã giành được độc
lập, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước trở thành trọng tâm. Tuy nhiên,
sự thay đổi về nhiệm vụ trọng tâm không đồng nghĩa với sự thay đổi mục tiêu
chiến lược. Điều này thể hiện rõ tính linh hoạt trong phương thức thực hiện mục
tiêu của cách mạng Việt Nam: kiên định mục tiêu chiến lược nhưng linh hoạt về
bước đi, phương thức và cách thức thực hiện. Chính khả năng xử lý mối quan hệ
giữa mục tiêu lâu dài với nhiệm vụ trước mắt đã giúp Đảng vừa tập trung giải
quyết những vấn đề cấp bách của từng thời kỳ, vừa giữ vững định hướng chiến
lược của cách mạng.
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến đường lối của Đảng, độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành định hướng chiến lược xuyên suốt.
Sự gắn liền giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được xác lập từ những văn
kiện đầu tiên của Đảng và được bổ sung, phát triển qua thực tiễn lãnh đạo cách
mạng. Việc kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là sự tiếp nối về mặt tư tưởng, lý luận mà
còn là yêu cầu khách quan nhằm bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững,
giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trước bối cảnh quốc tế hiện nay. Có thể
khái quát, độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội là một chỉnh thể thống
nhất, trong đó độc lập dân tộc là tiền đề và điều kiện chính trị tiên quyết,
chủ nghĩa xã hội là mục tiêu và phương hướng phát triển. Đồng thời, những thành
quả của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội góp phần củng cố, bảo vệ và nâng
cao chất lượng của nền độc lập dân tộc. Chính sự thống nhất biện chứng đó tạo
nên đặc trưng căn bản của con đường cách mạng Việt Nam.
2.2. Thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm và khẳng định
con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Lịch
sử cách mạng Việt Nam là một quá trình vận động đầy thử thách, trong đó dân tộc
ta đã phải trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm để xác định con đường phát triển
phù hợp. Thực tiễn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho thấy, các con đường cứu
nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản đều không thành công dù các phong
trào yêu nước thời kỳ này thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc. Bước ngoặt quyết
định của lịch sử dân tộc diễn ra khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tiếp cận với chủ
nghĩa Mác – Lênin và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Người khẳng định: giải
phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải
phóng con người, tức là phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự lựa chọn này là kết
quả của một quá trình nhận thức khoa học, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt
Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Sau
khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã
xác định phương hướng, nhiệm vụ chiến lược: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và
thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (3). Như vậy, ngay từ đầu, mục
tiêu độc lập dân tộc đã gắn liền hữu cơ với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, trở
thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Trong giai
đoạn đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945), việc đặt nhiệm vụ giải phóng
dân tộc lên hàng đầu, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là một
sáng tạo lớn về đường lối của Đảng. Chính sự kết hợp đúng đắn này đã tạo điều
kiện để Đảng tập hợp lực lượng cách mạng rộng lớn, phát huy cao độ sức mạnh của
chủ nghĩa yêu nước, đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong
thời kỳ 1945–1975, mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tiếp
tục được hiện thực hóa một cách sinh động trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Từ
năm 1954, trước yêu cầu và đặc điểm mới của lịch sử đất nước, Đảng đã vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai chiến
lược cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Đây là
một sáng tạo lớn về tư duy lý luận và nghệ thuật lãnh đạo cách mạng của Đảng,
phản ánh khả năng kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu chiến lược lâu dài với yêu cầu
cấp bách của từng giai đoạn lịch sử, giữa nhiệm vụ xây dựng và nhiệm vụ bảo vệ
Tổ quốc, giữa cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc trong
cùng một đất nước. Chủ nghĩa xã hội từ giai đoạn này đã trở thành nhiệm vụ trực
tiếp song hành cùng nhiệm vụ độc lập dân tộc. Và sự kết hợp đúng đắn ấy đã làm
nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mở đường cho cả
nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vô cùng khó khăn. Trước những biến
động của lịch sử, kiên định mục tiêu kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
Đảng đã tiến hành công cuộc đổi mới từ năm 1986, điều chỉnh phương thức và bước
đi để hiện thực hóa mục tiêu đó một cách phù hợp hơn. Sau 40 năm đổi mới, Việt
Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh
vực. Từ một nước kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế có
quy mô hơn 527 tỷ USD tính đến tháng 4/2026 (4). Theo Ngân hàng Thế giới, từ
ngày 1/7/2026, Việt Nam chính thức gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung
bình cao. Không chỉ đạt được những bước tiến vượt bậc về tăng trưởng kinh tế,
Việt Nam không ngừng nâng cao chất lượng phát triển, bảo đảm tiến bộ và công bằng
xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, giữ vững ổn định
chính trị - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại. Vị
thế, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng tầm, là đối tác tin cậy,
thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, là một trong số ít các nước có
quan hệ ngoại giao với tất cả thành viên Liên Hợp Quốc,...
Những thành tựu trên chứng minh cho vấn đề mang ý nghĩa lý luận: kiên định con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội không những không cản trở phát triển kinh tế, mà
trong điều kiện đổi mới phù hợp còn tạo cơ sở để phát huy các nguồn lực, giải
phóng sức sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng. Điểm khác biệt căn bản là tăng trưởng
kinh tế được đặt trong mục tiêu phát triển vì con người, gắn với tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và từng chính sách. Đây chính
là thực tiễn sinh động bác bỏ luận điểm cho rằng chủ nghĩa xã hội cản trở phát
triển kinh tế và là minh chứng đầy thuyết phục về tính đúng đắn, sức sống và hiệu
quả của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.
Con đường độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải là sự áp đặt chủ quan hay lựa chọn
thuần túy mang tính ý chí, mà là kết quả của cả một quá trình lịch sử lâu dài,
được kiểm nghiệm, sàng lọc và khẳng định trong thực tiễn đất nước. Độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà còn là
quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam. Lịch sử dân tộc đã lựa chọn và thực
tiễn cách mạng không ngừng chứng minh tính đúng đắn của mục tiêu, con đường ấy.
Do đó, mọi luận điệu cho rằng Việt Nam có thể phát triển theo con đường khác
tách rời chủ nghĩa xã hội, hoặc phủ nhận vai trò của con đường này, thực chất
là phủ nhận toàn bộ tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam. Những luận điệu này
không chỉ thiếu cơ sở khoa học mà còn cố tình bỏ qua những thành tựu thực tiễn
đã được kiểm chứng, chỉ là sự ngụy biện vô căn cứ.
Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng những biến động nhanh chóng, khó lường của tình hình thế giới, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội không chỉ giữ nguyên giá trị, mà còn đặt ra những yêu cầu mới cao hơn. Độc lập dân tộc không chỉ được khẳng định ở chủ quyền lãnh thổ, chính trị mà ngày càng gắn với năng lực tự chủ chiến lược về kinh tế, công nghệ và không gian số. Một quốc gia khó có thể có nền độc lập thực chất nếu quá phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng bên ngoài, bị chi phối về công nghệ hoặc thiếu khả năng làm chủ các nền tảng và dữ liệu chiến lược. Vì vậy, giữ vững độc lập dân tộc đòi hỏi phải nâng cao nội lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển khoa học – công nghệ và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược. Đồng thời, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới phải hướng tới phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, phát triển văn hóa, con người và khoa học – công nghệ. Chính quá trình đó tạo dựng thực lực quốc gia, qua đó củng cố và làm sâu sắc hơn nền độc lập dân tộc. Mặt khác, độc lập, tự chủ là điều kiện để Việt Nam chủ động lựa chọn và thực hiện con đường phát triển xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Trong
kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, một giai đoạn phát triển mới với khát vọng
mạnh mẽ về sự thịnh vượng, hùng cường, mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội càng phải được nhận thức sâu sắc và xử lý hài hòa. Đại hội XIV khẳng định: “kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (5). Đây là nguyên tắc bất di bất dịch, đồng
thời phải tiếp tục đổi mới sáng tạo để hiện thực hóa mục tiêu đó trong điều
kiện mới.
3.
Kết luận
Trong
bối cảnh hiện nay, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu
lịch sử đã được lựa chọn, mà còn là động lực phát triển và là con đường bảo đảm
cho tương lai của dân tộc. Kiên định mục tiêu, đồng thời phát triển sáng tạo
con đường đã lựa chọn, chính là điều kiện quyết định để Việt Nam vững bước
trong kỷ nguyên vươn mình, hội nhập và phát triển bền vững. Đồng thời, sự kiên
định ấy phải luôn gắn liền với đổi mới sáng tạo, với việc không ngừng bổ sung,
phát triển lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thời đại. Mọi luận điệu
xuyên tạc, phủ nhận hoặc tìm cách tách rời độc lập dân tộc khỏi chủ nghĩa xã
hội, xét đến cùng, đều đi ngược lại thực tiễn lịch sử và không có cơ sở khoa
học. Lịch sử và thực tiễn hiện nay của đất nước đã chứng tỏ đây là con đường
duy nhất đúng đắn, là lựa chọn tất yếu để hiện thực hóa mục tiêu cao cả, xây
dựng một nước Việt Nam độc lập, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì
hạnh phúc của Nhân dân./.
Đặng Thị Minh Nguyệt
Học viện Chính trị Khu vực II
------------------------------
Tài liệu tham khảo
(1)
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 64.
(2)
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, sđd, tr. 438.
(3)
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, tập
2, 2000, tr.2.
(4)
Xem Vietnam Datasets World economic outlook (april 2026) 15 indicators, 1980 –
2031, www.imf.org
(5)
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb.
CTQG Sự Thật, Hà Nội, 2026, tr.73.
No comments:
Post a Comment