Wednesday, August 5, 2026

VĂN HOÁ SOI SÁNG CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

 


VĂN HOÁ SOI SÁNG CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

LTS: Việt Nam là quốc gia có nền văn hóa giàu bản sắc, được kết tinh qua hàng nghìn dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: Phát huy sức mạnh văn hóa, con người trở thành “nền tảng”, “trụ cột”, “nguồn lực nội sinh”, “động lực quan trọng”, “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Bước đột phá về tư duy chiến lược của Đảng đặt ra yêu cầu mới: Văn hóa đứng ở “vị trí dẫn đường”, giữ vai trò dẫn dắt, định hướng như “ngọn hải đăng” soi sáng con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Loạt bài viết: “Văn hoá soi sáng con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” làm sáng rõ các quan điểm, quyết sách chiến lược của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa; đặt trong tổng thể quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng ta, nhằm phát huy sức mạnh của văn hóa trong phát triển đất nước nhanh và bền vững; đồng thời xác định những nhiệm vụ cốt lõi nhằm xử lý hài hòa yêu cầu “xây” và “chống”, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Bài 1: VĂN HOÁ SOI ĐƯỜNG CHO DÂN TỘC TIẾN 

VÀO KỶ NGUYÊN MỚI

Kế thừa và phát triển tư duy, nhận thức, lý luận về văn hóa, Đảng đã đặt văn hóa ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia, xác định văn hóa không chỉ là “nền tảng”, mà còn là “trụ cột” phát triển, cùng với chính trị, kinh tế, xã hội cấu thành hệ thống trụ đỡ bền chắc của quốc gia. Văn hóa giữ vai trò “hệ điều tiết”, dẫn dắt sự phát triển dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc ta, không chỉ là người mở đường cho cách mạng Việt Nam mà còn đặt nền móng, hình thành đường lối, quan điểm của Đảng ta về phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Ngay từ rất sớm, Người đã đưa ra một định nghĩa toàn diện, sâu sắc về văn hóa, coi văn hóa là tổng hòa các phương thức sinh hoạt và biểu hiện của con người nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một cách hệ thống: Văn hóa bao gồm toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người từ ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng… Đó không chỉ là nhận thức mang tính lý luận, mà còn là sự định hình nền tảng cho đường lối văn hóa của Đảng. 

Người viết: “Văn hóa là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Khái niệm văn hóa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra đã khái quát nội dung rộng nhất của phạm trù văn hóa, bao hàm các hoạt động vật chất và tinh thần của con người cùng với các giá trị mà con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời cũng là mục đích sống của loài người. 

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Cả cuộc đời Người phấn đấu cho mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nội dung xây dựng chủ nghĩa xã hội bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Mục tiêu đó - nhìn một cách tổng quát là quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Nhân dân.

Cống hiến của Người trong giải phóng và phát triển văn hóa Việt Nam còn thể hiện trong việc đưa ra những định hướng lớn để xây dựng nền văn hóa dân tộc. Đặc biệt, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý về vai trò to lớn của văn hóa đối với sự xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.

Chính từ đây, tư tưởng của Người đã khai sáng, dẫn lối soi đường cho sự phát triển nền văn hóa dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng của Người, văn hóa vừa đóng vai trò dẫn dắt, là sức mạnh nội sinh và nền tảng tinh thần to lớn cho sự phát triển của dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng của Người khẳng định rõ: Văn hóa không đứng ngoài đời sống, mà thấm sâu vào mọi lĩnh vực, nâng cao dân trí, bồi đắp tinh thần dân tộc, tạo nên sức mạnh đoàn kết - yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. 

Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta trong chặng đường 75 năm kể từ Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Văn hóa là những gì tinh hoa, tinh túy nhất, kết tinh thành các giá trị cao đẹp, nhân văn, tiến bộ. Đồng thời khẳng định, văn hóa làm nên hồn cốt dân tộc, “văn hóa còn thì dân tộc còn, mất văn hóa là mất dân tộc”. Những chỉ đạo có ý nghĩa như lời hiệu triệu của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khơi dậy khát vọng chấn hưng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trực tiếp góp phần củng cố tiền đề lý luận của Đảng ta có những quyết sách chiến lược về văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta về văn hóa tiếp tục được đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kế thừa và làm rõ, tạo tiền đề quan trọng trong định hình tư duy chiến lược của Đảng về phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới. Tại Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành văn hóa, đồng chí đã nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo quan trọng: “Văn hóa càng phải đi trước một bước, soi đường, dẫn dắt, bồi đắp bản lĩnh, củng cố niềm tin, hình thành năng lực mềm quốc gia”.

Với tinh thần hành động triệt để, quyết tâm cao độ và tầm nhìn chiến lược, đồng bộ với các lĩnh vực then chốt của đất nước, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, nhắc đến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, lời dạy ấy đến hôm nay càng cho thấy văn hóa không chỉ đồng hành với phát triển, mà văn hóa phải đứng ở “vị trí dẫn đường”, là nền tảng định hình chất lượng con người và chất lượng quốc gia, là nền văn hóa hướng tới con người, là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, kết tinh trí tuệ Việt Nam và là động lực dẫn dắt sự phát triển dân tộc, độc lập, tự chủ, tự cường.

Nhận thức rõ vị trí, vai trò của văn hóa, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm, chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời ban hành những chủ trương, quyết sách phù hợp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, vấn đề phải phát triển văn hóa của dân tộc đã được đề cập. Đến năm 1943, trong hoàn cảnh chưa giành được chính quyền, Đảng ta đã thông qua “Đề cương về văn hóa Việt Nam”, trong đó xác định ba mặt trận quan trọng của cách mạng nước ta là chính trị, kinh tế và văn hóa; chủ trương phát triển nền văn hóa Việt Nam với các đặc trưng: Dân tộc - Khoa học - Đại chúng. “Đề cương về văn hóa Việt Nam” ra đời đã kịp thời đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cách mạng.

Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam đến các nghị quyết quan trọng qua các kỳ Đại hội, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Cương lĩnh bổ sung, phát triển (năm 2011), các nghị quyết chuyên đề về văn hóa, văn học, nghệ thuật và gần đây là các mục tiêu, định hướng được xác định trong Văn kiện Đại hội XIV là con đường nhất quán, kiên định và không ngừng đổi mới, sáng tạo tư duy lý luận của Đảng về phát triển văn hóa. Con đường đó khẳng định tư duy và nhận thức lý luận của Đảng về phát triển văn hóa ngày càng được hoàn thiện theo hướng toàn diện, hiện đại và hội nhập.


 “Đề cương về văn hóa Việt Nam” xác định ba mặt trận quan trọng của cách mạng nước ta là chính trị, kinh tế và văn hóa cùng các đặc trưng: Dân tộc - Khoa học - Đại chúng (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Đất nước vào kỷ nguyên phát triển mới, đồng bộ với Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã tổng kết thực tiễn, kế thừa và phát triển tư duy lý luận của Đảng, đề ra hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đột phá phát triển văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh mềm quốc gia.

Nghị quyết số 80-NQ/TW khẳng định một bước phát triển quan trọng về tư duy chiến lược: Văn hóa không chỉ là “nền tảng”, mà còn là “trụ cột” phát triển, cùng với chính trị, kinh tế, xã hội cấu thành hệ thống trụ đỡ bền chắc của quốc gia. Văn hóa chính là “hệ điều tiết”, thấm sâu vào mọi nền tảng tinh thần, động lực nội sinh quyết định sự hưng thịnh của đất nước.

Truyền đạt tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương nêu rõ: Các nghị quyết trước đây đều xác định “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”. Điều đó đúng khi xác định văn hóa thuộc thượng tầng kiến trúc mà sản phẩm của nó mang giá trị tinh thần đối với con người và xã hội. Song, cả về lý luận mới về văn hóa, thực tiễn đất nước 40 năm qua và thế giới hiện đại đã gợi mở một nhận thức mới. 

Để có thể phát triển bền vững đất nước, văn hóa không chỉ là “nền tảng tinh thần”, mà phải trở thành nền tảng vững chắc của sự phát triển. Nghị quyết 80-NQ/TW có tới 3 lần khẳng định: “Văn hóa, con người là nền tảng”, “Phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc”. Như vậy, Nghị quyết 80-NQ/TW thể hiện sự kế thừa và phát triển nhận thức về văn hóa. Đó là một quan điểm sâu, bao quát và mới về vị trí, vai trò của văn hoá.

Từ quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, các nhà nghiên cứu lý luận đều thống nhất rằng, nhận thức mới về văn hóa trong Nghị quyết 80-NQ/TW là một bước phát triển mới, đột phá trong tư duy lý luận của Đảng về văn hoá.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Hữu Phú, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương: Nhận thức mới về vai trò của văn hóa và tầm quan trọng đặc biệt của xây dựng, phát triển văn hóa trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, Đảng đã bổ sung, phát triển những nhận thức mới phù hợp với yêu cầu, điều kiện của giai đoạn mới. Đảng tiếp tục khẳng định và bổ sung những nhận thức đúng đắn về vai trò của văn hóa là mục tiêu, là động lực phát triển; là nguồn lực nội sinh to lớn. Ở đó, văn hóa là nền tảng phát triển không chỉ là nền tảng tinh thần, văn hóa bao hàm cả những giá trị tinh thần và giá trị vật chất; văn hóa là trụ cột (với tư cách là một lĩnh vực độc lập, văn hóa cùng với chính trị, kinh tế, xã hội là những trụ cột cơ bản phát triển đất nước); văn hóa là hệ điều tiết phát triển nhanh, bền vững (văn hóa thấm sâu, lan tỏa vào các lĩnh vực đời sống xã hội, tạo thành sự liên kết và tương tác biện chứng).

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương chia sẻ: Nghị quyết số 80-NQ/TW về văn hóa tích hợp được nhiều nội dung cơ bản của các nghị quyết đã có. Văn hóa đang dần thể hiện vai trò là “sức mạnh mềm” của quốc gia, khi văn hóa gắn kết với đời sống xã hội, đóng vai trò là “nền tảng”, là “gốc rễ” định vị thương hiệu Việt Nam; khẳng định hệ giá trị văn hóa dân tộc trong hệ giá trị văn hóa toàn cầu; đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại.

Nghị quyết số 80-NQ/TW lần đầu tiên xác lập rõ tầm nhìn chiến lược và mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam. Con đường lớn mở ra không gian chiến lược cho sự phát triển của văn hóa dân tộc ta trong kỷ nguyên mới để nền văn hóa Việt Nam xứng tầm một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hóa, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại.

Ảnh minh hoạ: TTXVN

Nghị quyết số 80-NQ/TW đồng thời xác định rõ các mục tiêu và hệ thống nhiệm vụ, giải pháp được xây dựng thống nhất, đồng bộ và khoa học. Đảng ta nhấn mạnh, phát triển toàn diện văn hoá, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của Nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới. 

Đó chính là “ngọn hải đăng” soi sáng con đường phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Có thể khẳng định, trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đứng trước cơ hội và thách thức đan xen của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là nền tảng, trụ cột, nguồn lực nội sinh, động lực đặc biệt và hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững. Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW đánh dấu bước tiến quan trọng trong tư duy của Đảng, đặt văn hóa vào trung tâm sức mạnh tổng hợp, hướng tới chuyển hóa giá trị thành sức mạnh mềm quốc gia một cách thực chất, hiệu quả và bền vững.

 

Bài 2: VĂN HÓA - CỘI NGUỒN, HỒN CỐT CỦA DÂN TỘC, SỨC MẠNH NỘI SINH QUAN TRỌNG ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Văn hóa Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc, hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam. Đó là sức mạnh nội sinh quan trọng, trực tiếp củng cố và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia, đóng vai trò then chốt trong chủ trương tự chủ chiến lược của đất nước trong kỷ nguyên mới. Với vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt, Đảng đã có những quyết sách chiến lược nhằm gìn giữ, bồi đắp “bản sắc”, phát huy cao độ văn hóa với tư cách là nguồn lực phát triển toàn diện cho các lĩnh vực của đất nước.

Trong dòng chảy lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa luôn là mạch nguồn bền bỉ hun đúc tâm hồn, khí phách và bản lĩnh Việt Nam. Có thể thấy rằng, nếu vị trí địa lý và giới hạn lãnh thổ tạo nên hình hài của một quốc gia, thì văn hóa chính là phần “hồn” tạo nên cốt cách, bản sắc dân tộc, là sức mạnh nội sinh giúp dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao biến thiên lịch sử để tồn tại, phát triển và khẳng định mình giữa dòng chảy văn minh nhân loại.

Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đúc kết: “Văn hóa xây nên dáng hình của dân tộc, định hình hệ giá trị quốc gia, bồi đắp hệ giá trị gia đình, hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ mới: yêu nước, nhân ái, đoàn kết, trung thực, trách nhiệm, sáng tạo, kỷ cương, khát vọng”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đúc kết: “Văn hóa xây nên dáng hình 

của dân tộc”. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Từ rất sớm, cha ông ta đã xây dựng nên một nền văn hóa giàu bản sắc, kết tinh từ lao động sản xuất, từ đời sống cộng đồng và quá trình thích ứng với tự nhiên, xã hội. Đó là nền văn hóa mang đậm tinh thần nhân văn, trọng nghĩa tình, đề cao đạo lý và gắn bó cộng đồng: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tinh thần cố kết làng xã, lòng yêu nước và ý thức quốc gia - dân tộc… trở thành những giá trị cốt lõi xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam.

Trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam không chỉ bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh quân sự, mà còn bằng “vũ khí văn hóa” - bằng tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và sức mạnh cố kết cộng đồng. Chính văn hóa đã tạo nên sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trước mọi thử thách.

Điều đặc biệt của văn hóa Việt Nam là sự thống nhất trong đa dạng, với 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi cộng đồng lại góp thêm một sắc màu văn hóa riêng, tạo nên bức tranh văn hóa Việt Nam phong phú mà vẫn thống nhất trong ý thức cộng đồng dân tộc. Tiêu biểu như: Giỗ Tổ Hùng Vương không đơn thuần là sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng, mà còn là không gian để cộng đồng tái hiện ký ức lịch sử, khẳng định căn tính văn hóa và truyền trao những giá trị đạo đức cho các thế hệ…

Giỗ Tổ Hùng Vương là không gian để cộng đồng tái hiện ký ức lịch sử, 

khẳng định căn tính văn hóa và truyền trao những giá trị đạo đức 

cho các thế hệ. (Ảnh: Báo chinhphu.vn)

Hòa cùng dòng chảy lịch sử dân tộc, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành nên nền văn hóa Việt Nam với những giá trị độc đáo, phong phú, thống nhất trong đa dạng. Văn hóa chính là cội nguồn, sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam, làm nên hồn cốt của dân tộc.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của văn hóa, Đảng ta luôn khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển đất nước. Những giá trị truyền thống vô giá đó đã được cả dân tộc ta gìn giữ, phát huy; là cơ sở, nền tảng để Đảng ta xác định các thành tố cốt lõi của hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đã xác định giá trị cốt lõi của từng hệ giá trị, trong đó: Hệ giá trị quốc gia bao gồm 9 thành tố: hoà bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc.

Hệ giá trị văn hoá bao gồm 4 thành tố: dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; hệ giá trị gia đình bao gồm 4 thành tố: ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh.

Chuẩn mực con người Việt Nam bao gồm 8 thành tố: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Đó là biểu hiện sinh động của quyết tâm vun gốc bản sắc trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc ta.

Để tiếp tục đắp bồi bản sắc văn hóa dân tộc, Đảng ta đã đề ra những giải pháp cụ thể nhằm phát triển toàn diện con người, đạo đức xã hội và xây dựng môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Đồng thời, bảo đảm đầy đủ quyền thụ hưởng và sáng tạo văn hoá, tiếp cận bình đẳng văn hoá, thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hoá giữa các vùng, miền, tầng lớp nhân dân. 

Mới đây, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã ban hành Nghị quyết và xác định ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hoá Việt Nam, với chủ trương là ngày nghỉ, người lao động được hưởng nguyên lương, để Nhân dân được nâng cao khả năng thụ hưởng văn hoá, đội ngũ văn nghệ sĩ được động viên sáng tạo, toàn xã hội đề cao, thực hành lối sống văn hoá, văn minh. 

Ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hoá Việt Nam là ngày nghỉ,  để Nhân dân 

nâng cao khả năng thụ hưởng văn hoá. Ảnh: TTXVN

Đây là minh chứng cụ thể để khẳng định nhất quán chủ trương phát triển văn hóa gắn liền với đời sống Nhân dân, để mạch nguồn văn hóa mãi mãi được vun trồng từ gốc rễ, để vững vàng đơm hoa, kết trái. Đó cũng chính là tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: “Văn hóa chỉ tồn tại vĩnh cửu khi hòa vào đời sống. Mọi chính sách phải hướng tới công chúng, tới cộng đồng, tới từng gia đình, từng khu phố, thôn bản, trường học, cơ quan, doanh nghiệp”.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số hiện nay, văn hóa ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia. Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tinh thần, văn hóa đang từng bước chuyển hóa thành sức mạnh mềm, thành tài nguyên phát triển và động lực kinh tế mới.

Việt Nam hiện có hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, hàng trăm di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, cùng 38 di sản được UNESCO ghi danh. Đây là “vỉa quặng mềm” vô giá để phát triển du lịch văn hóa và công nghiệp di sản.

Nhiều di sản văn hóa đã và đang được bảo tồn, phát triển gắn với mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa: Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc; Quần thể danh thắng Tràng An; di tích Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám; di tích cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình (Huế)… không chỉ là ký ức văn hóa, lịch sử, mà còn là trung tâm văn hóa - di sản, đang tham gia phát triển kinh tế, trở thành sức mạnh mềm quốc gia và là một trong những điểm đến nổi bật trên bản đồ du lịch quốc tế.

Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long cho rằng, giá trị đích thực của di sản có vai trò quan trọng trong việc thu hút, hấp dẫn du khách. Nhiều du khách quan tâm đến du lịch văn hóa, di sản. Khách du lịch di sản văn hóa thường thăm nhiều địa điểm hơn 2 lần, lưu trú lâu hơn 2,5 lần và tiêu nhiều hơn so với các loại hình du lịch truyền thống khác. Do vậy, nguồn tài nguyên di sản càng phong phú, độc đáo, đa dạng càng có sức hấp dẫn và cuốn hút du khách nhiều hơn.

Sức sống của văn hóa Việt Nam hôm nay còn thể hiện ở khả năng hòa nhập với đời sống đương đại mà không đánh mất bản sắc. Nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống đang được “làm mới” bằng hơi thở hiện đại để tiếp cận giới trẻ.

Thời gian gần đây, nhiều chương trình nghệ thuật đặc biệt, như: “Tổ quốc trong tim”, “Tự hào là người Việt Nam”; “Âm vang Tổ quốc”… cùng với các chương trình nghệ thuật chính luận tại Lễ kỷ niệm A50, A80 đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc, thu hút sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là khán giả trẻ; là tiềm lực quan trọng giúp có thể đẩy mạnh ngành công nghiệp giải trí tại đất nước ta trong thời gian tới.


Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là một trong những điểm đến nổi bật trên bản đồ du lịch quốc tế. 

(Nguồn: Báo ảnh Việt Nam)

Có thể thấy, công nghiệp văn hóa đã trở thành xu hướng phát triển quan trọng của nhiều quốc gia và công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước bứt phá. Tại Việt Nam, từ Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa năm 2016 đến Nghị quyết số 80-NQ/TW, tư duy về phát triển văn hóa đã có bước chuyển căn bản: từ chỗ chủ yếu bảo tồn sang kết hợp giữa bảo tồn với phát triển; từ “bao cấp văn hóa” sang “đầu tư cho văn hóa để tạo ra giá trị kinh tế và sức mạnh quốc gia”.

Hiện nay, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã đóng góp hơn 4% GDP với khoảng 70.000 cơ sở hoạt động và hơn 2,3 triệu lao động.

Trong giai đoạn 2016 - 2018, 12 ngành công nghiệp văn hóa đã đóng góp  doanh thu khoảng 8,081 tỷ USD (tương đương 3,61% GDP); năm 2021, đạt 3,92% GDP; năm 2022 tăng lên 4,04% GDP. Giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp trong giai đoạn 2018 - 2022 ước đạt 44 tỷ USD(2). 

Các sản phẩm công nghiệp văn hóa ngày càng phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu của công chúng trong nước và công chúng thế giới. Điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo, thủ công mỹ nghệ… đang từng bước trở thành ngành kinh tế dịch vụ quan trọng. Đặc biệt, điện ảnh Việt Nam đang cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ.

Năm 2025, “Mưa Đỏ” trở thành hiện tượng phòng vé khi đạt hơn 710 tỷ đồng doanh thu; cùng với tác phẩm “Địa đạo”, “Tử chiến trên không”… không chỉ thành công về thương mại mà tạo dấu ấn nghệ thuật và khơi dậy niềm tự hào dân tộc.

Điều đáng chú ý là những bộ phim về đề tài lịch sử, chiến tranh cách mạng lại nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của khán giả trẻ. Đó là tín hiệu đáng mừng cho thấy khi các giá trị truyền thống được thể hiện bằng ngôn ngữ điện ảnh hiện đại, văn hóa dân tộc hoàn toàn có thể chạm tới công chúng đương đại.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn nhận định: “Dấu ấn phát triển các ngành công nghiệp văn hóa 5 năm qua là rất xuất sắc, biến công nghiệp văn hóa trở thành động lực phát triển bền vững của đất nước”. Theo ông, sức mạnh của công nghiệp văn hóa không chỉ nằm ở giá trị kinh tế, mà còn ở khả năng lan tỏa bản sắc dân tộc, khơi dậy niềm tự hào và củng cố sức mạnh mềm quốc gia.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP. Đây được xem là mục tiêu khả thi nếu Việt Nam biết khai thác hiệu quả nguồn lực văn hóa truyền thống kết hợp với công nghệ số và sáng tạo hiện đại.

Quan trọng hơn, Nghị quyết đã mở ra tư duy mới: chuyển từ “quản lý văn hóa” sang quản trị, “kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo”. Điều đó có nghĩa Nhà nước không chỉ làm nhiệm vụ quản lý, mà còn phải tạo môi trường thuận lợi để văn hóa phát triển như một ngành kinh tế sáng tạo thực thụ.

Trong bối cảnh đó, công nghiệp di sản, điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hóa hay các nền tảng sáng tạo số sẽ trở thành hướng đi quan trọng để đưa văn hóa Việt Nam lan tỏa mạnh mẽ hơn ra thế giới. Đồng thời, đây cũng là con đường để biến tài nguyên văn hóa thành sức mạnh phát triển quốc gia.

Tiết mục trong chương trình nghệ thuật “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng”
Ảnh: Báo Nhân Dân.

Nghị quyết 80-NQ/TW là dấu mốc quan trọng về tư duy và đã tiếp cận toàn diện, hiện đại đối với phát triển văn hóa. Văn hóa được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế, thị trường và các ngành công nghiệp văn hoá, coi sản phẩm văn hoá là một nguồn lực phát triển, là thành tố quan trọng của “sức mạnh mềm” quốc gia.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Đảng ta yêu cầu thúc đẩy phát triển mạnh mẽ công nghiệp văn hóa nhằm chuyển hóa hiệu quả tài nguyên văn hóa thành sức mạnh mềm quốc gia. Tập trung xây dựng, phát triển hệ sinh thái văn hoá mang bản sắc Việt Nam, đa dạng, hiện đại, có sức mạnh dẫn dắt, thúc đẩy phát triển đất nước bền vững.

Nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hoá; lấy di sản văn hoá là trung tâm và tài nguyên văn hoá số là thế mạnh; phát triển kinh tế di sản, góp phần hoàn thiện hệ sinh thái văn hoá. Đây là nhiệm vụ, giải pháp gắn với bước chuyển về tư duy chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển đất nước. Đồng thời, triển khai đồng bộ các giải pháp đột phá thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa.

Đặc biệt chú trọng phát triển các thương hiệu văn hoá chất lượng cao, có sức cạnh tranh, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thương hiệu văn hoá mạnh trong chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu. 

Như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định: “Bản sắc là gốc, hội nhập là cành. Bản sắc giúp ta đứng vững và trường tồn; hội nhập giúp ta nở hoa kết trái và lan tỏa. Bảo tồn và phát triển bổ sung cho nhau trong một thực thể hữu cơ sống động”.

Đó cũng là nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng đã đề ra, đẩy mạnh giao lưu, hợp tác quốc tế, ngoại giao văn hóa và mở rộng không gian ảnh hưởng quốc gia. Phát huy vai trò của ngoại giao văn hóa như một trụ cột quan trọng trong tổng thể ngoại giao quốc gia. Thực hiện hiệu quả chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam, lấy văn hoá làm nền tảng, trụ cột, lan toả đất nước, con người Việt Nam là một quốc gia giàu bản sắc văn hoá, nhân văn, có trách nhiệm, đóng góp tích cực vào dòng chảy văn minh của nhân loại.



Bài 3: XỬ LÝ HÀI HÒA MỐI QUAN HỆ GIỮA “XÂY” VÀ “CHỐNG”

 Ý NGHĨA THEN CHỐT XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ

TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Nghị quyết số 80-NQ/TW lần đầu tiên đưa ra vấn đề mới, có ý nghĩa căn bản đối với toàn bộ tư duy chiến lược về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, nhất là bối cảnh thế giới đang trong tiến trình xác lập trật tự mới với những chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có. Cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ đang làm thay đổi các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị văn hoá, đặt ra nhu cầu cấp thiết về định vị quốc gia trong trật tự thế giới mới. 

Nhận thức mang tầm chiến lược đó của Đảng là tiền đề quan trọng để hoạch định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, trong đó yêu cầu xử lý hài hòa, hiệu quả mối quan hệ giữa “xây” và “chống” vừa có ý nghĩa là vấn đề nội tại của văn hóa, vừa có ý nghĩa quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong tiến trình hội nhập quốc tế và chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay, văn hóa Việt Nam đang đứng trước những cơ hội phát triển to lớn chưa từng có. Toàn cầu hóa giúp chúng ta tiếp cận tinh hoa văn hóa nhân loại, mở rộng giao lưu, sáng tạo và quảng bá hình ảnh đất nước ra thế giới. Tuy nhiên, đi cùng cơ hội luôn là những thách thức phức tạp, đặc biệt là nguy cơ phai nhạt bản sắc dân tộc, “hòa tan” trong dòng chảy văn hóa ngoại lai và sự xâm nhập của các sản phẩm phản văn hóa trên không gian mạng.

Đáng chú ý, văn hóa đang trở thành một trong những “mũi tấn công mềm” mà các thế lực thù địch tập trung khai thác trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Nếu như trước đây, sự chống phá thường biểu hiện trực diện, dễ nhận biết thì hiện nay, thủ đoạn đã tinh vi, mềm hóa và ẩn mình dưới nhiều lớp vỏ bọc khác nhau. Chúng không chỉ tấn công vào lĩnh vực chính trị, tư tưởng mà còn tác động vào chiều sâu tinh thần, hệ giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc nhằm làm suy yếu “sức đề kháng” của xã hội từ bên trong.

Tranh minh họa. (Nguồn: VOV)

Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất là lợi dụng chiêu bài “tự do sáng tạo”, “đa nguyên văn hóa”, “phản biện xã hội” để xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng và công kích vai trò lãnh đạo của Đảng. Dưới danh nghĩa đổi mới nghệ thuật, một số đối tượng cố tình bóp méo sự thật, hạ thấp các giá trị truyền thống, phủ nhận những hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước. Nguy hiểm ở chỗ, sự xuyên tạc này thường không ồn ào mà được cài cắm tinh vi qua phim ảnh, sách báo, âm nhạc, triển lãm nghệ thuật hay các nội dung lan truyền trên mạng xã hội.

Cùng với đó, các nền tảng số xuyên biên giới đang trở thành môi trường để phát tán nhanh chóng những sản phẩm văn hóa độc hại, lệch chuẩn. Các nội dung cổ súy lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, tâm lý hưởng thụ, bất chấp chuẩn mực đạo đức được lan truyền với tốc độ rất lớn. Không ít sản phẩm giải trí cố tình đề cao sự nổi loạn, phủ nhận giá trị gia đình, xem nhẹ truyền thống dân tộc, biến những hành vi lệch chuẩn thành “xu hướng” để thu hút sự chú ý.

Các thế lực thù địch cũng triệt để khai thác tâm lý sính ngoại, tâm lý muốn nổi tiếng nhanh của một bộ phận giới trẻ để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng. Thông qua các chương trình giao lưu, tài trợ, học bổng, giải thưởng quốc tế hay hoạt động hợp tác học thuật, một số tổ chức và cá nhân tìm cách lôi kéo văn nghệ sĩ, trí thức chạy theo những quan điểm cực đoan, phủ nhận nền tảng văn hóa dân tộc và giá trị cách mạng. 

Đặc biệt, có những tác phẩm văn học, nghệ thuật cố tình “bôi đen” hiện thực đất nước, chỉ khai thác mặt tiêu cực bằng góc nhìn phiến diện nhằm gieo rắc tâm lý bi quan, hoài nghi, mất niềm tin trong xã hội. Thay vì phản ánh hiện thực để xây dựng và hướng con người tới giá trị chân thiện mỹ, một số sản phẩm lại cổ súy cái xấu, thổi phồng mặt tối, phủ nhận thành tựu phát triển của đất nước. Nếu không tỉnh táo nhận diện, công chúng rất dễ bị dẫn dắt bởi những thông điệp sai lệch được ngụy trang dưới hình thức “nghệ thuật” hay “quyền tự do biểu đạt”.

Trong bối cảnh công nghệ số bùng nổ hiện nay, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa ngày càng âm thầm nhưng quyết liệt. Văn hóa không đơn thuần là hoạt động nghệ thuật hay giải trí, mà còn là trận địa tư tưởng giữ gìn căn cốt tinh thần, bản lĩnh và hồn cốt dân tộc.

Vì vậy, bảo vệ văn hóa hôm nay không chỉ là gìn giữ di sản hay phát huy truyền thống, mà còn là bảo vệ nền tảng tinh thần của quốc gia trước những nguy cơ “xâm lăng mềm” ngày càng tinh vi và phức tạp. Chỉ khi xây dựng được “sức đề kháng văn hóa” vững chắc trong mỗi con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, chúng ta mới có thể giữ vững bản sắc dân tộc trong dòng chảy toàn cầu hóa hiện đại.

Trong bối cảnh các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng lĩnh vực văn hóa để đẩy mạnh chống phá với âm mưu và thủ đoạn ngày càng thâm độc, tinh vi, vấn đề xử lý hài hòa mối quan hệ giữa “xây” và “chống” trong phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới đóng vai trò then chốt.

Thực tiễn cho thấy, “xây” và “chống” là hai nhiệm vụ thống nhất, không thể tách rời. “Xây” là nền tảng, là mục tiêu nhằm phát triển văn hóa thực sự trở thành “nền tảng”, “trụ cột”, “nguồn lực nội sinh”, “động lực quan trọng” và “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. “Chống” là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ những giá trị đúng đắn, ngăn chặn sự xâm nhập của các sản phẩm phản văn hóa, các quan điểm sai trái, độc hại làm suy giảm niềm tin xã hội và bào mòn bản sắc dân tộc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ nền văn hóa dân tộc. 

Yêu cầu đặt ra trước hết là phải tiếp tục triển khai hiệu quả hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây là nhiệm vụ cốt lõi để tạo nền tảng thống nhất, vững chắc cho xã hội. 

Giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa “xây” và “chống” trong phát triển văn hóa hiện nay thực chất là quá trình vừa bồi đắp các giá trị tốt đẹp, vừa chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng, giữ gìn bản sắc và củng cố sức mạnh tinh thần dân tộc. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nhiệm vụ mang tính chiến lược lâu dài để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời đại mới.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Trong đó Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động. Tập trung hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hoá. Đẩy mạnh đổi mới phương thức quản lý văn hoá theo hướng kiến tạo, phục vụ.

Xây dựng hệ sinh thái văn hoá, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hoá, thị trường văn hoá, định vị sản phẩm văn hoá thương hiệu quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hóa. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hoá đáp, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.

Trong tổng thể nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa, vấn đề nổi bật là tập trung xây dựng môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại; nêu cao văn hoá thượng tôn pháp luật từ gia đình, nhà trường, đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên nền tảng đạo đức, luật pháp, chuẩn mực xã hội và giá trị truyền thống, tinh thần đoàn kết, sẻ chia, tương thân, tương ái, trách nhiệm xã hội.

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã nhấn mạnh quán triệt yêu cầu “xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, nâng cao ý thức pháp luật, trách nhiệm công dân trong không gian số”. Đó là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ môi trường phát triển lành mạnh của con người Việt Nam trong bối cảnh mới.

Mặt khác, đặc biệt chú trọng phát huy vai trò động lực, nguồn lực của văn hóa góp phần phát triển nhanh và bền vững đất nước. Nếu trước đây văn hóa chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ “tiêu dùng ngân sách”, thì nay văn hóa được xác định là lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, tài sản trí tuệ và thương hiệu quốc gia.

Thực tế cho thấy Việt Nam đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp văn hóa. Đó là cơ cấu dân số vàng, nhu cầu tiêu dùng văn hóa tăng mạnh, sự bùng nổ của chuyển đổi số và kho tàng di sản văn hóa đặc sắc trải dài hàng nghìn năm lịch sử. Năm 2025, doanh thu thị trường điện ảnh Việt Nam đạt gần 5.600 tỷ đồng với khoảng 70 triệu vé bán ra - con số cho thấy tiềm năng rất lớn của thị trường văn hóa trong nước. 

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhận định, điểm đột phá lớn nhất của Nghị quyết số 80-NQ/TW chính là sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển: Văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai phát triển bền vững của đất nước. Theo ông, muốn chấn hưng văn hóa thành công thì trước hết phải tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế, tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo, phát triển thị trường công nghiệp văn hóa và hình thành hệ sinh thái sáng tạo mang bản sắc Việt Nam.

Nếu biết chuyển hóa giá trị di sản thành các sản phẩm văn hóa, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra những thương hiệu văn hóa mang tầm quốc tế. Trong ảnh:  Festival áo dài ở Huế là một trong những điểm nhấn thu hút du khách. (Ảnh: Báo Văn hoá)

Đồng quan điểm đó, Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan cho rằng, di sản văn hóa không chỉ là “ký ức dân tộc”, mà còn là nguồn tài nguyên đặc biệt để phát triển công nghiệp văn hóa trong thời đại số. Nếu biết chuyển hóa giá trị di sản thành các sản phẩm văn hóa sáng tạo như điện ảnh, du lịch văn hóa, nghệ thuật trình diễn, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra những thương hiệu văn hóa mang tầm quốc tế.

Theo các chuyên gia, để hiện thực hóa mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 như tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW, cần chuyển mạnh từ tư duy “quản lý văn hóa” sang tư duy “kiến tạo phát triển văn hóa”. Nhà nước không chỉ làm nhiệm vụ quản lý hành chính, mà cần đóng vai trò kiến tạo môi trường sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ doanh nghiệp văn hóa và xây dựng thị trường tiêu dùng văn hóa hiện đại. 

Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam nhấn mạnh: Văn hóa phải tham gia sâu vào kinh tế số, kinh tế sáng tạo, góp phần định hình vị thế quốc gia trong trật tự thế giới mới. Trong kỷ nguyên số, văn hóa không còn là lĩnh vực đứng bên ngoài phát triển kinh tế, mà trở thành nguồn lực trực tiếp tạo ra sức mạnh mềm và động lực tăng trưởng mới cho đất nước. 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đại biểu tham dự Đại hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam lần thứ IX (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, Đảng ta đã nhấn xác định môi trường số trở thành một “không gian mới” trong nhiệm vụ phát triển văn hóa, Đảng nhấn mạnh yêu cầu xử lý hài hòa, hiệu quả quan hệ giữa đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hoá số. Đảng yêu cầu xây dựng thế trận văn hoá gắn với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Kiên quyết xử lý thông tin xấu độc, phản văn hoá, tin giả trên mạng xã hội và phương tiện thông tin khác. Phát huy vai trò nền tảng của văn hoá trong việc hình thành bản lĩnh, “sức đề kháng” trước các tác động phức tạp và lệch chuẩn của văn hoá ngoại lai; giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp niềm tự hào và khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước.

Trước sự chống phá ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch, công tác đấu tranh không thể chỉ dừng ở xử lý hành chính hay phản ứng sau vụ việc, mà cần chủ động nhận diện sớm các xu hướng lệch lạc, nâng cao năng lực phản bác các quan điểm sai trái, đồng thời tăng cường “sức đề kháng văn hóa” cho xã hội. Đây không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước mà còn là trách nhiệm của báo chí, truyền thông, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức và toàn xã hội.

Đặc biệt, cần đặt thế hệ trẻ vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển văn hóa hiện nay. Thanh niên là lực lượng tiếp cận nhanh nhất với các xu hướng toàn cầu, đồng thời cũng là đối tượng chịu tác động trực tiếp từ môi trường truyền thông số. Vì vậy, bên cạnh việc trang bị tri thức và kỹ năng, cần chú trọng giáo dục lý tưởng sống, bản lĩnh văn hóa, khả năng chọn lọc thông tin và ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Khi người trẻ có nền tảng giá trị vững vàng, họ không chỉ là đối tượng thụ hưởng văn hóa mà còn trở thành lực lượng sáng tạo, lan tỏa những giá trị tích cực trong xã hội.

Có thể thấy, yêu cầu phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới, trong đó có nhiệm vụ cốt lõi là xử lý hài hòa, hiệu quả mối quan hệ giữa “xây” và “chống” không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa, mà là chiến lược phát triển quốc gia mang tầm dài hạn. Một nền văn hóa mạnh sẽ tạo nên một quốc gia mạnh; một dân tộc có bản lĩnh văn hóa vững vàng sẽ có đủ sức đề kháng trước mọi nguy cơ “xâm lăng văn hóa”, đồng thời tạo dựng sức mạnh nội sinh để phát triển nhanh và bền vững trước mọi khó khăn, thách thức.


















THÔNG TIN TÁC GIẢ

I - ĐẠI DIỆN NHÓM TÁC GIẢ

1. Đào Văn Hiếu, Vụ Văn hóa - Văn nghệ, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

II - THÀNH VIÊN TRONG NHÓM TÁC GIẢ

2. Phạm Văn Cường, Ban Xây dựng Đảng, Báo Nhân Dân. 

3. Hoàng Thị Phương Thanh, Vụ Văn hóa - Văn nghệ, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

* Địa chỉ liên hệ: Đào Văn Hiếu, Vụ Văn hóa - Văn nghệ, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

- Số điện thoại: 0904.684.346                 Email:daohieu.tlhp@gmail.com

- Số CCCD: 031088004873   

- Địa chỉ: 6C Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội.

 * Tên tác phẩm dự thi: Loạt bài viết: “Văn hoá soi sáng con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” 

Thể loại: Báo.



No comments: