Tóm tắt: Bài viết cung cấp những
luận cứ khoa học và thực tiễn sắc bén nhằm khẳng định sự thật khách quan không
thể phủ nhận về thành tựu tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
tại Việt Nam. Dựa trên nền tảng
lý luận nhất quán của Đảng, đặc biệt là những điểm đột phá trong Văn kiện Đại hội
XIV, cùng với hệ thống hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện và bức tranh thực
tiễn sinh động, bài viết trực diện bóc trần và phản bác đanh thép các luận điệu
xuyên tạc, thù địch về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Qua đó, bài viết không chỉ minh chứng cho những nỗ lực không
ngừng của Nhà nước Việt Nam trong việc thực thi quyền con người, mà còn khẳng định
việc bảo đảm tự do tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc chính là
phương thức hữu hiệu để làm thất bại mọi âm mưu "diễn biến hòa bình",
góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới
Từ khóa: Nghị quyết 35-NQ/TW; Tự do tôn giáo; Bảo vệ nền tảng tư tưởng; Phản
bác luận điệu thù địch; Đại hội XIV; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
1.
Đặt
vấn đề
Trong
suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc
luôn là nguồn lực nội sinh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong đó, đoàn kết tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời. Bước vào giai
đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng, vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung và
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng không chỉ là cam kết chính trị mà
còn là một phần tất yếu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa: “Đoàn kết tôn giáo, hoà hợp
dân tộc là yêu cầu quan trọng của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam” (Đảng Cộng
sản Việt Nam, 2026, tr.66). Tuy
nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới biến động phức tạp, các thế lực thù
địch vẫn không ngừng lợi dụng vấn đề tôn giáo như một "mũi đột phá" trong
âm mưu diễn biến hòa bình. Do
cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm nên trong các báo cáo của Ủy ban Tự do
tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) cũng như trên một số trang mạng luôn có những
luận điệu thiếu khách quan, sai
trái, thù địch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Từ đó, chúng tìm mọi cơ
hội để đưa Việt Nam vào "Danh sách các quốc gia cần quan tâm
đặc biệt" về vấn đề tôn
giáo, nhằm dễ bề can thiệp nội bộ, hạ bệ uy tín của Đảng và Nhà nước, phá hoại
đại đoàn kết dân tộc… Do
đó, việc nhận diện và đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch trên là
hết sức quan trọng, nhằm khẳng định về tự do tôn giáo ở Việt Nam dưới sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng, cũng như củng cố tinh thần đại đoàn kết của dân tộc và
uy thế của Việt Nam trên quốc tế.
2. Nhận
diện, phản bác một số luận điệu sai trái, thù địch trên lĩnh vực tôn giáo
2.1. Nhận diện một số luận điệu xuyên tạc, thù địch về
tự do tôn giáo tại Việt Nam
Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đã
và đang biến tôn giáo thành một “ngòi nổ chính trị” nhằm chống phá đất nước
Việt Nam. Sự chống phá này được vận hành tinh vi thông qua sự kết hợp chặt chẽ
giữa các luận điệu xuyên tạc và thủ đoạn nham hiểm. Chúng tập trung phủ nhận mọi nỗ lực của Đảng và
Nhà nước ta bằng cách rêu rao rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo thực sự; quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo vẫn chưa được cải thiện; Việt Nam hạn chế, cản trở,
đàn áp hoạt động tôn giáo. Các tổ chức thiếu
thiện chí như USCIRF liên tục đưa ra những báo cáo phiến diện, áp đặt để nhằm đưa
Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Chúng rêu
rao, bịa đặt về sự tồn tại của cái gọi là “tù nhân lương tâm” hay “tù nhân tôn
giáo”. Về thủ đoạn thực
hiện, chúng triệt để sử dụng phương thức “chính
trị hóa các vụ việc cá biệt”. Mọi tranh chấp đất đai hay hành vi vi phạm pháp luật của một
số cá nhân đều được chúng nhào nặn, gán ghép với vấn đề tôn giáo và vu
cáo chính quyền “đàn áp tôn giáo” để kích động đồng
bào và gây áp lực với dư luận quốc tế. Nguy hiểm hơn là thủ đoạn “kết hợp vấn
đề dân tộc với tôn giáo”, điển hình là hoạt động của tổ chức “Người Thượng Vì
Công lý” nhằm lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số đòi “quyền tự trị”, mưu đồ ly
khai, phá hoại khối đại đoàn kết. Ngoài ra, chúng còn xuyên tạc bản chất của
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khi gán ghép việc đăng ký sinh hoạt là biện pháp
“kiểm soát, bóp nghẹt” đức tin trong khi thực chất đó là biện pháp để
bảo hộ quyền lợi hợp pháp của chính các nhóm tôn giáo ấy nhằm phân định rõ với
các hoạt động bất hợp pháp của Giáo hội
Phật giáo Việt Nam thống nhất, các hệ phái Tin Lành chưa được công nhận, các hiện
tượng tôn giáo mới như Pháp Luân Công, Dương Văn Mình…
Việt
Nam luôn tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên những hành vi lợi
dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, gây mất an ninh trật tự, phá hoại đại đoàn
kết dân tộc đều bị xử lý nghiêm minh theo đúng tinh thần của Hiến pháp và Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, những
luận điệu cho rằng Việt Nam hạn chế quyền tự do tôn giáo, gây khó khăn hay đàn áp các nhóm tôn giáo thiểu số không phải là tiếng nói khách quan, càng không phản
ánh đúng thực tế.
2.2. Những
căn cứ để phản bác luận điệu xuyên tạc, thù địch về tự do tôn giáo ở Việt Nam
Thứ
nhất, sự nhất quán trong quan điểm của Đảng về tự do tôn giáo
Quan điểm của Đảng về bảo
đảm quyền tự do tôn giáo luôn xuyên suốt, nhất quán trong các kỳ Đại hội. Bước
vào thời kỳ đổi mới, nhận thức và ứng xử với tôn giáo của
Đảng đã có
những thay đổi
tích cực, mang tính đột phá, khắc phục một số hạn
chế trước đây trong công tác tôn giáo. Điều này
được khẳng định qua Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày
16-10-1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong
tình hình mới.
Trong đó, tín ngưỡng, tôn giáo được xác định là nhu cầu tinh thần của một
bộ phận nhân dân, hàm chứa sự khẳng định việc đảm bảo nhu cầu tự do tôn giáo.
Sau đó, Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Bảy khoá IX đã ban hành Nghị
quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo, ngày 12-3-2003 khẳng định: “Thực
hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo
đúng pháp luật” (Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, 2003, tr.48). Bước sang giai đoạn hiện nay, Văn kiện Đại hội XIII và đặc
biệt là Văn kiện Đại hội XIV đã tái khẳng định quan điểm này: "Bảo đảm,
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của
người dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.124). Việc "bảo đảm" và
"tôn trọng" trong Văn kiện Đại hội XIV không chỉ là câu chữ mà là một
bước khẳng định trong tư duy lý luận của Đảng về tự do tôn giáo. Điều đó cho
thấy, Đảng và Nhà nước không chỉ đứng ở vị thế "tôn trọng" một thực
tế khách quan mà còn chủ động thiết lập các cơ chế, nguồn lực để "bảo
đảm" quyền đó được thực thi trong đời sống. Đây chính là luận cứ khoa học
sắc bén nhất để phủ nhận mọi cáo buộc cho rằng Việt Nam "đàn áp" hay
"hạn chế" tôn giáo.
Thứ
hai, cơ sở pháp lý ngày càng hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền tự do tôn
giáo của người dân
Song
hành với tư duy lý luận, hệ thống pháp luật của Việt Nam về tôn giáo đã được
hoàn thiện, tạo ra "lá chắn" pháp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho
tín đồ và chức sắc tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 là văn bản pháp lý cao nhất
khẳng định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và các tôn giáo đều
bình đẳng trước pháp luật. Sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 (có
hiệu lực từ năm 2018) đã cụ thể hóa tinh thần của Hiến pháp, mở rộng đối tượng
được bảo đảm quyền từ "công dân" thành "mọi người". Điều
này cho thấy tính nhân văn và sự tương đồng sâu sắc với các văn bản nhân quyền
quốc tế như Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948) và Công ước quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị (1966). Tiếp sau đó, Nghị định số 95/2023/NĐ-CP và
Nghị định số 124/2025/NĐ-CP (quy định về phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà
nước về tôn giáo) đã tạo ra một cơ chế quản lý đồng bộ, minh bạch. Và đặc biệt,
Sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 ngày 23-04-2026, có
hiệu lực từ 01/01/2027 trong bối cảnh mới đã tiếp tục khẳng định sự tôn trọng,
đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Những văn bản này không phải để
"bóp nghẹt" nhu cầu tôn giáo như các thế lực thù địch rêu rao, mà nhằm
tạo môi trường ổn định, hòa hợp, bảo hộ các hoạt động; cơ sở thờ tự và tài sản
hợp pháp của tôn giáo; giúp các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân để tham
gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội.
Thứ
ba, thực tiễn sinh động là minh chứng phản bác lại các luận điệu thù địch bôi nhọ tự do tôn giáo ở
Việt Nam
Đời
sống tôn giáo tại Việt Nam hiện nay là một bức tranh đa sắc màu, sôi động và
đầy sức sống mà không một ai có thể phủ nhận. Tính đến nay, Nhà nước Việt Nam đã
công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức được công nhận và cấp giấy chứng nhận
đăng ký hoạt động thuộc 16 tôn giáo với gần 27,4 triệu đồng bào có đạo,
cùng với 66.365 chức sắc, 120.475 chức việc (Sỹ Hào, 2026). Cả nước có trên 3.300 điểm
nhóm Tin lành được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung (Ban Tôn giáo Chính phủ, 2022). Nhiều cơ sở thờ tự ngày càng khang trang hơn, được tạo
điều kiện để xây dựng mới. Hoạt động phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức
sắc, chức việc, nhà tu hành được thực hiện thuận lợi. Các
lễ hội, sự kiện tôn giáo lớn được diễn ra long trọng, an toàn, có tính chất quốc
tế như Đại lễ Vesak Liên hiệp quốc 2025 của Phật
giáo tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh; Lễ Tuyên phong Chân phước
cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp diễn ra vào ngày
02/07/2026 tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy, Giáo phận Cần Thơ đã thu hút hàng
triệu tín hữu trong và ngoài nước hướng về. Việt
Nam cũng đã mời nhiều đoàn quan sát quốc tế đến tìm hiểu thực tế hoạt động tôn
giáo, khẳng định tinh thần cởi mở, minh bạch trong chính sách và thực tiễn bảo
đảm tự do tôn giáo.
Bên cạnh đó, cả nước hiện có khoảng 300 trường
mầm non, 2.000 lớp học tình thương; 12 cơ sở dạy nghề thuộc các tổ chức tôn
giáo đang hoạt động; khoảng 500 cơ sở khám chữa bệnh từ thiện của các tổ chức
tôn giáo thành lập dưới nhiều hình thức; gần 800 cơ sở bảo trợ xã hội của các tổ
chức tôn giáo đang nuôi dưỡng trên 12.000 trẻ em mồ côi, trẻ tàn tật, người già
cô đơn, bệnh nhân tâm thần, HIV/AIDS (Bộ Dân tộc và Tôn giáo, 2025). Hình ảnh các vị chức sắc, tín đồ trúng cử đại biểu Quốc hội
khóa XV và hàng nghìn người tham gia Hội đồng nhân dân các cấp là minh chứng rõ
nét nhất cho việc tôn giáo không hề đứng ngoài cuộc mà luôn đồng hành cùng dân
tộc. Và bằng chứng thuyết phục nhất chính là việc Việt Nam đã ba lần trúng cử
vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Đây là sự ghi nhận khách quan, công tâm
của cộng đồng quốc tế đối với nỗ lực bảo đảm quyền con người và tự do tôn giáo
của Việt Nam.
3.
Giải pháp cơ bản nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới
Thứ
nhất, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền. Cấp
ủy, chính quyền các cấp; Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35; các cơ quan báo
chí, truyền thông chủ lực; đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và cán bộ
làm công tác tôn giáo cần đa dạng hóa loại hình, cách thức thông tin tuyên truyền
để cho cán bộ, đảng viên và nhân dân
hiểu đúng, đủ về quan điểm của Đảng, Luật Tín ngưỡng tôn giáo cũng như các thể
chế liên quan đến vấn đề tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo. Bên cạnh
đó, tiếp tục sử dụng các kênh truyền thông hiện đại, đối ngoại để lan tỏa những
"con số biết nói" về tôn giáo và các tấm gương "tốt đời, đẹp
đạo" ra toàn thế giới để cộng đồng quốc tế hiểu rõ thực chất về tự do tôn
giáo ở Việt Nam.
Thứ
hai, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý. Đây
là trọng trách của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về tôn
giáo từ trung ương đến địa phương. Trọng tâm của giai đoạn hiện nay là phải
nhanh chóng đưa Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 (có hiệu lực từ 01/01/2027)
đi vào cuộc sống thông qua các hình thức triển khai trực tiếp và gián tiếp. Luật
tín ngưỡng, tôn giáo 2026 ra đời tiếp tục có tác động tích cực đến cá nhân, tổ
chức, điểm nhóm tôn giáo thông qua việc cải cách, đơn giản hóa tối đa các thủ tục
hành chính, kiến tạo hành lang pháp lý an toàn cho các hoạt động tôn giáo. Song
song với đó, các quy định thể chế đủ mạnh để kiên quyết xử lý nghiêm minh mọi
cá nhân, tổ chức núp bóng tôn giáo để trục lợi, vi phạm pháp luật, đặc biệt
trên không gian mạng. Mục tiêu của giải pháp này là vừa tôn trọng, vừa đảm bảo quyền
tự do tín ngưỡng tôn giáo chính đáng, đồng
thời vừa bảo vệ tính thượng tôn pháp luật và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ
ba, phát huy nguồn lực tôn giáo. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và chính quyền các cấp cần chủ động phối
hợp, đồng hành cùng các cá nhân, tổ chức tôn giáo trong việc phát huy giá trị
văn hóa đạo đức của tôn giáo; tạo điều kiện các tôn giáo tham gia sâu rộng hơn
vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, an sinh xã hội và từ thiện nhân đạo. Từ đó,
chuyển hóa những giáo lý tốt đẹp, các nguồn lực nguồn lực vật chất và tinh thần
của tôn giáo để cùng xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ
tư, chủ động phản bác trực diện với các luận điệu xuyên tạc. Quán
triệt tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 35-NQ/TW, Ban Chỉ đạo 35 các cấp, lực lượng
chuyên trách và đội ngũ trí thức lý luận luôn phải chủ động phản bác trực diện
vào các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam của
các tổ chức thiếu thiện chí như HRW hay các hội nhóm phản động lưu vong. Thông
qua các luận cứ khoa học, kết hợp với các minh chứng từ thực tiễn sinh động để
làm "vũ khí" và "lá chắn thép" trong việc đấu tranh với các
luận điệu, âm mưu thủ đoạn thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, giữ
vững uy tín và vị thế chính trị - ngoại giao của quốc gia trên trường quốc tế.
Thứ
năm, cần thiết lập và vận hành hiệu quả cơ chế giám sát cũng như cơ chế cảnh
báo sớm các hoạt động lợi dụng tôn giáo ở cơ sở. Hệ thống chính trị
cấp xã, lực lượng công an cơ sở, cán bộ dân vận và những người có uy tín trong
cộng đồng đóng vai trò là tuyến phòng thủ đầu tiên. Lực lượng này phải trực tiếp
theo dõi, bám sát các hiện tượng truyền đạo trái phép, đạo lạ, tà đạo hoặc những
bức xúc nội bộ trong cộng đồng dân cư, phát huy tối đa phương châm "phòng
bệnh hơn chữa bệnh" và xây dựng vững chắc "thế trận lòng dân".
Qua đó, chính quyền cơ sở sẽ kịp thời phát hiện, hóa giải mọi mâu thuẫn ngay từ
khi mới nhen nhóm, triệt tiêu mầm mống bất ổn từ sớm, từ xa, kiên quyết không để
hình thành các "điểm nóng" về an ninh tôn giáo, không tạo bất cứ khoảng
trống nào cho các thế lực thù địch lợi dụng kích động, phá hoại.
4.
Kết luận
Tự
do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam là một sự thật khách quan, một kết quả tất
yếu của quá trình thực thi chính sách đúng đắn và nhất quán của Đảng, Nhà nước.
Những cáo buộc về việc "đàn áp" hay "vi phạm nhân quyền"
chỉ là những âm mưu chính trị lỗi thời nhằm ngăn cản sự phát triển của đất
nước. Việc quán triệt sâu sắc tinh thần Đại hội XIV về bảo đảm quyền tự do tôn
giáo chính là cách tốt nhất để củng cố niềm tin xã hội, khơi dậy khát vọng cống
hiến của mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt niềm tin tôn giáo. Trong khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, tôn giáo sẽ mãi là một nguồn lực quan trọng, đồng
hành cùng đất nước hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh.
TS. Trần Thị Thúy Vân
Học viện Chính trị khu vực II
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
1.
Ban
Chấp hành Trung ương Đảng. (2003). Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 về
công tác tôn giáo.
2.
Ban
Tôn giáo Chính phủ. (2022). Tôn giáo và Chính sách tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà
nội, tr.90
3.
Bộ
Chính trị. (1990). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày
16-10-1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
4.
Bộ
Chính trị. (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày
22-10-2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác
các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
5.
Bộ
Dân tộc và Tôn giáo. (2025). Báo cáo số
3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 về tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn
giáo.
6.
Chính
phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2023). Nghị
định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29-12-2023 quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
7.
Chính
phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2025). Nghị
định số 124/2025/NĐ-CP quy định về phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước
về tôn giáo.
8.
Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.
NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
9.
Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIV.
10.
Liên
hợp quốc. (1948). Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
(Universal Declaration of Human Rights - UDHR).
11.
Liên
hợp quốc. (1966). Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR).
12.
Sỹ Hào. (2026). Nguồn lực tôn giáo mạch
ngầm củng cố thế trận lòng dân, Thứ
Tư, 01/04/2026 https://vietnamnet.vn/nguon-luc-ton-giao-mach-ngam-cung-co-the-tran-long-dan-2496402.html
13.
Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2013). Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
14.
Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2016). Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo (Luật số 02/2016/QH14 ngày 18-11-2016).
15.
Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2026). Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo (Luật số 07/2026/QH16 ngày 23-04-2026).
No comments:
Post a Comment