Tóm tắt: Trong bối cảnh
xuất hiện nhiều cách diễn giải phiến diện, thậm chí xuyên tạc về Phan Châu
Trinh và lịch sử dân tộc, việc nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái có
ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị
quyết số 35-NQ/TW. Trên
cơ sở phương pháp tiếp cận lịch sử cụ thể, bài viết phân tích những đóng góp của
Phan Châu Trinh đối với phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX qua tư tưởng “khai
dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, đồng thời làm rõ những giới hạn lịch sử của
khuynh hướng cải cách trong bối cảnh Việt Nam thuộc địa. Nghiên cứu cũng chỉ ra
một số biểu hiện xuyên tạc hiện nay như tuyệt đối hóa khuynh hướng cải cách, đối
lập hóa các con đường cứu nước và xuyên tạc cách nhìn nhận, đánh giá đối với
Phan Châu Trinh. Từ việc phân tích bối cảnh lịch sử cụ thể, bài viết khẳng định
rằng các khuynh hướng yêu nước đương thời, tuy khác nhau về phương thức nhưng đều hướng tới mục
tiêu giải phóng dân tộc. Đồng thời, việc đánh giá Phan Châu Trinh cần được đặt
trong mối quan hệ biện chứng giữa những đóng góp lịch sử và những giới hạn
khách quan của thời đại. Qua đó, bài viết góp phần khẳng định cách nhìn khách
quan, toàn diện đối với Phan Châu Trinh và phong trào yêu nước Việt Nam giai đoạn
này, đồng thời nâng cao
hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giai đoạn hiện
nay.
Từ khóa: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; Phan Châu Trinh; phong trào yêu nước
Việt Nam.
1. Mở đầu
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam cận đại, con đường cách mạng giải phóng
dân tộc là kết quả tất yếu của thực tiễn đất nước, trong bối cảnh các khuynh hướng
cứu nước đương thời chưa thể đáp ứng yêu cầu giành độc lập. Trên cơ sở đó, việc
nhận thức đúng về các tư tưởng và con đường cứu nước đầu thế kỷ XX. Trong đó tư tưởng Phan Châu Trinh, có ý nghĩa quan trọng đối với việc đánh giá khách
quan tiến trình phát triển của dân tộc.
Phan Châu Trinh là một nhà tư tưởng canh tân tiêu biểu đầu thế kỷ XX, đại
diện cho khuynh hướng cải cách. Tư tưởng của ông tập trung vào việc nâng cao
dân trí, phát huy dân quyền và đề cao vai trò của nhân dân trong công cuộc đổi
mới đất nước. Những tư tưởng này đã góp phần thúc đẩy sự chuyển biến trong nhận
thức chính trị - xã hội Việt Nam thời cận đại, từ chỗ đề cao quân quyền sang
chú trọng dân quyền và ý thức công dân. Tuy nhiên, hiện nay một số luận điệu đã lợi dụng việc tôn
vinh và kỷ niệm ngày sinh của Phan Châu Trinh để đưa ra những cách diễn giải phiến diện về quá khứ. Các quan điểm này thường tách tư tưởng
Phan Châu Trinh khỏi điều kiện lịch sử đương thời, từ đó tuyệt đối hóa khuynh hướng cải
cách và phủ nhận tính tất yếu của con đường cách mạng giải phóng dân tộc.Đồng
thời, chúng xuyên tạc việc đánh giá Phan Châu Trinh bằng cách đồng nhất những hạn
chế mang tính lịch sử của khuynh hướng cải cách với sự phủ nhận tinh thần yêu
nước và những đóng góp của ông đối với phong trào yêu nước Việt Nam. Qua đó, các luận điệu này tạo dựng sự
đối lập giữa Phan Châu Trinh với cách mạng Việt Nam cũng như giữa các khuynh hướng
yêu nước cùng thời.
Những cách diễn giải đó không chỉ làm sai lệch nhận thức về các nhân vật
lịch sử mà còn dẫn tới cách nhìn thiếu khách quan về tiến trình phát triển của
cách mạng Việt Nam. Vì vậy, việc làm rõ giá trị, đóng góp và giới hạn lịch sử của
tư tưởng Phan Châu Trinh có ý nghĩa cả về phương pháp luận và thực tiễn đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Qua đó góp phần khẳng định cách nhìn
nhận khách quan, toàn diện đối với Phan Châu Trinh trong tiến trình cách mạng, củng cố nhận thức đúng đắn về con
đường cách mạng Việt Nam và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần
Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị.
2. Nhận
diện và đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về Phan Châu Trinh
2.1. Nhận diện và phản bác các luận điệu tuyệt đối hóa
tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh
Một số luận điệu trên mạng xã hội và các bài viết mang tính suy diễn đã
đưa ra những giả định lịch sử rằng: “nếu còn sống đến sau năm 1945 thì Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học thành phản động
và thậm chí có thể bị Việt Minh tiêu diệt”. Đồng thời, cũng xuất hiện cách lập
luận tuyệt đối hóa con đường “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, cho rằng
nếu Việt Nam lựa chọn cải cách ôn hòa thay vì đấu tranh cách mạng thì có thể
tránh được chiến tranh, hy sinh và mất mát trong thế kỷ XX. Các quan điểm này
hàm ý phủ nhận tính tất yếu của con đường cách mạng giải phóng dân tộc.
Về bản chất, đây là những cách tiếp cận mang tính suy diễn, không đặt các
nhân vật và khuynh hướng cứu nước trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Từ đó, chúng đưa ra
những kết luận thiếu cơ sở khoa học, biến sự khác biệt về phương pháp cứu nước
thành sự đối lập về lập trường, nhằm tạo ra nhận thức sai lệch về các lực lượng
yêu nước phong trào giải phóng dân tộc. Đồng thời, cách tiếp cận này làm giản lược tiến trình lịch sử,
khi quy các khuynh hướng chính trị đa dạng thành những xung đột về mục tiêu. Thứ nhất, đồng nhất sự khác biệt về phương thức hành động với sự khác biệt
về lập trường dân tộc; Thứ hai, quy
các khuynh hướng yêu nước khác nhau thành những lực lượng đối lập, qua đó làm
suy giảm nhận thức về tính kế thừa, bổ sung và phát triển trong truyền thống
yêu nước Việt Nam.
Trong thực tế lịch sử, “Phan Châu Trinh
là ngọn cờ dân chủ mạnh mẽ nhất, tiêu biểu cho trào lưu canh tân đất nước vào đầu
thế kỷ XX”[i].
Trong tư tưởng của ông, trọng tâm là nâng cao dân trí và phát huy dân quyền như
nền tảng của công cuộc canh tân đất nước. Quan điểm này được thể hiện rõ trong
sự coi trọng giáo dục và học vấn của ông. Phan Châu Trinh từng khẳng định: “Đồng
bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng
cho đồng bào, là Chi bằng học”[ii].
Lời kêu gọi ấy phản ánh niềm tin của ông vào vai trò của tri thức và sự thức tỉnh
của nhân dân như tiền đề cho quá trình duy tân đất nước.
Trên cơ sở đó, Phan Châu Trinh đề cao dân quyền như một điều kiện quan trọng
để chuyển biến xã hội từ chế độ quân chủ sang một thiết chế đề cao vai trò chủ thể của nhân dân. Đây
chính là cốt lõi tư tưởng quan trọng gắn với chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu
dân sinh”, qua đó tạo tiền đề cho sự hình thành ý thức công dân trong xã hội Việt
Nam thời cận đại. Tuy
nhiên, trong bối cảnh đương thời, đây không phải là con đường cứu nước duy nhất.
Cùng thời kỳ đó, bên cạnh khuynh hướng cải cách còn xuất hiện các khuynh hướng
cứu nước khác.
Tiêu biểu là khuynh hướng bạo động do Nguyễn Thái Học đại diện, chủ trương sử dụng
đấu tranh vũ trang chống lại ách thống trị thực dân. Mặc dù có sự khác biệt về cách thức hành động, các lựa chọn này đều
xuất phát từ lòng yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc. Do đó, việc cố tình
xem các khuynh hướng đó như những lực lượng loại trừ lẫn nhau là cách nhìn mang
tính một chiều, không phản ánh đúng bản chất của phong trào yêu nước Việt Nam
giai đoạn cận đại.
Để nhìn nhận
đúng giá trị và giới hạn của tư tưởng cải cách Phan Châu Trinh, cần đặt khuynh
hướng này trong bối cảnh lịch sử cụ thể của xã hội Việt Nam thuộc địa. Dưới sự
thống trị của thực dân Pháp, quyền tự quyết dân tộc bị tước bỏ, mọi hoạt động
chính trị - xã hội đều chịu sự khống chế của bộ máy cai trị thuộc địa. Trong
hoàn cảnh đó, yêu cầu khách quan của lịch sử không chỉ dừng lại ở cải cách xã hội
mà trước hết là giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc và khôi phục chủ quyền
quốc gia. Từ cách tiếp cận lịch
sử cụ thể, có thể thấy rằng việc tuyệt đối hóa vai trò của “khai dân trí” và từ đó phủ nhận tính tất yếu của đấu
tranh cách mạng là một cách nhìn phi lịch sử, do đã tách rời tư tưởng cải cách
khỏi những điều kiện cấu trúc của chế độ thuộc địa. Nhiều nghiên cứu cho thấy
đây là giai đoạn “cường quyền thịnh hành, hơn được yếu thua”[iii].
Khi quyền lực chính trị - quân sự hoàn toàn thuộc về chính quyền thực dân, các
hoạt động vận động ôn hòa khó có điều kiện phát huy hiệu quả. Do đó, những giải
pháp mang tính cải lương và khai hóa không đủ khả năng giải quyết triệt để nhiệm
vụ giành độc lập dân tộc. Thực
tiễn đã chứng minh rõ điều này: mặc dù Phan Châu Trinh kiên trì chủ trương cải
cách ôn hòa và bất bạo động, nhưng sau phong trào chống thuế Trung Kỳ năm 1908,
chính quyền thực dân Pháp vẫn kết án ông tử hình (sau giảm xuống khổ sai chung
thân) và đày ra Côn Đảo[iv].
Điều đó cho thấy chính quyền thực dân không khoan nhượng với bất kỳ khuynh hướng
yêu nước nào, dù ôn hòa hay bạo động. Từ thực tiễn đó có thể lý giải vì sao các cuộc vận động cải cách đầu thế kỷ
XX, trong đó có phong trào Duy Tân, có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao
dân trí và khơi dậy tinh thần dân tộc, nhưng chưa thể giải quyết nhiệm vụ giành
độc lập dân tộc trong điều kiện thuộc địa.
Không chỉ thực tiễn lịch sử, mà chính những quan điểm được Phan Châu
Trinh thể hiện trong giai đoạn cuối đời cũng cho thấy ông không xem cải cách ôn
hòa là lựa chọn duy nhất cho sự nghiệp cứu nước. Trong thư gửi
Nguyễn Ái Quốc từ Marseille ngày 18/02/1922, ông cho rằng cần “phải trở về ẩn
náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền
áp chế, ắt là thành công”[v].
Đồng thời, ông cũng khuyến khích Nguyễn Ái Quốc đem chủ nghĩa của “ông Mã Khắc Tư, ông Lý Ninh” (Mác -
Lênin) về “quảng cáo cho quốc dân đồng bào”[vi]. Nội
dung này cho thấy nhận thức của Phan Châu Trinh về con
đường cứu nước đã có những thay đổi nhất định. Ông không phải là người tuyệt đối hóa một cách cứng nhắc con
đường cải cách ôn hòa như một số luận điệu xuyên tạc hiện nay cố tình gán ghép.
Do đó, việc lịch sử lựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc không
phải là sự phủ định giá trị của trào lưu canh tân, mà là kết quả của những điều
kiện lịch sử khách quan. Việc tuyệt đối hóa con đường cải cách ôn hòa để phủ nhận
tính tất yếu của đấu tranh cách mạng là cách diễn giải thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Từ đó, các luận điệu
quy sự khác biệt về phương thức cứu nước thành sự đối lập tuyệt đối giữa cải
cách và cách mạng là cách nhìn phiến diện, không phản ánh đúng các khuynh hướng
yêu nước trong lịch sử dân tộc. Việc đánh giá Phan Châu Trinh cần được đặt trên
quan điểm biện chứng và toàn diện: vừa ghi nhận những đóng góp quan trọng của
ông đối với quá trình thức tỉnh dân quyền và dân chủ, vừa nhận thức rõ giới hạn
lịch sử của khuynh hướng cải cách trong bối cảnh thuộc địa.
2.2. Nhận diện và phản
bác các luận điệu xuyên tạc về đánh giá đối với Phan Châu Trinh
Một số luận điệu hiện nay cố tình xuyên tạc cách nhìn nhận và đánh giá đối
với Phan Châu Trinh trong đời sống chính trị - xã hội Việt Nam, cho rằng ông chỉ
được nhìn nhận như một người “cải lương”, “ỷ Pháp”, “mong giặc rủ lòng thương”,
qua đó hạ thấp hoặc phủ nhận những đóng góp của ông đối với phong trào yêu nước
đầu thế kỷ XX. Từ đó hình thành ba luận điệu xuyên tạc chủ yếu: Một là, chúng cho
rằng Đảng Cộng sản Việt Nam có thái độ phủ nhận hoặc hạ thấp vai trò lịch sử của
Phan Châu Trinh; Hai là, chúng đồng nhất việc chỉ ra những hạn chế lịch
sử của đường lối cải cách với việc phủ nhận tinh thần yêu nước và những đóng góp của ông; Ba là, chúng tạo dựng sự mâu thuẫn giữa Phan Châu Trinh với con đường
cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Trên thực tế, những luận điệu này bắt nguồn từ thủ đoạn cắt ghép, nhào nặn
lịch sử theo kiểu “gọt chân cho vừa giày”. Sự ngụy biện này xuất phát từ sự
đánh tráo khái niệm: cố tình không phân biệt giữa tôn vinh giá trị nhân vật với
việc nhận diện giới hạn của một con đường cứu nước. Trong nhận thức khoa học,
việc chỉ ra những hạn chế khách quan của một khuynh hướng cứu nước không đồng
nghĩa với việc phủ nhận tinh thần yêu nước hay những giá trị của các nhân vật đại
diện cho xu hướng đó.
Trên phương diện nghiên cứu lịch sử, việc đánh giá các nhân vật
cần quán triệt nguyên tắc lịch sử cụ thể, đặt họ trong bối cảnh thời đại để xem
xét đầy đủ cả những đóng góp và giới hạn của từng khuynh hướng cứu nước, tránh
tuyệt đối hóa hoặc phủ định một chiều. Quan điểm này được thể hiện nhất quán
trong nhiều tư liệu và công trình nghiên cứu về Phan Châu Trinh. Theo đó, ông được ghi nhận là một
chí sĩ yêu nước tiêu biểu trong phong trào yêu nước thời cận đại,
có vai trò to lớn đối với
phong trào dân chủ và canh tân đất nước. Trong thời gian hoạt động tại
Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện sự trân trọng đối với Phan Châu Trinh khi gọi
ông là “Hy Mã nghi bá đại nhơn” (bác Hy Mã đáng
kính) và
“nhà ái quốc”[vii]. Cách xưng hô này cho thấy sự đánh giá
tích cực của Nguyễn Ái Quốc đối với lòng yêu nước, nhân cách và những cống hiến
của Phan Châu Trinh đối với dân tộc. Đồng thời, Phan Bội Châu từng thừa nhận sức lan tỏa của
tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh: “Ông Phan đem hai chữ dân quyền hò hét
trong nước như một tiếng sấm vang…”[viii].
Ngoài ra, Nguyễn Sinh Sắc - thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ghi nhận
Phan Châu Trinh là “Nam Quốc Dân quyền tiên tổ chức” (người tổ chức dân quyền đầu
tiên ở nước Nam này)[ix].
Bên cạnh đó, khuynh hướng cải cách của Phan Châu Trinh phải được đặt trong giới hạn lịch sử của bối
cảnh thuộc địa nhằm xác định đúng vị trí và ý nghĩa của nó trong tiến trình
phát triển tư tưởng dân tộc. Quan điểm này cũng được phản ánh
qua một số nhận định học thuật, tiêu biểu như Hoàng Xuân Hãn khi cho rằng “những
tư tưởng của Phan Châu Trinh về cơ bản vẫn còn giá trị lớn đối với xã hội ta
ngày nay”[x]. Nhận định này cho thấy một số giá trị
tư tưởng của Phan Châu Trinh vẫn có ý nghĩa tham khảo vượt ra ngoài bối cảnh lịch
sử cụ thể. Sự ghi nhận đó không chỉ được thể hiện qua việc đặt tên
đường, trường học và các công trình công cộng mang tên Phan Châu Trinh tại nhiều
địa phương trên cả nước, mà còn được phản ánh qua các hoạt động khoa học và văn
hóa như tổ chức hội thảo về tư tưởng Phan Châu Trinh, xuất bản, tái bản các tuyển
tập tác phẩm của ông, cũng như bảo tồn và phát huy giá trị các di tích gắn với
cuộc đời, sự nghiệp của ông. Những hoạt động này cho thấy Phan Châu Trinh luôn
được nhìn nhận là một nhà yêu nước và nhà canh tân có vị trí quan trọng trong lịch
sử dân tộc. Từ những dữ kiện trên có thể khái quát rằng, trong các công trình
nghiên cứu chính thống, Phan Châu Trinh được đánh giá trên cơ sở khách quan và
toàn diện: vừa ghi nhận những đóng góp về tư tưởng và tinh thần yêu nước, vừa
xem xét chúng trong những điều kiện, giới hạn cụ thể của xã hội thuộc địa.
Tính nhất quán trong cách nhìn nhận đó còn thể hiện ở quan niệm về mối
quan hệ kế thừa giữa các khuynh hướng yêu nước đầu thế kỷ XX. Sự khác biệt về
phương thức cứu nước không đồng nghĩa với sự đối lập về mục tiêu dân tộc. Các
khuynh hướng yêu nước được nhìn nhận trong mối quan hệ kế thừa và phát triển,
cùng góp phần vào tiến trình vận động của lịch sử dân tộc hướng tới mục tiêu giải
phóng dân tộc, chứ không phải trong quan hệ phủ định lẫn nhau. Vì vậy, những
cách diễn giải cho rằng Phan Châu Trinh bị hạ thấp hoặc tồn tại sự đối lập tất
yếu giữa ông với cách mạng Việt Nam đều mang tính phiến diện, không phù hợp với
thực tiễn lịch sử.
3. Kết luận
Thực tiễn đấu
tranh và những phân tích khoa học khẳng định Phan Châu Trinh là một trí thức
yêu nước tiêu biểu, một nhà canh tân có ảnh hưởng lớn đầu thế kỷ XX. Di sản tư
tưởng của ông về “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” đã góp phần quan trọng
vào việc thức tỉnh ý thức công dân và định hình tư duy dân chủ thời cận đại; giá trị tiến bộ từ đó tiếp tục được kế
thừa, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc lợi dụng danh xưng và
tư tưởng của ông để tuyệt đối hóa con đường cải lương, từ đó phủ nhận tính tất
yếu của đấu tranh cách mạng, là những cách diễn giải xuyên tạc cần được nhận diện
và phê phán trên cơ sở khoa học. Cách tiếp cận này đã tách nhân vật khỏi điều
kiện tồn tại của xã hội thuộc địa, qua đó biến sự khác biệt về phương thức cứu
nước thành sự đối lập cực đoan về quan điểm chính trị.
Đánh giá các
nhân vật lịch sử cần dựa trên quan điểm biện chứng và lịch sử cụ thể. Điều đó
đòi hỏi phải vừa ghi nhận những đóng góp của họ đối với dân tộc, vừa phân tích
khách quan các điều kiện lịch sử quy định sự hình thành, phát triển và giới hạn
của từng khuynh hướng cứu nước. Việc phản bác các luận điệu xuyên tạc về Phan
Châu Trinh không chỉ góp phần bảo vệ sự thật lịch sử khách quan, củng cố nhận
thức đúng đắn về phong trào yêu nước Việt Nam, mà còn trực tiếp góp phần bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay. Qua đó cho thấy việc nghiên
cứu và đánh giá Phan Châu Trinh cần được đặt trong chỉnh thể lịch sử dân tộc,
tránh cả khuynh hướng tuyệt đối hóa lẫn phủ định sạch trơn những giá trị mà ông
để lại./.
NCS.ThS.Nguyễn Hạnh Quyển - Học viện Chính trị khu vực II
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương Thâu, 2007, Phan Châu Trinh: Về tác gia và tác phẩm,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
2. Đỗ Bang, 2023, “Học thuyết canh tân của Phan Châu Trinh một bước ngoặt dân chủ
trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX”, in trong kỷ yếu hội thảo khoa học Tư
tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng.
3. Lê Thị Kinh (Phan Thị Minh), 2003, Phan Châu Trinh qua những
tài liệu mới (Tập 2), Nxb Đà Nẵng.
4. Nguyễn Hồng Sơn, 2023, “Triết luận Phan Châu Trinh và ý nghĩa của nó đối với sự
nghiệp phát triển văn hóa - giáo dục hiện nay”, in trong kỷ yếu hội thảo khoa học Tư
tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng.
5. Nguyễn Quang Thắng, 2007, Phan Châu Trinh - Cuộc đời và
tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.
6. Nguyễn Văn Dương, 2006, Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb
Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
7. Nhiều tác giả, 2026, Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia
Chí sĩ Phan Châu Trinh tư tưởng, cuộc đời và sự nghiệp (Tập 1), Nxb Đại học
Quốc gia TP.HCM.
8. Tỉnh ủy Quảng Nam, 2000, Bác Hồ với đất Quảng, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[i] Đỗ Bang, (2023),
“Học
thuyết canh tân của Phan Châu Trinh một bước ngoặt dân chủ trong lịch sử tư tưởng
Việt Nam đầu thế kỷ XX”, in trong kỷ yếu hội thảo khoa học
Tư tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, tr.16.
[ii] Nguyễn Văn Dương, (2006), Tuyển tập Phan Châu Trinh,
Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.685.
[iii] Dẫn theo Nguyễn
Văn Dương, (2006),
Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà
Nội, tr.388.
[iv] Nguyễn Quang Thắng,
(2007),
Phan Châu Trinh - Cuộc đời và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.
[v] Bức thư của Phan
Châu Trinh gửi Nguyễn Ái Quốc, (1922), https://vienphanchautrinh.org/buc-thu-cua-phan-chau-trinh-gui-nguyen-ai-quoc/. truy cập ngày 18/6/2026.
[vi] Bức thư của Phan
Châu Trinh gửi Nguyễn Ái Quốc, (1922), https://vienphanchautrinh.org/buc-thu-cua-phan-chau-trinh-gui-nguyen-ai-quoc/. truy cập ngày 18/6/2026.
[vii] Tỉnh ủy Quảng
Nam, (2000),
Bác Hồ với đất Quảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[viii] Dẫn theo Nguyễn Hồng Sơn, (2023),
“Triết
luận Phan Châu Trinh và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp phát triển văn hóa -
giáo dục hiện nay”,
in trong kỷ yếu hội thảo khoa học Tư tưởng canh tân của Nhà yêu nước Phan
Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, tr.70.
[ix] Dẫn theo Nguyễn Hồng
Sơn, (2023),
“Triết luận Phan Châu Trinh và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp phát triển văn
hóa - giáo dục hiện nay”, in trong kỷ yếu hội thảo khoa học Tư tưởng canh tân của
Nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, tr.70.
[x] Chương Thâu, (2007),
Phan Châu Trinh: Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.131.
No comments:
Post a Comment